Wednesday, November 14, 2018

ĐỨC MARIA và GIÁO HỘI CÔNG GIÁO

1. Tại sao Giáo Hội Công Giáo ban cho Ðức Maria quá nhiều vinh dự trong khi người chỉ là một phụ nữ bình thường được chọn với một mục đích vĩ đại?
Trước hết, tôi phản đối điều bạn cho rằng Ðức Maria là một phụ nữ bình thường. Người là một con người, nhưng loài người có nhiều mức độ phẩm giá khác nhau. Và người không phải là một phụ nữ bình thường khi Thiên Chúa thấy xứng đáng để sai thiên thần đến với lời chúc tụng, "Kính chào cô, ngài đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng cô." Và người cũng không phải là một phụ nữ bình thường khi bà Elizabeth, được tràn đầy Thánh Thần, kêu lên rằng, "Em có phúc hơn mọi người nữ; và bởi đâu tôi được người mẹ Thiên Chúa đến thăm tôi." Nếu bất cứ người phụ nữ bình thường nào đến thăm thì bà Elizabeth đâu có những lời lẽ như vậy.
Thứ hai, chính bạn nói Ðức Maria được chọn với một mục đích vĩ đại. Ðược chọn bởi ai? Bởi Thiên Chúa. Thiên Chúa đã từng chuẩn bị một cách thích hợp cho những người mà Người muốn mời gọi họ nhận lãnh những trách nhiệm lớn lao. Ðó là trường hợp của các tiên tri, và trên tất cả, vị tiên tri cao cả nhất là Thánh Gioan Tẩy Giả. Tuy nhiên, không một tiên tri nào được gần Ðức Giêsu hơn là Ðức Maria, người đã được tiền định làm Mẹ của Người.



2. Chúng ta không tôn vinh Ðức Maria mà phải tôn vinh Thiên Chúa.
Chính Ðức Maria đã nói như vậy. Người đã ca tụng Thiên Chúa, khi nói "Ðấng quyền năng đã làm cho tôi những điều trọng đại." Người không khước từ sự kiện là những điều trọng đại đã được làm cho người mà không làm cho người khác. Và những ai được lãnh nhận món quà cao trọng của Thiên Chúa thì xứng đáng được chúng ta tôn vinh.

3. Trong Kitô Giáo vị thế của Ðức Maria là gì?
Vị thế của Ðức Maria trong Kitô Giáo rất rõ rệt. Người là ánh sao đi trước Sự Sáng Thế Gian, là Ðức Kitô. Chỉ có điều khác biệt là tất cả sự sáng của người đều do bởi Chúa Con mà người là sứ giả. Do sự tiền định từ muôn đời của Thiên Chúa, Ðức Maria có liên can đến những mầu nhiệm cao trọng nhất của Kitô Giáo, là công cụ của sự Nhập Thể của Con Thiên Chúa Vĩnh Cửu, và bởi đó, chúng ta được cứu chuộc. Chúng ta tôn kính người vì chúng ta ngưỡng mộ người, và vì người lo lắng đến sự sống đời đời của chúng ta. Dĩ nhiên, khi chúng ta tôn vinh Ðức Maria, chúng ta cũng tôn vinh Ðức Kitô trong người. Không có Ðức Kitô, người không là gì cả, và người là người đầu tiên xác nhận điều ấy. Khi chúng ta tôn vinh người, điều ấy không làm phật lòng Ðức Kitô, là người Con tuyệt hảo, và có lẽ Ðức Kitô sẽ buồn lòng nếu chúng ta lãng quên hay coi thường Ðức Maria.

4. Kinh Thánh không coi Ðức Maria là thần linh, và không có ơn sủng của Thiên Chúa, người cũng tầm thường như bất cứ phụ nữ nào.
Giáo Hội Công Giáo cấm bất cứ ai gán ghép tính cách thần linh cho Ðức Maria, dù bên trong hay bên ngoài ơn sủng của Thiên Chúa. Dù nhờ ơn sủng người có thánh thiện đến đâu chăng nữa, người vẫn là một tạo vật. Chắc chắn là Ðức Maria được những ơn sủng mà không một phụ nữ nào khác từng có hay sẽ có, và người được chức vị siêu nhiên và uy quyền vượt trên tất cả. Khi sinh hạ Ðức Kitô, người đem đến sự sống cho linh hồn tôi, và là người mẹ của tôi về phương diện siêu nhiên cũng giống như người mẹ ruột của tôi ở trần gian. Và tôi hy vọng, cho đến chết, tôi vẫn giữ được lòng sùng kính của một đứa con đối với người Mẹ Thiên Ðường. Tôi hiểu rằng, như Evà là mẹ của chúng sinh, đưa chúng ta đến sự đau khổ, sự bất hạnh và sự chết, thì Ðức Maria, một Evà thứ hai, mà Thiên Chúa đã đặt sự thù nghịch giữa người và Satan, sẽ đưa tôi đến tới hạnh phúc và sự sống trong ơn sủng Thiên Chúa.
Evà đã nghe lời Satan, bất tuân phục Thiên Chúa, cho chúng ta ăn trái của cây sự dữ, khiến chúng ta phải khốn khổ và xa rời thiên đường ơn sủng của Thiên Chúa.
Ðức Maria nghe lời thiên sứ, vâng phục, cho chúng ta ăn trái của cây sự sống, phục hồi hạnh phúc cho chúng ta và đưa chúng ta đến ơn sủng của Thiên Chúa, và người đang ngự trên Thiên Ðường với Ðức Kitô. Người là Mẹ và là Nữ Vương của tôi. Tôi ao ước người sẽ hãnh diện về tôi cũng như tôi hãnh diện về người.

5. Ông trả lời sao khi có người nói rằng tôn vinh Ðức Maria là thờ nữ thần Ishtar của người Babylon? Họ dùng sách tiên tri Giêrêmia đoạn 44 như một bằng chứng, bởi vì người Công Giáo gọi Ðức Maria là Nữ Vương Thiên Ðường.
Sự kiện một tà thần được coi là bà chúa thiên đường không có nghĩa là danh xưng này không thể áp dụng một cách đúng đắn cho Ðức Maria, trong bất cứ ý nghĩa nào nói chung. Vua Babylon, là Nebuchadnezzer, được tiên tri Daniel gọi là vua của các vua (Daniel 2:37), điều đó cũng không ngăn cản Ðức Giêsu được gọi với cùng một danh xưng như vậy (Khải Huyền 17:14; 19:16).
Vì định mệnh của mọi Kitô Hữu là cùng với Ðức Kitô cai trị như vua và nữ hoàng trên thiên đường (Eph. 2:12; KH 1:6; 5:10), và vì Ðức Maria là một Kitô Hữu trổi vượt, thì không có gì sái quấy để ban tặng cho người danh hiệu mà Ðức Kitô, Vua Các Vua, đã dành cho người khi chọn Ðức Maria làm mẹ.

6. Trong sách tiên tri Samuel đoạn 4, chúng ta thấy dân Israel đặt đức tin của họ nơi Hòm Bia Giao Ước (như người Công Giáo tin nơi Ðức Maria), thay vì tin nơi một Thiên Chúa thực và hằng sống. Ðây là lý do họ bị tiêu diệt. Nếu, như ông nói, Ðức Maria là "hòm bia tân ước," tôi không chắc đó có phải là điều mà ông hãnh diện.
Tôi ngạc nhiên khi thấy có nhiều lầm lẫn về phúc âm và giả sử sai lầm trong câu hỏi của ông. Trước hết, hãy đọc lại sách tiên tri Samuel đoạn 4. Không đâu nói rằng dân Israel "đặt niềm tin của họ" nơi hòm bia thay vì nơi Thiên Chúa. Cũng không đâu nói họ thờ hòm bia như thờ thần tượng, như ông có ý nói. Sự thực, người Israel biết rằng khi họ ra trận với hòm bia thì họ luôn luôn thắng trận. Ðó là nhờ sự bảo vệ của Thiên Chúa. Hòm bia trở thành một vũ khí cho họ.
Giáo Hội Công Giáo không dạy "thờ Ðức Maria," và người Công Giáo cũng không đặt niềm tin ở Ðức Maria thay vì tin nơi Thiên Chúa. Nói như vậy, có nghĩa ông không biết gì về giáo huấn Công Giáo.
Và ông định lấy đoạn 4 của sách tiên tri Samuel như một cách để bác bẻ lại lý luận dùng hình ảnh hòm bia giao ước mà sánh với vai trò của Ðức Maria trong lịch sử cứu chuộc. Chắc là ông không có ý định như vậy. Có phải vì dân Israel lạm dụng hòm bia mà Thiên Chúa đã ban cho họ, nên chúng ta phải đổ lỗi cho hòm bia hay phải hủy bỏ hòm bia ấy vì sự lạm dụng? Lý luận ấy thật nghèo nàn và tệ hại.
Ông có muốn áp dụng nguyên tắc ấy vào những trường hợp khác trong phúc âm không? Có lẽ không. Nói cho cùng, Thánh Gioan Tông Ðồ đã phạm tội thờ ngẫu thần khi ông quỳ và thờ một thiên thần (KH 19:9-11). Như vậy, chúng ta có nên xa lánh các thiên thần không? Chúng ta có từ chối tư cách tông đồ của Thánh Gioan không? Chúng ta có nên coi thường sách Khải Huyền vì nó được viết bởi một người tự nhận là thờ tà thần không? Dĩ nhiên là không.
Sự thực thì khi có người lạm dụng ơn sủng của Thiên Chúa thì không có lý do gì phải tẩy chay ơn sủng của Người. Nếu một người Công Giáo phạm tội thờ Ðức Maria, đó là tội của họ, chứ không phải lỗi của Ðức Maria.

7. Ðức Maria đóng vai trò gì trong sự cứu chuộc nhân loại, là điều được hoàn tất bởi một mình Ðức Kitô?
Ðức Kitô là Tác Giả chính của sự cứu chuộc, nhưng trong công trình ấy còn có sự cộng tác của nhiều người. Chúng ta thấy ngay cả Thánh Phaolô nói rằng, chúng ta phải lấp đầy những gì được mong muốn cho sự thống khổ của Ðức Kitô. Tuy nhiên, để giải thích điều này đòi hỏi cả một luận án về nhiệm thể của Ðức Kitô như bao gồm mọi phần tử của Giáo Hội, mà tôi không đủ khả năng để giải thích điều ấy ở đây. Tất cả những gì tôi có thể nói là Ðức Maria đã cộng tác trong công trình cứu chuộc một cách rất đặc biệt.
Như Ðức Giêsu là A-Dong thứ hai, thì Ðức Maria là E-Và thứ hai. Khi người Mẹ E-và đầu tiên đem chúng ta đến sự đau khổ, thì người Mẹ Maria thứ hai, khi sinh hạ Ðấng Cứu Thế, đã đem chúng ta đến sự cứu chuộc và hạnh phúc. Khi đến giai đoạn Nhập Thể, Ðức Maria đã đồng ý nhận lời Thiên Chúa, người đã đồng ý với toàn thể công trình của Ðức Kitô, từ hang Bê Lem cho đến Thánh Giá Calvariô. Máu đã đổ ra vì chúng ta cũng chính là máu của người. Khi kết hợp với Ðức Kitô, người cũng phải chịu sự đau khổ, và ông Simeon đã đúng khi được Chúa Thánh Thần linh ứng để tiên đoán về người rằng, "Một lưỡi gươm sẽ thâu qua linh hồn baø." Với, trong, và qua công trình của Ðức Kitô, sự đau khổ của Ðức Maria cũng góp phần một cách thứ yếu trong sự cứu chuộc chúng ta. Và từ Thánh Giá, người được trao cho chúng ta như một người mẹ vì công nghiệp của người. Qua Thánh Gioan, Ðức Kitô nói với tất cả chúng ta, "Này con, đây là Mẹ con." Do đó, người Công Giáo coi Ðức Maria như người Mẹ tinh thần, và làm đẹp lòng người qua sự kính yêu của con cái. Nhất là, mọi phụ nữ Công Giáo phải coi Ðức Maria, Mẹ Ðức Kitô, như một vinh dự cho phái nữ.

8. Có phải học thuyết Vô Nhiễm Nguyên Tội được Giáo Hội Công Giáo coi như một tín điều?
Phải. Nếu bạn muốn bài bác điều ấy, bạn phải bài bác đặc tính không thể sai lầm (bất khả ngộ) của Giáo Hội Công Giáo.

9. Tại sao Giáo Hội Công Giáo lại xác định như vậy?
Vì thật chính đáng để nói lên chân lý về Ðức Maria như đã được đề cập đến trong những điều Thiên Chúa mặc khải. Chân lý đó là Ðức Maria đã được miễn trừ khỏi dấu vết tội tổ tông truyền.

10. Ở thời điểm nào mà Giáo Hội Công Giáo chấp nhận ý tưởng Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ Ðức Giêsu?
Tôi nghĩ là bạn đã lầm lẫn hai học thuyết khác nhau. Vô Nhiễm Nguyên Tội là danh xưng để chỉ về sự thụ thai của Ðức Maria bởi cha mẹ người, là bà Anna và ông Gioankim. Khi bắt đầu thụ thai, linh hồn Ðức Maria được gìn giữ cách tinh khiết, khỏi bị ảnh hưởng bởi tội tổ tông. Nhưng khi chính Ðức Maria thụ thai Ðức Giêsu, đó là bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần, và không qua sự liên hệ nào với người nam. Ðây có thể gọi là sự thụ thai lạ lùng của Hài Nhi Giêsu. Thông thường người ta đề cập đến điều này là Sinh Hạ Ðồng Trinh (Virgin Birth), vì nó có nghĩa Ðức Maria vẫn còn trinh khiết sau khi sinh hạ Ðức Giêsu. Cả hai học thuyết về Ðức Giêsu được sinh hạ bởi một trinh nữ, và trinh nữ ấy được vẹn tuyền không mắc tội tổ tông đều được đề cập đến trong Phúc Âm. Nhưng học thuyết thứ hai không được rõ ràng ghi lại như học thuyết thứ nhất. Ngay từ đầu, Giáo Hội Công Giáo đã dạy rằng Ðức Giêsu được sinh ra bởi người Mẹ đồng trinh. Bởi đó trong kinh Tin Kính, chúng tôi tuyên xưng, "sinh bởi Trinh Nữ Maria". Học thuyết Vô Nhiễm Nguyên Tội cũng là phần mặc khải Kitô Giáo được Giáo Hội Công Giáo xác nhận vào năm 1854. Giáo Hội không sáng chế ra học thuyết đó. Giáo Hội chỉ xác định điều đã được dạy bảo trong Tân Ước.

11. Tại sao ông nói Ðức Maria là trinh nữ khi Phúc Âm có đề cập đến anh em của Ðức Giêsu?
Câu "anh em của Ðức Giêsu" không có nghĩa là Ðức Maria có những người con khác ngoài Ðức Giêsu. Trong tiếng Aramaic, là tiếng được dùng vào thời ấy, không có chữ riêng để chỉ người bà con. Và người Do Thái dùng chữ "Achim" để chỉ về bất cứ người bà con nào thuộc bàng hệ, mà không có ý nghĩa liên hệ máu mủ bậc nhất (trực hệ). Những thế hệ con cháu của cùng một dòng tộc đều được gọi là "Achim" (anh em).
Gia-cô-bê được gọi là anh em của Ðức Giêsu. Tuy nhiên chúng ta biết ông là con của Alphaeus, và chắc chắc Ðức Maria không phải là vợ của ông Alphaeus. Gia-cô-bê cũng là anh em máu mủ với Giu-đa. Và Giu-đa mở đầu thư của người với câu, "Giu-đa, tôi tớ Ðức Kitô Giêsu, và là anh em với Gia-cô-beâ." Ở đây người dùng chữ anh em với nghĩa hẹp, và người biết rằng không thể dùng nghĩa đó để coi người là anh em với Ðức Kitô Giêsu. Tuy nhiên, theo nghĩa rộng, Giu-đa cũng thuộc về những người bà con với Ðức Kitô, như chúng ta biết theo Mátthêu 13:55, là đoạn Phúc Âm nói về "Anh em của Ðức Giêsu là Gia-cô-bê, Giuse, Si-mon và Giu-đa."

12. Tôi nghĩ chữ anh chị em chỉ về con của ông Giuse và bà Maria sau khi sinh hạ Ðức Giêsu. Không có lý do gì để nghĩ khác đi.
Có nhiều lý do để nghĩ khác. Trước hết, trong Phúc Âm những người được gọi là anh em của Ðức Giêsu là những người lớn tuổi hơn Người, vì họ chỉ trích và răn bảo Người mà chỉ những người lớn tuổi hơn mới được làm như thế, và họ ghen tương vì sự nổi tiếng của Người.
Thứ hai, khi sứ thần nói với Ðức Maria là người sẽ là Mẹ Ðấng Thiên Sai, người trả lời, "Làm sao có thể được, vì tôi không biết đến người nam." Thiên Chúa toàn năng đã chuẩn bị một cách lạ lùng để người được làm Mẹ mà không phải hy sinh sự trinh khiết. Không vì lý do gì người lại hy sinh sự trinh khiết ấy để sinh con sau này mà lại không muốn sinh Con Thiên Chúa.
Thứ ba, trong Phúc Âm chỉ một mình Ðức Giêsu được gọi là Con bà Maria; và không có lần nào người được gọi là mẹ của anh em Ðức Giêsu.
Thứ tư, chỉ có bốn người anh em được nhắc đến tên là Gia-cô-bê và Giuse, Simon và Giu-đa. Phúc Âm Thánh Gioan cho chúng ta biết khi dưới chân Thánh Giá gồm có Mẹ Người, và chị của Mẹ Người là bà Maria Cleophas. Và về sau, bà này được Thánh Mátthêu coi là mẹ của Gia-cô-bê và Giuse.
Một lần nữa, nếu bạn đọc thư của Thánh Giu-đa bạn sẽ thấy người viết, "Giu-đa, tôi tớ của Ðức Kitô Giêsu, và anh em của Gia-cô-bê." Tại sao người lại phải phân biệt như vậy? Sau cùng, nếu Gia-cô-bê và Giuse, Simon và Giu-đa là các con chính thức của Ðức Maria, và nếu còn có những anh chị em khác của Ðức Giêsu như bạn nghĩ, thì tại sao Ðức Giêsu lại trao Mẹ Người cho Thánh Gioan chăm sóc sau khi Người chết, để rồi Gioan coi Ðức Maria như mẹ của mình? Ðiều ấy không cần thiết nếu Ðức Maria có các con khác để chăm sóc người.


13. Ðức Maria thề giữ mình đồng trinh từ khi còn nhỏ, hay bà "đã hứa hôn với người đàn ông tên là Giuse" với ý định kết hôn cách bình thường, cho đến khi Sứ Thần Gabriel đến thì bà mới thay đổi ý định?
Theo sự dẫn giải của các thần học gia Công Giáo, Ðức Maria, dưới sự linh ứng của Thiên Chúa, đã quyết định giữ mình trọn đời đồng trinh, và cũng với sự linh ứng của Thiên Chúa, người đồng ý kết hôn với Thánh Giuse, cả hai đều đồng ý thề hứa không đòi hỏi nơi nhau những quyền lợi thông thường của sự tương giao vợ chồng. Trong mục đích của Thiên Chúa, hôn nhân này là để bảo vệ Mẹ và Con, mục đích này được Ðức Maria thấy rõ hơn khi Sứ Thần Gabriel, như Thánh Luca kể, "xuất hiện với một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse." Khi sứ thần cho biết người sẽ sinh một con trai, và vì ý thức rằng người đã quyết định giữ mình đồng trinh nên người trả lời, "Làm sao việc ấy xảy ra được, vì tôi không biết đến người nam." Như Thánh Augustin có nói, Ðức Maria sẽ không nói câu này nếu người không quyết định giữ mình đồng trinh, mặc dù có đính hôn với Thánh Giuse.

14. Ông tin rằng Ðức Maria đã lên Thiên Ðường, và được phần thưởng vinh hiển ở giữa các Thánh?
Giáo huấn Công Giáo không nói Ðức Maria lên Thiên Ðường. Ðức Kitô, bởi chính quyền năng Thiên Chúa của Người, đã lên Thiên Ðường. Ðức Maria được đưa lên Thiên Ðường, linh hồn và xác, sau khi người chết. Do đó, người Công Giáo chúng tôi tin vào sự Thăng Thiên của Ðức Trinh Nữ Maria. Và chúng tôi muốn nói về vinh dự xứng hợp mà Thiên Chúa đã tiếp đón người với triều thiên vinh hiển.

15. Kinh Thánh không đề cập gì đến điều này.
Không cần thiết phải được đề cập đến. Chúng ta biết Ðức Kitô là Vua các vua, và là Chúa các chúa. Chúng ta biết Mẹ Người đang ở trên Thiên Ðường, và Mẹ Vua đang hân hoan trong chức vị của một hoàng hậu. Chắc chắn Ðức Maria có sự liên hệ mật thiết với Ðức Giêsu hơn bất cứ người nào khác, và vì thế, nếu Ðức Kitô ban triều thiên vinh hiển cho các Thánh thì Người phải ban vinh dự cao cả nhất cho Mẹ Người.

16. Tư cách gì để đưa ra học thuyết này?
Trước hết, dĩ nhiên, là quyền giáo huấn được thừa hưởng từ Ðức Kitô. Giáo Hội Công Giáo được trao cho nhiệm vụ giảng dạy mọi dân tộc với quyền bính của Người và dưới sự bảo vệ của Người. Khi Giáo Hội dạy rằng Ðức Trinh Nữ Maria Lên Trời thì điều ấy đủ để đảm bảo cho sự kiện này. Nhưng ngoài quyền bính của Giáo Hội, những lý lẽ nào hỗ trợ cho giáo huấn ấy? Trong Kinh Thánh không trực tiếp đề cập đến. Nhưng điều đó đã có trong truyền thống của Kitô Giáo ngay từ thuở ban đầu, và, như Mozley của Anh Giáo đã nói, "Sức thuyết phục của dữ kiện không chỉ phát sinh bởi lòng tin; lòng tin chỉ được coi là giá trị bởi những dữ kiện nguyên thủy." Về phương diện thần học, sự hư nát của thân xác là hậu quả của tội nguyên tổ. Nhưng Ðức Maria đã được gìn giữ khỏi sự hư hỏng của tội nguyên tổ, và thật thích đáng để người không bị hư nát ở trong mồ. Giáo Hội Chính Thống Giáo Ðông Phương đồng ý với Giáo Hội Công Giáo về học thuyết này. Giáo Hội Anh Giáo cũng đang trở về học thuyết ấy. Tôi vừa mới đọc một đoạn trong sách của Anh Giáo về vấn đề này, trong đó tác giả viết:
"Dường như đó là điều cẩu thả để khước từ sự kiện hồn xác Lên Trời, vì bất kể đến tính cách dễ tin thông thường trong vấn đề thánh tích, không một Giáo Hội (hay thành phố nào) cho rằng đang nắm giữ được di hài của Ðức Maria. Tại sao lại không? Ðó là một sự kiện cần được giải thích. Di hài của Ðức Maria sẽ có giá trị lớn cho người Kitô hơn bất cứ ai khác. Ðừng xúi giục người Tin Lành bác bỏ lễ Ðức Bà Thăng Thiên. Họ đã bác bỏ nhiều điều lẽ ra không nên đụng tới. Nhiều cố gắng của họ đã không thành công. Chúng ta hy vọng sẽ có một ngày nào đó, các giới thẩm quyền của tổ chức chúng ta sẽ đền bù những mất mát mà vì chểnh mảng đã bị kéo dài."
Tôi trích dẫn câu trên để cho thấy khuynh hướng của Anh Giáo, và cũng vì dữ kiện lịch sử là, trong khi thân xác của Thánh Phêrô được cung kính ở Rôma, thì không có một thành phố nào cho rằng đang chiếm giữ được thân xác của Ðức Maria. Lý do hiển nhiên là vì Ðức Maria đã lên trời, cả hồn và xác.
-----------------------------
Source: nguoitinhuu.com

Monday, September 3, 2018

NHỮNG KHÁC BIỆT CĂN BẢN GIỮA CÔNG GIÁO, CHÍNH THỐNG GIÁO VÀ TIN LÀNH.



Trong bài trước cha đã nói  đến các Đạo cùng tôn thờ Thiên Chúa nhưng khác nhau về nhiều mặt thần học, tín lý, giáo lý, bí tích,  phụng vụ .v.v Xin cha nói rõ hơn về những khác biệt này giữa Công Giáo, Chính Thống và Tin Lành.

Trả lời:
Như đã giải thích trong bài trước, cả ba Nhánh Kitô Giáo trên đây, từ đầu,  đều thuộc Đạo Thánh của Chúa Kitô gọi chung là KitôGiáo (Christianity). Nhưng theo dòng thời gian,  đã có những biến cố gây ra tình trạng rạn nứt hay ly giáo (schisms) hoặc những cải cách (reformations) đáng tiếc xảy ra  khiến KitôGiáo bị phân chia thành 3 Nhánh chính trên đây. Ngoài ra, còn một nhánh Kitô Giáo nữa là Anh Giáo ( Anglican Communion) do vua Henri VIII (1491-1547) của nước Anh chủ xướng năm 1534 để lập một Giáo Hội riêng cho Nước Anh, tách khỏi Rôma chỉ vì Tòa Thánh La Mã ( Đức Giáo Hoàng Clement VII) không chấp nhận cho nhà vua ly di để lấy vợ khác.

Cho đến nay, các nhóm ly khai trên vẫn chưa hiệp thông được với Giáo Hội Công Giáo vì còn nhiều trở ngại chưa vượt qua được.. Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng giới hạn trong câu hỏi được đặt ra, tôi chỉ xin nên sau đây những dị biệt căn bản giữa ba Nhánh Kitô Gíáo lớn trên đây mà thôi.


 I- Chính Thống  (orthodoxy) khác biệt với Công Gíáo La Mã ( Roman Catholicism) ra sao?

Trước hết, danh xưng Chính Thống "Orthodoxy", theo ngữ căn (etymology) Hy lạp " orthos doxa", có nghĩa là  "ca ngợi đúng (right-praise), "tin tưởng đúng " ( right belief) . Danh xưng này được dùng trước tiên để chỉ lập trường của các giáo đoàn Kitô đã tham dự các Công Đồng đại kết (Ecumenical Councils) Nicêa I (325) Ephêsô (431) và nhất là Chalcedon (451) trong đó họ đã đồng thanh chấp thuận và đề cao những giáo lý được coi là chân chính( sound doctrines) , tinh tuyền của KitôGíáo để chống lại những gì bị coi là tà thuyết hay lạc giáo (heresy).Do đó,trong bối cảnh này, từ ngữ  "orthodoxy" được dùng để đối nghịch với từ ngữ " heresy" có nghĩa là tà thuyết hay lạc giáo.

Nhưng  sau biến cố năm 1054 khi hai Giáo Hội  Kitô Giáo Hy Lạp ở Constantinople ( tượng trưng cho Đông Phương) và Giáo Hội Công Giáo LaMã ( Tây Phương) đã xung đột và ra vạ tuyệt thông cho nhau ( anthemas=excommunications) ngày 16 tháng 7 năm 1054  giữa Michael Cerularius, Thượng Phụ Constantinople và Đức cố Giáo Hoàng Leo IX vì có những bất đồng lớn về tín lý, thần học và quyền bính, thì danh xưng "Chính Thống" ( orthodoxy) lại được dùng để chỉ Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople đã tách ra khỏi  hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo La Mã. Sau này, Giáo Hội "Chính Thống" Hy Lạp ở Constantinople đã lan ra các quốc gia trong vùng như Thổ nhĩ Kỳ, Nga, Albania, Estonia, Cyprus, Finland, Latvia, Lithuania, Rumania, Bulgaria, Serbia, Ukraine...Vì thế, ở mỗi quốc gia này cũng có Giáo Hội Chính Thống nhưng độc lập với nhau về mọi phương diện.Nghĩa là không có ai là  người lãnh đạo chung của các Giáo Hội này, mặc dù họ có tên gọi chung là các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) tách khỏi khỏi Giáo Hội Công Giáo La Mã.(Tây Phương)

Tuy nhiên, hiện nay Thượng Phụ ( Patriarch) Giáo Hội Chính Thống Thổ Nhĩ Kỳ ở Istanbul  được coi là Thượng Phụ Đại Kết ( Ecumenical Patriarch) của các Giáo Hội Chính thông Đông Phương.Cách nay 6 năm Đức Thánh Cha Bê-nê-đich tô 16 ( đã về hưu năm 2012) đã sang thăm Đức Thượng phụ Giáo Chủ Chính Thống Thổ để tỏ thiện chí muốn đối thoại, đưa đến hiệp thông giữa hai Giáo Hội anh  em. Riêng Giáo Hội Chính Thống Nga, cho đến nay, vẫn chưa tỏ thiện chí muốn xích gần lại với Giáo Hội Công Giáo La Mã, vì họ cho rằng Công Giáo muốn "lôi kéo" tín đồ Chính Thống Nga vào Công Giáo sau khi chế độ cộng sản ở Nga tan rã, tạo điều kiện thuận lợi cho Giáo Hội Chính Thông Nga hành Đạo. Dầu vậy, một biến cố mới xẩy ra trong năm qua (2016) là Đức Thánh Cha Phanxicô đã gặp Thượng Phụ Giáo Hội Chính Thông Nga tại Mexico, nhưng kết quả của cuộc gặp gỡ lịch sử này giữa hai vi lãnh đạo Công Giáo và Chính Thống Nga không được công bố sau đó.Nhưng đây là một dấu chỉ tích cực giữa hai Giáo Hội anh  em.

Trước khi xẩy ra cuộc ly giáo năm 1054, hai Nhánh Kitô giáo lớn ở Đông và Tây phương( The Greek Church and the Holy See=Rome)  nói trên vẫn hiệp thông trọn vẹn với nhau về mọi phương diện vì cả hai Giáo Hội anh em này đều là kết quả truyền giáo ban đầu của các Thánh Tông Đồ Phêrô và Anrê. Lịch sử truyền giáo cho biết là Thánh Phêrô đã rao giảng Tin mừng ở vùng  đất nay là lãnh địa của Giáo Hội Công Giáo La Mã (Roma) trong khi em ngài, Thánh Anrê (Andrew) sang phía Đông để rao giảng trước hết ở Hy lạp và sau đó phần đất nay là Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey). Như thế, cả hai Giáo Hội KitôGiáo Đông Phương Constantinople và Tây Phương Rôma đều có nguồn gốc Tông đồ thuần túy ( Apostolic succession).

Sau đây là những điểm gây bất đồng khiến đi đến ly giáo (schism) Đông Tây
1- Về tín lý, Giáo Hội Chính Thống Đông Phương- tiêu biểu ban đầu là  Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople- đã bất đồng với Giáo Hội Công Giáo La Mã về từ ngữ “ Filioque” ( và Con) thêm vào trong Kinh Tin Kính Nicêa tuyên xưng “Chúa Thánh Thần bởi  Chúa Cha, và Chúa Con mà ra”.

Giáo Hội Chính Thông Đông Phương cũng không công nhận các tín điều về  Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai (Immaculate Conception) và Lên Trời cả hồn xác (Assumption) mặc dù họ vẫn tôn kính Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa (Theotokos). Sở dĩ thế, vì họ không công nhận vai trò lãnh đạo Giáo Hội của Đức Giáo Hoàng, nên đã bác bỏ mọi tín điều được các Đức Giáo Hoàng công bố  với ơn bất khả ngộ (Infallibility) mà Công Đồng Vaticanô I (1870) đã nhìn nhận.

Chính vì họ không công nhận quyền và vai trò lãnh đạo Giáo Hội hoàn vũ của Đức Giáo Hoàng Rôma, nên đây là trở ngại lớn nhất cho sự hiệp nhất (unity) giữa hai Giáo Hội Chính Thống và Công Giáo cho đến nay, mặc dù hai bên đã tha vạ tuyệt thông cho nhau sau cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đức Thánh Cha Phaolô VI và Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Constantinople khi đó là Athenagoras I năm 1966.

Giáo Hội Chính Thống có đủ bảy bí tích hữu hiệu như Công Giáo. Tuy nhiên, với bí tích rửa tội  thì họ dùng nghi thức dìm xuống nước (immersion) 3 lần để nhấn mạnh ý nghĩa tái sinh vào đời sống mới, trong khi Giáo Hội Công Giáo chỉ dùng nước đổ trên đầu hay trán của người được rửa tội để vừa chỉ sự tẩy sạch tội nguyên tổ và các tội cá nhân ( đối với người tân tòng) và tái sinh vào sự sống mới, mặc lấy Chúa Kitô.

Chính vì Giáo Hội Chính Thống có đủ các bí tích hữu hiệu như Công Giáo, nên giáo dân Công Giáo được phép tham dự Thánh lễ và lãnh các bí tích hòa giải và sức dầu của Chính Thống nếu không tìm được nhà thờ Công Giáo hay linh mục Công giáo khi cần..

  
2- Về phụng vụ, Giáo Hội Chính Thống dùng bánh có men (leavened bread) và ngôn ngữ Hy lạp  khi cử hành phung vụ trong khi Giáo Hội Công Giáo dùng bánh không men (unleavened bread) và tiếng Latinh trong phụng vụ thánh trước Công Đồng Vaticanô II, và nay là các ngôn ngữ của mọi tín hữu thuộc  mọi nền văn hóa, chủng tộc khác nhau, trong đó có tiếng Viêt Nam.

  
3- Sau hết, về mặt kỷ luật giáo sĩ:  các Giáo Hội Chính Thông cho phép các phó tế và linh muc được kết hôn trừ Giám mục, trong khi kỷ luật độc thân (celibacy) lại  được áp dụng cho mọi cấp bậc trong hàng giáo sĩ và tu sĩ Công Giáo, trừ phó tế vĩnh viễn (permanent deacons).
Đó là những khác biệt căn bản giữa Giáo Hội Chính Thống Đông Phương và Giáo Hội Công Giáo La Mã ch đến nay.
Tuy nhiên, dù có những khác biệt và khó khăn trên đây, Giáo hội Công Giáo và Giáo Hội Chính Thống Đông Phương đều rất gần nhau về nguồn gốc tông đồ và về nền tảng đức tin, giáo lý, bí tích và Kinh thánh. Vì thế,  giáo lý của Giáo Hội Công Giáo đã dạy rằng: “Đối với các Giáo Hội Chính thống, sự hiệp thông này sâu xa đến nỗi “chỉ còn thiếu một chút là đạt được mức đầy đủ để có thể cho phép cử hành chung phép Thánh Thể của Chúa Kitô” (x.SGLGHCG, số 838).

Vì Chính Thống Giáo có đủ bảy bí tích hữu hiệu, nên giáo dân Công Giáo được phép tham dự Thánh Lễ và lãnh các bí tích hòa giải và sức dầu ở  nhà thờ và các linh mục Chính Thống, nếu không tìm được nhà thờ và linh mục Công Giáo nơi mình cư ngụ.

  
II- Tin lành ( Protestantism) và những khác biệt với Công Giáo.

Như đã nói trong bài trước, Tin lành, nói chung, là Nhánh KitôGíáo đã tách ra khỏi Giáo Hội Công Giáo sau những cuộc cải cách tôn giáo do Martin Luther, một linh mục Dòng thánh Augustinô, chủ xướng vào năm 1517 tại Đức và lan sang Pháp với John Calvin và Thụy sỹ với Ulrich Zwingli  và các nước Bắc Âu sau đó.Hiện nay có hàng chục ngàn giáo phái này ở Mỹ, hoạt động với nhiều danh xưng khác nhau, nhưng cùng ít nhiều có liên hệ đến nguồn gốc thệ phản ( protestantism)nói trên. Một đặc điểm của các giáo phải Tin Lành là họ không có hệ thống giáo quyền ( Hierachy) chung như Giáo Hội Công Giáo có hàng giáo phẩm tối cao từ trung ương Roma cho đến các giáo hội địa phương ở mỗi quốc gia.Các nhánh Tin Lành hầu như độc lập với nhau về quyền bính, nhân sự, tài chính  và phương thức hành đạo.

  
1- Ở góc độ thần học,

Những người chủ trương cải cách (reformations) trên đã hoàn toàn bác bỏ mọi nền tảng thần học về bí tích và cơ cấu tổ chức giáo quyền (Hierachy) của Giáo Hội Công Giáo. Họ chống lại vai trò trung gian của Giáo Hội trong việc hòa giải con người với Thiên Chúa qua bí tích tha tội hay hòa giải (reconciliation) vì họ không nhìn nhận bí tích truyền chức thánh (Holy Orders) qua đó Giám mục, Linh mục được truyền chức thánh và có quyền tha tội nhân danh Chúa Kitô (in persona Christi) cũng như thi hành mọi sứ vụ (ministry) thiêng liêng khác. (rửa tội, thêm sức, thánh thể,  Xức dầu thánh, chứng hôn).

Điểm căn bản trong nền thần học của Tin Lành là con người đã bị tội tổ tông phá hủy mọi khả năng hành thiện rồi (làm việc lành), nên mọi nỗ lực cá nhân để được cứu rỗi đều vô ích và vô giá trị. Do đó, chỉ cần tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô dựa trên Kinh Thánh là được cứu rỗi mà thôi. (Sola fide, sola scriptura).

Ngược lại, Giáo Hội Công Giáo tin rằng con người vẫn có trách nhiệm cộng tác với ơn Chúa để được cứu rỗi. Nói khác đi, muốn được cứu độ, con người phải cậy nhờ trước hết vào lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, nhưng cũng phải có thiện chí công tác với ơn thánh để sống và thực thi những cam kết khi được rửa tội. Nếu không, Chúa không thể cứu ai được như Chúa Giêsu đã nói rõ:

không phải bất cứ ai thưa với Thầy: lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ có ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi.” (Mt 7:21).

Nói khác đi, không phải rửa tội xong, rồi cứ hát Alleluia và kêu danh Chúa Kitô là được cứu độ. Điều quan trong hơn nữa là phải sống theo đường lối của Chúa, nghĩa là thực thi những cam kết khi được rửa tội: đó là mến Chúa, yêu người và xa lánh tội lỗi. Nếu không, rửa tội và kêu danh Chúa thôi sẽ ra vô ích.

Anh em tin lành không chia sẻ quan điển thần học này, nên họ chỉ chú trọng vào việc đọc và giảng Kinh Thánh nhưng không nhấn mạnh đến phần đóng góp của con người như Chúa Giêsu đòi hỏi trên đây. Ngoài phép rửa và Kinh Thánh, họ không tin và công nhận một bí tích nào khác.Điển hình

Là bí tích hòa giải mà các giám mục và linh mục Công Giáo được phép tha tội cho các hối nhân nhân danh Chúa Kito ( in persona Christi).

Lại nữa, vì không công nhận phép Thánh Thể, nên họ không tin Chúa Giêsu thực sự hiện diện trong hình  bánh và rượu, mặc dù một số Giáo phái Tin lành có nghi thức bẻ bánh và uống rượu nho khi họ tụ họp để nghe giảng kinh thánh., Nhưng đó không phải là cử hành Bí Tích Thánh Thể ( Eucharist) như trong Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo Đông Phương.. Sứ vụ quan trọng của họ chỉ là giảng kinh thánh  vì họ chỉ tin có Kinh Thánh ( Sola Scriptura) mà thôi.
2-  Nhưng Kinh Thánh được cắt nghĩa theo cách hiểu riêng của họ, nên có rất nhiều mâu thuẫn hay trái ngược với cách hiểu và cắt nghĩa của Giáo Hội Công Giáo.

Thí dụ, câu Phúc Âm trong Matthêu 22 : 8-9 trong đó Chúa Giêsu dạy các tông đồ “ không được gọi  Ai dưới đất là Cha, là Thầy .”. anh  em Tin Lành  hiểu lời Chúa trong ngữ cảnh (context)  câu trên hoàn toàn theo nghĩa đen (literal meaning) nên đã chỉ trích Giáo Hội Công giáo là ‘lạc giáo=heretical” vì đã cho gọi Linh mục là “ Cha” (Father, Père, Padre)!.

Thật ra, Giáo Hội cho phép gọi như vậy, vì căn cứ vào giáo lý của Thánh Phaolô, và dựa vào giáo lý này,  Công Đồng Vaticanô II trong Hiến Chế Tín lý Lumen Gentium đã dạy rằng; “ Linh mục phải chăm sóc giáo dân như những người cha trong Chúa Kitô  vì đã sinh ra họ cách thiêng liêng nhờ phép rửa và giáo huấn.” (1 Cor 4: 15; LG. số 28).
Một điểm sai lầm nữa trong cách đọc và hiểu kinh thánh của Tin lành là câu Phúc Âm Thánh Marcô kể lại một ngày kia Chúa Giêsu đang giảng dạy cho một đám đông người thì Đức Mẹ cà các môn đệ của Chúa đến. Có người trong đám đông đã nói với Chúa rằng: “Thưa Thầy có mẹ và anh em, chị em của Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy.” (Mc 3:32). Anh em tin lành đã căn cứ vào câu này để phủ nhận niềm tin Đức Mẹ trọn đời đồng trinh của Công Giáo và Chính thống, vì họ cho rằng  Mẹ Maria đã sinh thêm con cái sau khi sinh Chúa Giêsu. Nghĩa là họ chỉ tin Đức Mẹ đồng trinh cho đến khi sinh Chúa Giêsu mà thôi. Thật ra cụm từ “anh chị em “trong ngữ cảnh (context) trên đây chỉ là anh chị em theo nghĩa thiêng liêng (spiritual brotherhood, sisterhood)  và đây là cách hiểu và giải thích Kinh Thánh của Công Giáo và Chính Thống, khác với Tin lành.

Sau hết, về mặt quyền  bình, các giáo phái Tin lành đều không công nhận Đức Giáo Hoàng là Đại Diện (Vicar) duy nhất của Chúa Kitô trong sứ mạng chăn dắt đoàn chiên của Người trên trần thế.

Chính vì không công nhận Đức Giáo Hoàng là Thủ Lãnh Giáo Hội duy nhất của Chúa Kito nên đây là trở ngại lớn cho các nhánh Tin Lành muốn hiệp nhất với Giáo Hội Công Giáo.

  
3- Về bí tích:

Tất cả các nhóm Tin Lành và Anh Giáo đều không có các bí tích quan trọng như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải, Xức Dầu bệnh nhân và Truyền Chức Thánh vì họ không có nguồn gốc Tông Đồ (Apostolic succession)-  và quan trọng hơn nữa, người sáng lập của họ là người thường (Martin Luther, John Calvin.. Henry XIII) chứ không phải là chính Chúa Giêsu-Kitô, Đấng đã lập Giáo Hội của Chúa trên Đá Tảng Phêrô. (Mt 16: 18-19)  và  Giáo Hội này tồn tại trong Giáo Hội Công Giáo do Đấng kế vị Phê rô và các Giám mục hiệp thông với Ngài điều khiển” như Thánh Công Đồng Vaticanô II đã nhìn nhận. ( x. LG. số 8). Cho nên các nhánh Tin Lành và Anh giáo  đều không có chức linh mục và giám mục hữu hiệu để cử hành các bí tích trên.

Đa số các nhóm Tin Lành và Anh Giáo  chỉ có phép rửa ( Baptism) mà thôi. Nhưng nếu nhóm nào không rửa tội với nước và công thức Chúa Ba Ngôi (The Trinitarian Formula) như nhóm Bahai Hullah,  thì không thành sự ( invalidly) . Do đó, khi gia nhập Giáo Hội Công Giáo, tín hữu Tin Lành nào không được rửa tội với nước và công thức trên thì phải được rửa tội lại như người dự  tòng.(catechumens). Nếu họ được rửa tội thành sự thì chỉ phải tuyên xưng đức tin khi gia nhập Công Giáo mà thôi.

Đó là những khác biệt căn bản giữa Công Giáo và Tin Lành nói chung. Tuy nhiên, Giáo Hội Công Giáo vẫn hướng về các anh em ly khai này và mong ước đạt được sự hiệp nhất với họ qua nỗ lực đại kết (ecumenism) mà Giáo hội đã theo đuổi và cầu nguyện  trong nhiều năm qua.

Chúng ta tiếp tục cầu xin cho mục đích hiệp nhất này giữa những người có chung niềm tin vào Chúa Kitô nhưng đang không hiệp thông (communion) và hiệp nhất ( unity) với Giáo Hội Công Giáo, là Giáo Hội duy nhất Chúa Giêsu đã thiết lập trên nền tảng  Tông đồ Phêrô, do Đức Thánh Cha, cũng là Giám Mục Roma coi sóc và lãnh đạo với sự cộng tác và vâng phục trọn vẹn của Giám Mục Đoàn. (College of Bishops).

Ươc mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.

  
Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Wednesday, November 1, 2017

Phụng vụ dành ngày 2 tháng 11 để kính các linh hồn. Nguồn gốc lễ này bắt đầu từ đâu? Nó có giống với lễ Vu lan trong Phật giáo không? 

Như chị đã biết, lễ Vu lan được cử hành vào ngày rằm tháng 7 âm lịch, còn gọi là Tết Trung nguyên. Có lẽ lễ này không bắt nguồn từ Phật giáo, nhưng từ phong tục dân gian. Dù sao, trọng tâm của niềm tin ngày rằm tháng bảy âm lịch là “xá tội vong nhân”: vào ngày này, các tội nhân dưới âm phủ được giải thoát. Thân nhân những người mới qua đời tổ chức lễ cầu siêu. Nguồn gốc của lễ các linh hồn bên Công giáo thì khác, với nhiều giai đoạn tiến triển khác nhau. Ta có thể lấy một mốc điểm lịch sử là ngày 2 tháng 11 năm 998, để từ đó theo dõi sự tiến triển khi đi ngược hay đi xuôi. 

Thursday, September 21, 2017

Tại Sao Lại Gọi Là "Dòng Ba"?

Tại Việt Nam, có nhiều hội viên Dòng Ba Đaminh, Dòng Ba Phanxicô, Dòng Ba Carmêlô. Tại sao gọi là Dòng Ba?


Từ “Dòng Ba” giả thiết “Dòng Nhì” và “Dòng Nhất”. Cho đến thời gian gần đây, người ta cho rằng từ này xuất hiện thời Trung cổ, cách riêng với Thánh Phanxicô Assisi. Ngày nay, các sử gia cho rằng nó đã được sử dụng ít là ba thế kỷ trước Thánh Phanxicô. Thiết tưởng nên lưu ý về danh từ Ordo trong tiếng La-tinh (tương đương với Ordre tiếng Pháp, Order tiếng Anh). Ordo tự nó không phải là một Dòng Tu, nhưng chỉ có nghĩa là một đoàn ngũ, chẳng hạn như ngày nay bên Pháp, từ Ordre vẫn còn dùng cho đoàn ngũ các y sĩ, luật sư, ký giả. Trong Giáo hội thời cổ, chúng ta thấy bên cạnh đoàn ngũ các giám mục, linh mục, trợ tá (ordo episcoporum, presbyterorum, diaconorum), còn có đoàn ngũ các trinh nữ (ordo virginum), đoàn ngũ các góa phụ (ordo viduarum). Sang thời Trung cổ, từ thế kỷ X, người ta thấy vài tác phẩm nói đến ba hàng ngũ (đẳng trật) trong Giáo hội, đó là: hàng giáo sĩ, hàng đan sĩ, và hàng giáo dân. Các giáo dân được xếp vào hàng ngũ thứ ba, tertius ordo, sau các giáo sĩ và các tu sĩ. Với Thánh Phanxicô Assisi, người ta sử dụng một lối phân hạng khác: dòng nhất là các nam tu sĩ, dòng nhì là các nữ tu Clara, Dòng Ba là các giáo dân sống ngoài đời. Từ đó, Dòng Ba được hiểu là các giáo dân sống ngoài đời, nhưng muốn nên trọn lành qua việc khấn hứa giữ một bản tu luật.

Như vậy là Thánh Phanxicô là người đầu tiên lập ra Dòng Ba phải không?
Trước đây (nghĩa là cho đến giữa thế kỷ XX), câu trả lời là: đúng thế! Nhưng kể từ thập niên 60 của thế kỷ vừa rồi, những cuộc nghiên cứu lịch sử Dòng Tu thời Trung cổ đã lật ngược câu trả lời. Vì thế ngày nay, các sách lịch sử về các Dòng Ba phải được viết lại. Thực ra, ngay từ thế kỷ VIII, đã có nhiều giáo dân muốn chia sẻ nếp sống tu trì của các đan sĩ Biển đức dưới nhiều dạng thức (tựa như các bõ ngãi hay các cư sĩ ở Việt Nam). Họ xin đến trọ tại các đan viện, tình nguyện làm công không lấy lương, và bù lại họ muốn được tham gia vào sinh hoạt phụng vụ của nhà dòng. Đôi khi họ cũng mặc áo dòng như các đan sĩ, nhưng họ không tuyên khấn. Đó là hình thức oblati, donati, conversi. Nhưng sang đến thế kỷ XII-XIII, chúng ta lại chứng kiến một hiện tượng khác, đó là: nhiều phong trào gíao dân nổi lên, yêu cầu cải cách Giáo hội, bằng việc trở về với nếp sống khó nghèo của Phúc âm.

Tuy rằng một số phong trào đó đã ly khai khỏi Giáo hội, nhưng đa số không dừng lại ở chỗ kêu gào cải cách bằng miệng nhưng còn thực hành lý tưởng bằng đời sống bản thân. Họ mang danh là đoàn ngũ các hối nhân (Ordo penitentium). Đến khi Dòng Thánh Đaminh và Dòng Thánh Phanxicô xuất hiện thì họ đến nhờ các tu sĩ hướng dẫn. Dĩ nhiên là họ cũng chia sẻ lý tưởng Phúc âm mà hai thánh tổ phụ đề ra, và thậm chí còn xin mặc tu phục của hai dòng đó. Từ đó, hàng ngũ hối nhân (Ordo penitentium) chia thành hai ngành, ngành xám (màu áo Dòng Thánh Phanxicô) và ngành đen (màu áo choàng của Dòng Thánh Đaminh). Lần lượt các bản luật cũng được soạn ra: luật ngành xám được Toà thánh châu phê từ năm 1289; còn luật ngành đen thì được cha Munio de Zamora soạn từ năm 1285, nhưng mãi tới năm 1405 mới được Toà thánh châu phê. Lần lượt Toà thánh cũng châu phê bản luật của các Dòng khác soạn cho các giáo dân muốn chia sẻ tinh thần của mình, chẳng hạn như: dòng Âutinh (1399 cho nữ giới và 1470 cho nam giới), Dòng Tôi tớ Đức Mẹ (1424), dòng Carmêlô (năm 1476), vv. Nên biết là Dòng Thánh Phanxicô đã sớm gọi hàng ngũ hối nhân của mình là “Dòng Ba Phanxicô” (như nhận thấy qua một văn kiện năm 1292), chứ các dòng khác thì mãi mấy thế kỷ sau mới du nhập từ ngữ Dòng Ba.
 
Các hội viên Dòng Ba có mặc áo dòng như các tu sĩ không?
Như vừa nói trên đây, từ thế kỷ XIII, các hối nhân đã phân thành hai nhánh - xám và đen - dựa theo màu áo choàng. Nói chung, vào lúc đầu các hội viên Dòng Ba cũng xin được mặc áo dòng như các tu sĩ. Nhưng dần dần, vì sự tiến triển y phục bên châu Âu cũng như vì công tác lao động, cho nên các hội viên Dòng Ba không mặc toàn bộ áo dòng như các tu sĩ (trừ khi tham dự các buổi rước kiệu và lúc tẩm liệm trong quan tài), nhưng chỉ mặc một áo cộc, làm biểu hiệu.
 
Các hội viên Dòng Ba có phải tuân giữ những nghĩa vụ nào không?
Dĩ nhiên các tín hữu xin gia nhập Dòng Ba không phải để lãnh áo dòng làm kiểng. Như đã nói trên đây, nguồn gốc của các Dòng Ba là phong trào các hối nhân: họ chủ trương nếp sống khắc khổ, trở về với những yêu sách của Tin mừng. Trên thực tế, đã có nhiều sự thay đổi về kỷ luật các hội viên Dòng Ba từ thế kỷ XIII cho đến nay. Vào lúc đầu, các hội viên cũng tuyên khấn tuân giữ vài nghĩa vụ mà bản Kỷ luật đặt ra, chẳng hạn như việc cầu nguyện (nguyện kinh nhật khóa), thực hành khổ chế (trong đó có việc kiêng thịt suốt đời, khước từ tham dự các buổi lễ hội giải trí dân gian), và đôi khi lời hứa giữ khiết tịnh (ai chưa lập gia đình thì phải giữ độc thân, còn người đã có gia đình thì không được tái hôn).
 
Như vậy, các hội viên cũng phải tuyên khấn như các tu sĩ hay sao?
Bản luật của Dòng Ba Đaminh soạn năm 1285 đã dự trù một thời kỳ tập luyện là 1 năm, và sau đó hội viên tuyên khấn. Tuy nhiên, bản chất pháp lý của lời khấn Dòng Ba không được coi như tương đương với lời khấn của các tu sĩ. Điều này càng rõ rệt hơn khi mà trong số các hội viên Dòng Ba, một vài người đã họp nhau thành cộng đoàn, tuân giữ một bản luật khác với bản luật dành cho các giáo dân. Người ta gọi họ là “Dòng Ba tu trì” (tertiarii regulares), đối lại với “Dòng Ba đời” (tertiarii seculares). Các hội viên Dòng Ba tu trì - đa số là nữ giới - sống thành cộng đoàn, giữ ba lời khấn dòng; họ chỉ khác với các đan nữ dòng nhì ở chỗ là họ không ở trong nội vi, nhưng tham gia các công tác tông đồ và bác ái. Đó là nguồn gốc của các dòng nữ tu hoạt động tông đồ vào thời nay.
Từ khi các cộng đoàn Dòng Ba tu trì lớn mạnh, cách riêng từ thế kỷ XV, thì vai trò của các hội viên Dòng Ba “đời” bị giảm. Nhiệt tình của phong trào “hối nhân” giảm sút. Vì thế, các nghĩa vụ của họ cũng được giảm nhẹ. Tính cách pháp lý của lời khấn hứa của họ không đáng kể. Mãi đến cuối thế kỷ XIX, các Dòng Ba đời mới được phục hồi, nhưng thường được đồng hóa với các hội đoàn đạo đức cầu nguyện, nhưng không tác dụng vào đời sống Giáo hội cách mạnh mẽ như hồi thế kỷ XIII-XIV nữa. Dĩ nhiên, đó là nói các đường hướng chung, chứ khi đi vào lịch sử của mỗi Dòng Ba thì có nhiều đặc trưng khác nữa.
 
Hiện nay có bao nhiêu thứ Dòng Ba?
Sự phân biệt giữa Dòng Ba “tu trì” với Dòng Ba “đời” coi như không còn nữa. Các Dòng Ba tu trì trở thành các Dòng Tu như bao nhiêu Dòng Tu khác, chẳng hạn như các Dòng nữ tu Đaminh, Phanxicô, Cát minh, vv. Còn các Dòng Ba “đời” thì dần dần cũng đổi tên: thay vì gọi Dòng Ba Đaminh đời, thì người ta gọi là “huynh đoàn giáo dân Đaminh”; một cách tương tự như vậy, “Dòng Ba Phanxicô đời” được đổi thành “Dòng Thánh Phanxicô tại thế” (bỏ tính từ “thứ ba” để khỏi gây mặc cảm).

Dưới một khía cạnh khác, có thể nói được là có nhiều thứ Dòng Ba dựa theo các linh đạo khác nhau. Về điểm này ta thấy có sự khác biệt khá lớn giữa bộ giáo luật 1917 và bộ giáo luật 1983. Trong bộ giáo luật 1917, chỉ có các Dòng sau đây được phép nhận hội viên Dòng Ba: Phanxicô, Đaminh, Augustin, Carmêlô, Tôi tớ Đức Mẹ, Chúa Ba ngôi, Prémontrés, Minimi, Đức bà chuộc kẻ làm tôi, Biển đức. Như vậy, con số khá hạn hẹp, và chỉ giới hạn vào vài Dòng cổ điển. Ngược lại, Bộ giáo luật hiện hành không còn đặt giới hạn như vậy. Điều 303 của bộ giáo luật 1983 cho phép tất cả các Dòng Tu (dù cổ hay tân, dù là nam hay nữ) cũng đều có quyền kết nạp các giáo dân muốn tham gia vào linh đạo của mình. Đó là nói trên nguyên tắc. Cần phải chờ một thời gian nữa thì mới biết được điều luật này được áp dụng như thế nào.

Mặt khác, cũng nên biết rằng nhiều Dòng Tu, điển hình là Dòng Tên, tuy vốn không có Dòng Ba, nhưng vẫn điều khiển nhiều phong trào đạo đức gíao dân (thí dụ như trước đây gọi là Hiệp hội thánh mẫu, Hội tông đồ cầu nguyện, Phong trào Linh thao, vv). Sau cùng, để kết thúc bài hôm nay, cần thêm một nhận xét khác không kém phần quan trọng. Trong quá khứ, các phần tử Dòng Ba tìm đến các Dòng Tu để tìm con đường nên thánh, và con đường nên thánh được diễn tả qua việc hãm mình cầu nguyện.

Từ sau công đồng Vaticanô II, với cái nhìn mới về sứ mạng của các tín hữu giáo dân, đường nên thánh của các giáo dân không thể chỉ giới hạn vào việc hãm mình đền tội, đọc kinh cầu nguyện mà thôi, nhưng còn phải tìm cách đem men Phúc âm vào các môi trường sinh sống: từ gia đình, nghề nghiệp, cho tới các cơ chế kinh tế, chính trị. Hậu nhiên, Giáo hội mong đợi nơi các phần tử Dòng Ba không phải chỉ là những chuyên viên đọc kinh cầu nguyện, nhưng còn là những cộng sự viên của hàng giáo phẩm trong các sinh hoạt mục vụ giáo xứ (chẳng hạn: dạy giáo lý, thăm viếng người bệnh tật), các công tác bác ái xã hội, cũng như là những chứng tá tin mừng trong các môi trường giáo dục, lao động, chính trị. Tại Italia, người ta đang tiến hành thủ tục phong thánh cho ông Giorgio La Pira, một hội viên Dòng Ba Đaminh, nguyên thị trưởng thành phố Firenze (1904-1977). Giữa thời chiến tranh nóng bỏng tại Việt Nam, ông đã đưa ra chủ trương đàm phán. Nếu tôi không lầm, thì ông là chính khách đầu tiên của khối Tây phương đi gặp chủ tịch Hồ chí Minh tại Hà nội, vào tháng 8 năm 1965, để tìm cách bắt nhịp cầu.
-----------------------------
Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.
Học Viện Đa Minh




Saturday, July 22, 2017

Giải Đáp và Hướng Dẫn:

THUYẾT TIẾN HÓA

Xin cho biết Giáo Hội giải thích như thế nào về học thuyết tiến hóa của dacquyn (Charles Darwin)
LH
==========================
Đáp: “Thuyết tiến hóa” là một giả thuyết, hay đúng hơn, nhiều giả thuyết, nhiều lối giải thích khác nhau về sự hiện hữu của các hữu thể - vật chất và con người. Darwin đã đưa ra một giả thuyết về sự tiến hóa của sinh vật – Một giả thuyết cho rằng mọi chủng loại hữu cơ xuất hiện và phát triển qua sự “Biến Thiên Ngẫu Hữu” (=Chance Variation) và Sự “Chọn Lọc Tự Nhiên “ (= Natural Selection) khiến gia tăng khả năng của cá thể để tranh sống, tồn tại, và truyền sinh. Thuyết này được nhiều người khai triển và biến thái áp dụng trong nhiều lãnh vực, dù còn gặp nhiều những vấn nạn chưa được giải đáp thỏa đáng.

Hiểu Sống Đức Tin: 

Hôn Thú Của Thánh Giuse Là Thật Hay Giả?

Giáo Hội khuyến khích chiêm ngắm gia đình Nazareth như là khuôn mẫu cho các gia đình. Chắc chắn là không ai dám nghi ngờ sự thánh thiện của Thánh Giuse, Đức Maria và Đức Giêsu. Nhưng đó có phải là một gia đình thực sự không? Hôn thú giữa Thánh Giuse với Đức Maria có phải là hôn thú thực sự hay chỉ là hình thức che đậy bên ngoài, xét vì cả hai đều giữ mình trinh khiết?

Saturday, July 1, 2017

Giải đáp Phụng Vụ

Ghi khắc lưu niệm tên nhà hảo tâm trên vật dụng phụng vụ được không?

Hỏi: Một thành viên của hiệp hội chúng con đã tặng cho hội một ngọn cờ với hình Chúa Kitô chiến thắng sống lại từ ngôi mộ. Bà này thích có lời đề tặng hay tưởng niệm người chồng quá cố của bà trên ngọn cờ ấy. Thưa cha, điều này là thích hợp không? - G. A., West Vancouver, British Columbia
-----------------------------
Đáp: Trong khi hầu như không có qui định chính thức nào về lời đề tặng ghi trên các vật dụng phụng vụ và vật trang trí nhà thờ, có một truyền thống lâu đời và việc thực hiện như thế theo một cảm thức chung.

Có một tập tục lâu đời là ghi lời đề tặng trên các vật dụng phụng vụ như chén thánh và đĩa thánh. Một trong các thí dụ xưa nhất còn tồn tại là một chén thánh gọi là chén thánh Tassilo, vốn đã được trao tặng cho đan viện Biển Đức ở Kremsmünster năm 777, bởi công tước Tassilo miền Bavaria và phu nhân Luitpirga. Một thí dụ khác là chén thánh Bedia trong thế kỷ X được trao tặng bởi hoàng hậu xứ Georgia. Lời khắc, viết bằng chữ Georgia cổ, là: “Lạy Mẹ rất Thánh của Chúa, xin mẹ cầu cùng Con Mẹ dủ lòng thương xót với Bagrat, Vua xứ Abkhazia, và thân mẫu ngài là Hoàng thái hậu Gurandukht, người đã dâng tặng chén thánh này. Amen".

Dòng chữ như thế, trừ các chức danh hoàng gia, là khá điển hình cho lời đề tặng trong nhiều thế kỷ, và nêu rõ tên của các người hiến tặng và xin cầu nguyện.

Các vật trang trí nhà thờ, vốn có ghi lời đề tặng, là các cửa sổ kính màu và ghế ngồi trong nhà thờ. Thường các vật này có một tấm bảng bằng đồng thau hoặc một vật liệu bền chắc ghi các câu, chẳng hạn "Để tôn vinh Thiên Chúa và tưởng nhớ N., do con cái người này trao tặng”. Các câu khác thường là đơn giản hơn, chỉ xin cầu nguyện cho một người hoặc một gia đình, và tên người hiến tặng. Các người hảo tâm khác chỉ ghi đơn giản: “Xin cầu nguyện cho nhà tài trợ", phó thác sự nghỉ yên trong Chúa. Thỉnh thoảng có lời ghi phức tạp hơn, nhưng tập tục Công Giáo Rôma có xu hướng ngắn gọn trong loại hình lưu niệm này.

Trên cửa sổ kính màu, lời lưu niệm thường nằm ở một phần kín đáo của khung cửa sổ, vốn không làm mất tập trung vào sứ điệp tôn giáo của nhân vật hoặc cảnh trí miêu tả.

Lời lưu niệm đặt trên các vật làm bằng vải thì ít phổ biến hơn, có lẽ vì ý tưởng đằng sau lời lưu niệm như vậy là rằng vật lưu niệm phải bền bỉ với thời gian, trong khi các vật bằng vải, dù là vải tốt đến mấy chăng nữa, có xu hướng hư nhanh hơn do sử dụng nhiều. Nói như thế không có nghĩa là không có vật lưu niệm bằng vải. Thí dụ tu viện Anh giáo Westminster, London, có một số ngọn cờ rước kiệu được làm thật công phu, vốn có lời đề tặng kỷ niệm và đã tồn tại hơn một thế kỷ. Tôi chắc rằng có, nhưng tôi không nắm rõ, các thí dụ về các ngọn cờ rước kiệu Công Giáo được hiến tặng tương tự như vậy.

Do đó, để kết luận, trong khi vật lưu niệm bằng vải là không mấy phổ biến, tôi không tin rằng có bất cứ điều gì không phù hợp, khi ghi lời lưu niệm kín đáo trên ngọn cờ, nếu người hiến tặng muốn làm như vậy. (Zenit.org 8-9-2015)
===============
Nguyễn Trọng Đa
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma. 

"TẪN" LIỆM HAY "TẨM" LIỆM

Trong một dịp tĩnh tâm năm của linh mục, thấy một cha có cuốn nghi thức an táng, trong đó có đề cập đến việc “tẩm liệm”, tôi nói: “Tẫn liệm mới đúng, sao lại là tẩm liệm”. Cha ấy nói: “Dùng quen rồi không sửa lại nữa”. Tôi rất lấy làm ngạc nhiên, chữ dùng sai không chịu sửa, chỉ vì dùng quen. 

Thursday, April 13, 2017

VÌ SAO BÚT CHÌ CÓ CỤC TẨY ?
Câu trả lời thật rõ ràng: để xóa đi những chữ viết sai, viết chưa đẹp hoặc để xóa hoàn toàn một đoạn văn nào đó!
Khi một đứa trẻ mới vào lớp một, cô giáo không cho chúng viết bằng bút bi mà viết bằng bút chì. Bởi vì, bàn tay yếu ớt của các bé nhất định sẽ có lúc viết những nét nguệch ngoặc, sai từ này đến từ khác. Và khi đó, bé sẽ dùng tẩy để xóa đi những chữ viết chưa đúng, chưa đẹp của mình.

Saturday, April 8, 2017

CHÚA CHỌN GALILÊ
1.  Địa lý miền đất Palestina
Địa dư đất nước Palestina có ranh giới: Đông giáp sa mạc Syria và Ảrập, Tây giáp Địa Trung Hải, Bắc giới hạn từ thung lũng núi Liban chạy đến núi Hermon, Nam giáp ranh Iđumê, miền đất hoang vu Bersabê và Biển Chết.
Cựu Ước thường dùng kiểu nói “từ Đan đến Bersabê” để chỉ miền đất Do Thái cư ngụ. Chiều dài từ chân núi Liban tới Bersabê là 230km; chiều rộng từ Địa Trung Hải đến sông Giođan là 37-150km. Diện tích phía tây Giođan là 15.643 km2, phía Đông (Transjordanie) là 9482 km2. Tổng cộng là 25.124km2.
Palestina thời Chúa Giêsu chia làm bốn miền: Galilêa có thành Capharnaum, Nazareth. Samaria nằm giữa xứ Palestina với những con đường nối liền Nam-Bắc. Giuđêa là miền núi có thủ đô Giêrusalem và Pêrêa bên kia sông Giođan. Phía Bắc là miền Decapolis nơi dân cư phần nhiều thuộc văn hóa Hy Lạp.
Palestina có địa lý đặc biệt: Thung lũng Giođan chia Palestina làm hai miền: Palestina và Transjordanie. Thung lũng này là hiện tượng địa lý duy nhất trên địa cầu: bắt đầu từ núi Taurus, ngang qua Celesyria, đến Palestina, rồi tiếp tục theo phía Đông bán đảo Sinai tới Biển Đỏ. Phía Bắc (thành Đan) cao hơn Địa trung hải 550m; càng về phía Nam càng thấp xuống. Tiberiade thấp hơn Địa Trung Hải 208m; tới Biển Chết mực nước thấp hơn 392m. Sông Giođan phát nguồn từ núi Hermon, chạy qua hồ El-Hule (dài 6.000m, sâu từ 3-5m), rồi qua hồ Tiberiade, đổ vào Biển Chết.
Hồ Tibêriađê (gọi là Giênêzarét) dài 21km, rộng 12 km, sâu 45m, nước trong xanh và nhiều cá. Biển Chết dài 85km, rộng 16km, nước biển độ mặn quá cao nên không vật nào có thể sống được.
Miền duyên hải từ núi Libanô đến núi Camêlô, rộng từ 2-6km. Từ núi Camêlô đến Gaza phía Nam, bờ biển rộng đều và thẳng với các hải cảng Akko, Haifa và Jaffa (Joppé). Giữa Haifa và Jaffa, vua Hêrôđê xây thêm hải cảng Cêsarêa. Từ núi Camêlô đến Jaffa là bình nguyên Sharon phì nhiêu. Từ Jaffa xuống phía nam là bình nguyên Sêphêla thuộc xứ Pelistin (danh xưng Palestina xuất phát từ chữ này).
Bình nguyên Esdrelon từ phía Bắc núi Camêlô chạy theo hướng Đông Nam, chia phần đất phía Tây sông Giođan làm hai phần: Galilê phía Bắc, Samaria và Giuđêa phía Nam. Miền Galilê: phía Bắc nhiều núi, Nam là bình nguyên Esdrelon, miền duyên hải là đồng bằng, giữa là đối núi thấp dần về phía sông Giođan.
Bên kia sông Giođan (Transjordanie) là miền đồi núi, chia làm 3 phần: Trachonitide thuộc Đông-Bắc hồ Tiberiade. Miền Thập tỉnh phía Đông-Nam hồ. Pêrêa thuộc phía Đông sông Giođan và Biển Chết, đối diện với Samaria và Giuđêa.
Image associéeNgười Do Thái không chiếm cứ hoàn toàn miền bên kia sông Giođan. Trước thời kỳ Hy hóa, đã xuất hiện tại mạn Bắc nhiều bộ lạc Aram. Thời Hy hóa, từ sau cuộc chinh phục của Alexandre đại đế, nhiều người Hy Lạp đến đây cư ngụ. Thời Đức Giêsu, họ lập thành miền Thập Tỉnh, có khoảng 10 thành liên minh với nhau. Các thành nổi tiếng hơn cả là Đamascô, Hippos, Gadara, Gerasa, Pella, Philadelphia.
Thủ đô Giêrusalem là trung tâm chính trị và tôn giáo. Vua Hêrôđê đóng đô ở Giêrusalem. Đền thờ Giêrusalem là trái tim của dân tộc Do Thái. Hàng năm, khắp mọi miền đất nước người ta đổ về Giêrusalem để dự lễ. Đây cũng là nơi quy tụ quyền lực tôn giáo, có dinh của Thầy Cả Thượng Phẩm, có các Luật Sĩ, Pharisêu, văn nhân. Dân chúng ở Giuđê coi Giêrusalem là đền thờ duy nhất, đạo ở Giuđêa là chính thống. Họ tẩy chay người Samari là dân ngoại vì dân Samari xây cất đền thờ trên núi Garizim. Dân Giuđê không bao giờ đi lại tiếp xúc với dân Samari. Họ cũng khinh miệt dân Galilê vì đó là nơi pha tạp mọi sắc dân, là đất của dân ngoại.
Giuđê là vùng có đạo toàn tòng, là trung tâm của đạo Do Thái, còn Galilê là miền giáp ranh giữa vùng có đạo và vùng ngoại đạo. Quả thực đây là vùng xôi đậu. Về mặt chính trị, vùng này chịu ảnh hưởng ngoại bang thật sâu đậm. Về mặt chủng tộc, ở đây người Do Thái sống lẫn lộn giữa dân ngoại. Về mặt tôn giáo, Galilê thua xa Giuđê, bị coi là ở bên lề của cộng đồng Dân Chúa. Đối với dân thủ đô, Galilê chỉ là tỉnh lẻ, nhà quê. Đối với người mộ đạo sùng tín, miền Bắc thật đáng ngờ vực. Đó là miền hầu như thuộc ngoại bang, nơi hội tụ dân ngoại. Một dân cư pha tạp, nông dân và ngư dân có giọng nói nặng chịch vốn là đề tài phong phú cho các câu chuyện diễu cợt hằng ngày…
2.  Chúa chọn Galilê
Khởi đầu sứ vụ công khai, Chúa Giêsu không chọn rao giảng ở Giêrusalem mà chọn Galilê.
Galilê không rộng lắm, từ Bắc chí Nam dài khoảng 60km, dân cư sống đông đúc. Đất hẹp người đông. Thời Josephus làm tổng trấn, đếm được 294 làng, mỗi làng không dưới 15.000 dân. Galilê không những là khu đông dân cư nhưng dân ở đó cũng có một cá tính đặc biệt. Galilê sẵn sàng mở cửa đón những ý niệm mới. Josephus nói về dân Galilê như sau: “Bao giờ họ cũng thích cải cách, bản tính họ thích thay đổi và thích bạo động. Họ luôn sẵn sàng theo một thủ lãnh và phát khởi một cuộc nổi dậy. Họ nổi tiếng là người nóng tính và thích cãi vã. Tuy nhiên, họ cũng là những người hào hùng nhất”.
Đặc tính bẩm sinh của người Galilê giúp việc truyền giáo cho họ rất thuận lợi. Thái độ cởi mở đón nhận những tư tưởng mới cũng góp phần cho việc truyền giáo trở nên dễ dàng. Có lẽ vì những yếu tố này mà Chúa Giêsu chọn Galilê làm trung tâm truyền giáo. Những tín đồ chính thống ở kinh đô chiêm ngưỡng sự siêu việt của mình, chế diễu và tránh xa những người bị loại trừ ở phía Bắc. Chúa Giêsu rao giảng tại Galilê, xa thói ngạo mạn, tính tự tôn và sự mù quáng của dân thành đô. Chúa chọn Galilê vì ở đây mọi người biết chấp nhận nhau, chung sống hòa bình.
Galilê là khởi điểm Kitô giáo. Chính tại đây, Chúa Giêsu bắt đầu cuộc rao giảng Tin Mừng, chọn gọi các Tông Đồ, tuyên bố Luật mới. Các sách Tin Mừng Nhất Lãm đã kết thúc thời kỳ đầu rao giảng tại Galilê của Chúa Giêsu bằng lời tuyên xưng của Phêrô: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16).
Sự chọn lựa miền đất Galilê có một ý nghĩa quan trọng theo Tin Mừng Matthêu. Để ứng nghiệm lời Ngôn Sứ Isaia nói: "Này đất Dơvulun, và đất Náptali, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Giođan, hỡi Galilê, miền đất của dân ngoại ! Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tốt tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng. Những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi".
Khi trích dẫn Isaia, Mátthêu có ý nói rằng Chúa Giêsu vâng phục theo ý muốn của Chúa Cha, Người làm điều mà Thiên Chúa đã nói. Đây là sự vâng phục cao cả, to lớn và kỳ diệu, được đảm nhận với tự do và tình yêu. Mátthêu cũng nhấn mạnh đến sự liên tục của Chúa Giêsu với toàn bộ lịch sử của Dân Người. Cuộc phiêu lưu vĩ đại đã khởi đi từ một miền đất bị nguyền rủa. Thế giới mới đã ăn rễ sâu vào vùng đất nhơ uế nhưng cởi mở đón tiếp mọi bất ngờ của Thánh Thần. Chúa Giêsu là ánh sáng bừng lên giữa thế gian. Ngài muốn soi sáng tất cả mọi người, kể cả các anh em ly khai, những người lạc giáo, những lương dân và những người vô thần.
3.  Chúa Giêsu chọn các môn đệ đầu tiên ở Galilê
Bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay kể lại cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và bốn môn đệ đầu tiên ở biển hồ Galilê.
Chúa Giêsu đã gọi và chọn các Tông Đồ là những người chài lưới tầm thường. Đáng lý Chúa phải chọn những người ưu tú trong đám trí thức và được coi là đàng hoàng ở Giuđê mới phải. Tại sao Chúa lại chọn những người làm nghề chài lưới ? Phải chăng Người ngụ ý dạy các môn đệ phải luôn luôn sẵn sàng rời bỏ đất liền và thế giới riêng của mình, nghĩa là rời bỏ cái khung cảnh an toàn và đóng kín của mình để ra khơi, giữa đại dương mênh mông vô bờ bến và đầy gian nguy, tức là đến với thế giới rộng lớn và xa lạ để cứu vớt thế giới ?
Chúa Giêsu kêu gọi các Tông Đồ không phải trong khuôn khổ một lễ hội tôn giáo hoặc một hoạt động tâm linh... Nhưng ở giữa đời sống thường ngày của họ, trong lúc họ đang làm công việc nghề nghiệp. Các môn đệ ngư phủ tuy là những người ít học, không giàu có, không địa vị, nhưng đối với Chúa, họ có đủ tố chất cần thiết để trở nên những người cộng sự của Người. Chẳng hạn, sự kiên trì khi thả lưới giúp họ biết nhẫn nại chờ đợi; sự hòa đồng giúp họ chấp nhận nhau và làm việc chung; sự can đảm trước sóng gió giúp họ đối diện với nghịch cảnh; khả năng nhận ra khi nào và chỗ nào nên thả lưới sẽ giúp họ khám phá những vùng truyền giáo màu mỡ. Cuộc gặp gỡ này đã làm thay đổi số phận của những con người lênh đênh trên biển hồ ngày trước. Cuộc gặp gỡ này là khởi đầu cho công cuộc thay đổi thế giới. Cuộc gặp gỡ làm nên những huyền diệu trong lịch sử nhân loại.
Các ngài gặp gỡ và bước theo Chúa để học nơi Chúa. Họ nhận ra rằng: Chúa Giêsu, Thầy Dạy của các bậc thầy, không những chỉ dạy Lời Chúa nhưng chính Người là Lời Chúa. Người không những chỉ dạy cho cách sống mới mà chính Người là Sự Sống. Người không những chỉ cho biết ý nghĩa của “Đường Sự Sống", mà chính Người là Đường Sự Sống, là Ánh Sáng.
Chúa Giêsu đã kêu gọi các môn đệ. Các ngài đáp trả chân tình. Các ngài được sống thân mật với Chúa. Các ngài ra đi làm chứng cho tình yêu Chúa. Đó là hành trình ơn gọi của các Tông Đồ. Đó cũng là hành trình ơn gọi của mỗi Kitô hữu.
4.  Chúa Giêsu đi về vùng ngoại biên
Galilê là vùng ngoại biên xa trung tâm Giêrusalem. Galilê là khởi điểm Kitô giáo. Chính tại đây, Chúa Giêsu bắt đầu cuộc rao giảng Tin Mừng, chọn gọi các Tông Đồ, tuyên bố Luật mới.
Chúa Giêsu sinh ra trong một gia đình làm nghề mộc, thuộc dạng nghèo. Như vậy, Người mang thân phận kẻ nghèo để chia xẻ với thế giới những người ngoại biên. Khi đi rao giảng Tin Mừng, Người ưu tiên để ý đến những người nghèo, người tội lỗi và người cùng khổ. Người áp dụng vào chính mình những lời Ngôn Sứ Isaia xưa đã nói: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, Chúa đã xức dầu tấn phong tôi. Sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn” (Lc 4, 17-20). Người cũng đã xác định: “Thầy đến không phải để kêu gọi người công chính, nhưng để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9, 13).
Chúa Giêsu muốn dạy cho mọi người thấy: Trước mặt Chúa không có vấn đề ưu đãi cho trung tâm và bỏ quên hoặc loại trừ những ngoại biên. Người nói rõ ràng với người phụ nữ ngoại giáo xứ Samaria: “Này chị, hãy tin tôi: Đã đến giờ, các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem... Nhưng giờ đã đến, và chính là lúc này đây, giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ Chúa Cha trong tinh thần và trong sự thực. Vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế” (Ga 4, 21-24).
Suốt đời, Chúa Giêsu đã sống gần gũi những người ngoại biên, Người đến với họ, Người chia xẻ những nỗi đau của họ, Người được kể như người ngoại biên. Người cho họ thấy Người rất thương họ, và tình thương đó là vô hạn, vô cùng. Thương đến đổ máu mình ra, chết cho họ, chết thay cho họ, và cho mọi người. Người hiến thân đến tột cùng vì tình yêu. Chính ở điểm hiến thân trên thập giá, mà Người làm vinh danh Chúa Cha, và chính Người được tôn vinh. Người muốn các môn đệ hãy theo gương Người, đem Tin Mừng đến cho người nghèo khổ như vậy.
Hiện nay, Mẹ Têrêxa Calcutta đang được đề cao như một gương mẫu rao giảng Tin Mừng cho người ngoại biên. Mẹ không làm việc gì khác ngoài đi theo đường lối mà Chúa Giêsu đã đi trước. Điều đáng ngợi khen nhất nơi Mẹ là làm chứ không chỉ nói. (x. Tin Mừng cho người ngoại biên, Gm. Bùi Tuần).
Thời nay, nói theo ngôn ngữ của Gm. Giuse Đặng Đức Ngân, những biên cương mới mà Giáo Hội đang quan tâm không chỉ trên phương diện địa lý nhưng còn là những con người. Chúng không chỉ có nghĩa là mới, nhưng còn có nghĩa là bị lãng quên, bị bỏ rơi, chưa đụng chạm đến. Các biên cương cần quan tâm chính là sự cộng tác của mọi thành phần trong Giáo Xứ, là mục vụ hôn nhân gia đình, mục vụ sau khi kết hôn, chăm sóc và bảo vệ thai nhi, mục vụ bác ái truyền giáo, mục vụ truyền thông và mục vụ di dân.
Chúa đến với những biên cương mới dẫu cho khó khăn hay thập giá. Truyền giáo ngày nay trong thế giới nói chung và trong xã hội Việt Nam nói riêng không nhắm trước tiên hay chủ yếu vào việc "chinh phục các linh hồn" cho Chúa càng nhiều càng tốt, (chúng ta không chạy theo số lượng) nhưng đem tinh thần Phúc Âm thấm nhuần vào con người và vào mọi thực tại nhân sinh. Vì thế, để thi hành sứ mạng cao cả đó, chúng ta không nhất thiết phải đi tới một vùng địa lý nào khác, mà lấy chính môi trường sống của mình làm "vùng đất ngoại bang", và noi gương của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, chúng ta hãy coi các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội là những vùng giáp ranh, những vùng biên giới mà Chúa sai chúng ta đến.
Cảm nghiệm sâu xa bước chân Chúa Giêsu đi về vùng ngoại biên. Đức Thánh Cha Phanxicô viết: “Tôi thích một Giáo Hội bị bầm dập, bị thương tích và dơ bẩn vì đã ở ngoài đường, hơn là một Giáo Hội yếu nhược vì tự giam mình và bám víu vào sự an toàn riêng của mình. Tôi không muốn một Giáo Hội quan tâm đến việc được ở vị thế trung tâm và rồi rốt cuộc bị vướng mắc vào một mạng lưới của những nỗi ám ảnh và thủ tục.” (Niềm vui Tin Mừng số 49).

 Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN