Tuesday, January 5, 2016

Chúa Giêsu có khi nào cười không?

Trong Phúc âm chúng ta đọc thấy nhiều lần Chúa Giêsu khóc, thí dụ như khi đứng trước mồ của ông bạn Ladarô của mình, hay là Ngài khóc thương Giêrusalem khi nghĩ đến tới số phận tang thương sẽ ập xuống thành đó. Phúc âm có khi nào nói tới Chúa Giêsu cười không?

Giáo hội với Hội thánh khác nhau ở chỗ nào?
Trong các sách vở, trong các bài giảng, cũng như trong những cuộc giao tiếp hằng ngày, lúc thì người ta nói “Giáo hội công giáo” lúc thì “Hội thánh công giáo”. Hai từ ngữ đó, “Giáo hội” và “Hội thánh”, có đồng nghĩa với nhau hay không? Nếu không thì khác nhau ở chỗ nào?




Trước khi trả lời cho những câu hỏi vừa nêu, chúng tôi xin phép ghi nhận một sự kiện về ngôn ngữ tôn giáo ở Việt Nam. Nếu tôi không lầm, thì chỉ có Phật giáo dùng tiếng “Giáo hội” (Giáo hội Phật giáo), chứ không ai nói tới Giáo hội Khổng giáo! Còn hình như không có ai dùng tiếng “Hội thánh” ngoại trừ anh em Tin lành (chúng ta thấy tiếng “Hội thánh Tin lành” được dùng nhiều hơn là “Giáo hội Tin lành”). Như vậy thì trong Việt ngữ, đã có một sự khác biệt về cách áp dụng rồi đó. Còn tại sao lại có sự khác biệt đó, thì tôi xin thú nhận là chưa đủ khả năng trả lời, bởi vì cần phải khảo cứu lịch sử ngôn ngữ Việt Nam để xem những danh từ đó đã xuất hiện từ hồi nào. Chắc chắn là tiếng “Giáo hội Phật giáo” chỉ mới ra đời trong thời gian gần đây, chứ không có trong văn chương cổ truyền. Như chị đã biết, bên Đông phương, người ta quan niệm tôn giáo như là “đạo”, nghĩa là con đường (đạo Phật); hay là “giáo”, nghĩa là lời dạy (Phật giáo). Người nào chấp nhận con đường hay lời dạy đó thì gọi là tín đồ, Phật tử. Các tôn giáo ở Đông phương xem ra không đặt nặng vấn đề cơ cấu tổ chức; vì vậy mà tôi nghĩ rằng họ không có nói tới “Giáo hội”.

Như vậy, “Giáo hội” ám chỉ cái cơ cấu của một tôn giáo, phải không?

Theo tôi nghĩ, thì đúng như vậy. Tuy nhiên, như đã nói trên đây, tôi không có dịp tra cứu lịch sử ngôn ngữ học, để xem tiếng “Giáo hội” xuất hiện trong văn chương Việt Nam từ năm nào. Giới hạn vào Công Giáo, chúng ta thấy rằng hai tiếng “Giáo hội” và “Hội thánh” đều được dùng để dịch cùng một từ trong các tiếng Âu châu: ecclesia tiếng La-tinh, église tiếng Pháp, hay là church trong tiếng Anh.

Con không có rành tiếng La-tinh cho nên không biết ý nghĩa của nó; nhưng mà chữ “église” trong tiếng Pháp có nghĩa là “nhà thờ” nữa, phải không? 

Không phải chỉ có tiếng Pháp, mà cả tiếng La-tinh và tiếng anh, “ecclesia” (église, church), vừa có nghĩa là Giáo hội hay hội thánh, lại vừa có nghĩa là nhà thờ nữa.

Có phải tại vì “nhà thờ” tượng trưng cho công giáo, cũng như “nhà chùa” tượng trưng cho Phật giáo hay không?

Có thể là ở Việt Nam đã có người hiểu như vậy. Một lần nữa, tôi xin nhường câu trả lời cho các nhà ngữ học, để xem sự đối chiếu ấy bắt đầu từ bao giờ. Theo tôi, thì trong các thế kỷ trước, khi muốn đối chiếu giữa Thiên Chúa giáo với Phật giáo, thì người ta dùng tiếng “nhà Chúa” để đối lại với “nhà chùa”, chứ không dùng tiếng “nhà thờ”; bởi vì tiếng “nhà thờ” ám chỉ nơi dùng vào việc thờ cúng tổ tiên. Trong xã hội cổ truyền, mỗi gia đình có bàn thờ để kính tổ tiên; còn mỗi dòng họ thì có nhà thờ để kính thủy tổ của tộc. Do đó nhà thờ không thể nào làm biểu hiệu cho Thiên Chúa giáo được.

Nãy giờ, có bao nhiêu câu hỏi mà cha đã dành cho các nhà ngữ học trả lời thay. Bây giờ xin cha vui lòng giải đáp câu hỏi: Giáo hội công giáo và Hội thánh công giáo có gì khác nhau hay không? 

Như trên đã nói, xét theo nguyên ngữ thì cả hai đều phát xuất bởi một danh từ duy nhất trong tiếng La-tinh, hoặc tiếng Pháp, tiếng Anh. Dĩ nhiên, bây giờ tới lúc phải hỏi xem: thế thì ecclesiacó nghĩa là gì? Nên biết là muốn đi tìm gốc của tiếng Ecclesia, thì chúng ta phải quay sang tiếng Hy-lạp, tức là nguyên ngữ của Tân ước. Trong tiếng Hy-lạp, ekklesia có nghĩa là sự triệu tập, tụ họp, hội nghị. Khi dịch Cưụ ước từ tiếng Do thái ra tiếng Hy-lạp, thì người ta đã dùng tiếng ecclesia để chuyển nghĩa cái từ “qahal”. Dân Israel đã dùng tiếng đó để ám chỉ cộng đoàn phụng vụ, nghĩa là những người được tụ họp lại để nghe lời Chúa; rồi dần dần chính dân Israel cũng tự coi mình là “qahal” bởi vì họ ý thức rằng sở dĩ các bộ lạc lẻ tẻ đã trở thành một dân tộc là nhờ bởi Chúa đã quy tụ lại: họ là đoàn dân của Chúa, được Chúa quy tụ, và kết lập giao ước. Do đó, ý tưởng chủ chốt trong từ ngữ “ecclesia” (Hy-lạp) hay “qahal” (Do thái) là việc một đoàn dân được Chúa triệu tập, quy tụ. Sang thời Tân ước, các Kitô hữu lấy lại ý tưởng đó, khi gọi mình là “ecclesia”. Thực ra thì trong Tân ước, người ta thấy một từ ngữ “qahal” từ tiếng Do thái đã được dịch ra hai từ ngữ khác nhau:synagoga, nếu ám chỉ Israel (chúng ta thường dịch synagoga là: hội đường), và ecclesia, nếu ám chỉ các Kitô hữu. Qua lối sử dụng từ ngữ như vậy, các nhà chú giải Kinh thánh nhận thấy rằng: các Kitô hữu vừa muốn nêu bật sự liên tục với Israel, lại vừa muốn vạch ra sự khác biệt. Liên tục ở chỗ ý thức rằng các Kitô hữu được quy tụ lại không phải do máu mủ hay là do hợp đồng ý chí, song là do Chúa triệu tập lại. Đây là một cộng đoàn được thành hình do ý định của Thiên Chúa, dựa trên giao ước của Chúa. Nhưng mà đàng khác, các Kitô hữu cũng muốn phân biệt mình với Dân Israel, bởi vì thủ lãnh của họ là đức Kitô, người mục tử đã quy tụ một đoàn chiên mới cho Thiên Chúa qua cái chết của mình.

Như vậy, dịch ra tiếng Việt là “Giáo hội” hay “Hội thánh” thì sát nghĩa lắm rồi, phải không)?

Trong cả hai tiếng “Giáo hội” và “Hội thánh”, chúng ta đều thấy có tiếng “hội”. Nếu mà hiểu “hội” theo nghĩa là “hội họp”, “lễ hội” thì quả thực là sát với nguyên gốc trong Kinh thánh. Có lẽ người ta đã thêm tiếng “Giáo” để nêu bật rằng sự hội họp đó có tính cách “tôn giáo”, để lắng nghe lời Chúa và thờ phượng Ngài, chứ không phải họp nhau để đấu láo hay là bàn chuyện chính trị. Tiếc rằng nhiều lần, chúng ta nghĩ tới “Giáo hội” theo nghĩa của một cơ cấu tổ chức, hơn là nghĩ tới chiều kích năng động của nó: tức là một cộng đoàn được Lời Chúa quy tụ lại để lắng nghe và đáp lại Lời Chúa.

Thế còn “Hội thánh” thì sao?

Thiết tưởng có thể hiểu theo hai nghĩa. Một đàng thì muốn nhấn mạnh tính cách phụng tự của các buổi hội. Như vừa nói, chúng ta hội nhau lại để phụng thờ Chúa, chứ không phải để nhậu nhẹt hay đấu láo. Nghĩa thứ hai, thì nhấn mạnh tới tư cách của những người tham dự buổi hội. Họ là những người “thánh”. Tư tưởng này gặp thấy nơi các tác phẩm của thánh Phaolô: các Kitô hữu được gọi là “thánh”, không phải bởi vì họ đã trở thành siêu nhân, nhưng vì họ đã được rửa sạch khỏi tội lỗi, qua bí tích Thánh tẩy; họ được thánh hóa do chính sự tuyển lựa của Thiên Chúa là Đấng thánh. Vì vậy mà họ họp nhau thành một cộng đoàn các thánh nhân.

Nói như vậy thì chừng nào các Kitô hữu họp nhau lại thì mới thành Giáo hội hay Hội thánh; còn họp xong rồi thì Giáo hội cũng giải tán luôn? 

Trong Tân ước, chúng ta thấy tiếng “ecclesia” bao hàm rất nhiều chiều kích. Có lúc thì nó có chiều kích năng động, ám chỉ một buổi hội họp. Theo nghĩa đó, thì dĩ nhiên, khi tan họp thì cũng hết ecclesia. Tuy nhiên có lúc thì nó mang một chiều kích tĩnh, ám chỉ một đoàn thể bao gồm tất cả các Kitô hữu, vượt lên trên điều kiện không gian và thời gian. Từ đó mà ta có hai quan điểm về ecclesia: một quan điểm vượt không gian và thời gian (quen gọi là Giáo hội phổ quát hay hoàn vũ), và một quan điểm gắn với không gian (quen gọi là Giáo hội địa phương). Giáo hội phổ quát hay hoàn vũ bao gồm không những là hết tất cả các tín hữu ở khắp nơi trên mặt đất, mà còn cả các tín hữu còn sống hoặc đã qua đời. Nói khác đi, theo nghĩa này, Hội thánh gồm các tín hữu còn lữ hành lẫn những phúc nhân trên trời cũng như các linh hồn đang được thanh luyện. Tất cả họp thành một Hội thánh duy nhất của đức Kitô, họp thành một thân thể mầu nhiệm mà chính Đức Kitô làm đầu. Tuy nhiên, trong Tân ước, đặc biệt là trong các thư của thánh Phaolô, tiếng ecclesia còn ám chỉ những cộng đoàn của các tín hữu thuộc từng vùng, từng miền, từng chỗ. Vì vậy mà có rất nhiều “Ecclesia”. Trong tiếng Việt, chúng ta thường dịch là “giáo đoàn”, thí dụ giáo đoàn Rôma, Corintô, Ephêsô, vv. Riêng thánh Phaolô thì ngài thích dùng lối nói “Hội thánh Chúa ở Rôma, Corintô”.

Như vậy, cùng là một từ “ecclesia” mà dịch ra tiếng Việt thành ba từ khác nhau: Giáo hội, Hội thánh, giáo đoàn.

Đâu phải chỉ có ba mà thôi, còn nhiều nữa: nhà thờ, thánh đường, giáo đường. Tại sao như vậy? Như vừa nói, trong Tân ước, tiếng “ecclesia” khi mà hiểu theo nghĩa năng động thì ám chỉ buổi hội họp của các tín hữu. Họ họp nhau ở đâu thì chỗ đó là “ecclesia”, dù là ngoài trời, hay là ở trong tư thất. Chị đã biết là trong những thế kỷ đầu, Kitô giáo còn bị bách hại, cho nên các tín hữu không có nơi thờ tự nhất định. Mãi đến khi họ được hưởng tự do tín ngưỡng, thì họ mới bắt đầu xây cất những nơi thờ tự. Và họ đặt tên cho địa điểm ấy là “ecclesia” (hay: domus ecclesiae), nghĩa là chỗ cho các tín hữu tụ họp nhau lại để cầu nguyện. Từ đó ta thấy có sự chuyển nghĩa: lúc đầu thì ecclesia được dùng để chỉ nhóm người tụ họp nhau, đến nỗi có thể nói được rằng hết họp thì cũng hết ecclesia. Về sau, thì ecclesia được dùng để chỉ nơi tụ họp, và cho dù chẳng có ai họp nữa thì nơi đó cũng được gọi là ecclesia như thường! Trong các tiếng La-tinh và các ngôn ngữ Âu châu, một tiếng ecclesia vừa ám chỉ cộng đoàn Kitô hữu vừa ám chỉ nơi thờ phượng. Đến khi dịch ra Việt ngữ, thì chúng ta gọi cộng đoàn là “Giáo hội, hội thánh, giáo đoàn”; còn nơi thờ phượng thì được gọi là: “nhà thờ, thánh đường, giáo đường”.
---------------------------------------------
LM Giuse Phan Tấn Thành, OP

Ân xá trong Năm Thánh Lòng Thương Xót

WHĐ (24.12.2015) – Trong Thư đề ngày 01 tháng Chín gửi cho Đức Tổng giám mục Rino Fisichella, Chủ tịch Hội đồng Toà Thánh về Tân Phúc Âm Hóa, Đức Thánh Cha Phanxicô nói ngài “mong muốn Năm Thánh là một cảmnghiệm sống động về sự gần gũi của Chúa Cha; Đấng có lòng nhân từ như có thể chạm đến được, để đức tin của mỗi tín hữu được củng cố và do đó chứng tá về lòng nhân từ ấy trở nên hữu hiệu hơn bao giờ hết”.

Sunday, January 3, 2016

HIỀN SĨ, ĐẠO SĨ, BA VUA?

Các hiền sĩ triều bái Chúa Hài Nhi (Adoração dos Magos của Gil Vicente)
Theo truyền thống có từ thế kỷ 12 mô tả 3 hiền sĩ viếng Chúa Hài Nhi: Balthasar, người trẻ nhất, dâng trầm hương và đại diện cho Châu Phi. Người đứng bên trái là Caspar, trung niên, dâng vàng và đại diện cho Châu Á. Người quỳ gối là Melchior, lớn tuổi nhất, dâng một dược và đại diện cho Châu Âu.

Khi tường thuật về thời thơ ấu của Chúa Giêsu, Thánh Matthêu có nhắc đến “ba vua” đến viếng Chúa Hài Nhi: “Vậy khi Đức Chúa Jêsu đã sinh ra ở Bethlehem đất họ Juđa, đời vua Hêrôđê, thì có ba vua ở phương Đông đến thành Jerusalem” [1] (Mt 2,1). “Ba vua” này là ai? Các bản dịch Thánh Kinh tiếng Việt về sau dịch danh xưng này cũng khác nhau: đạo sĩ, nhà chiêm tinh, thầy bác sĩ, nhà bác học, nhà thông thái [2]... Chúng ta thử tìm hiểu ý nghĩa của từ gốc Latinh “magi” và tìm hiểu xem cách dịch nào tốt hơn.

Wednesday, December 16, 2015


Khi Cửa không chỉ là Cửa? Mà là “Cửa Thánh”

Tất cả mọi chuyện bạn muốn biết về các Cửa Thánh, là thế nào, lúc nào, nơi nào, và tại sao bạn nên bước qua?

The Holy Door is the northernmost door of St. Peter's Basilica. It is only opened at special occasion during a Holy year such as the Jubilee year which occurs every 25 years and symbolizes an invitation to grace. It is also known as Porta Sancta. The last

Cửa Thánh là gì?
Một Cửa Thánh [Porta Sancta] là một cửa đặc biệt ở một nhà thờ chính tòa hay vương cung thánh đường, chỉ mở trong những Năm Toàn xá. Theo truyền thống, Cửa Thánh là cửa ở Vương cung Thánh đường thánh Phêrô. Sau khi Năm Toàn xá kết thúc, cửa được niêm phong bằng gạch và vữa, sẽ không được mở cho đến Năm Toàn xá tiếp theo.

Monday, December 7, 2015

Chúa Giêsu Giáng Sinh Năm Nào?

Có thể người ta vẫn nghĩ là Chúa Giêsu giáng sinh năm 0 (năm Không, năm Zero) – khoảng giao niên giữa năm 1 trước công nguyên (TCN) và năm 1 sau công nguyên (SCN), nói chung là khoảng năm 6-7 TCN. Chứng cớ từ Kinh Thánh và các Giáo phụ cũng khác nhau.

Chắc chắn không phải là năm 0 (zero). Chứng cớ cho thấy Chúa Giêsu cũng không sinh năm 1. Đó là điều khá ngạc nhiên, vì chúng ta thường dùng những con số có số 0, nhưng số 0 không là khái niệm để tính năm.

Có thể nghĩ thế này: Cứ thử nghĩ mình có một đứa con và muốn dự định các sự kiện liên quan ngày sinh của đứa con đó. Năm thứ nhất trước khi đứa con sinh ra hẳn là năm 1 SCN, còn năm thứ nhất sau khi đứa con sinh ra hẳn là năm 1 (sinh nhật thứ nhất) là năm đầu tiên của đứa con. Nếu người con là Chúa, hẳn là năm thứ nhất của Chúa, nghĩa là SCN. Như vậy, không có năm 0 giữa năm 1 TCN và năm 1 SCN. Vậy Chúa Giêsu sinh năm nào?

Tuesday, November 24, 2015

Tội Mại Thánh (simonia) là tội gì?

Sách Tông Đồ Công Vụ kể chuyện một người phù thủy tên là Simon, từng làm nhiều trò ảo thuật để mê hoặc  dân chúng về “quyền năng vĩ đại” của mình.
Anh này cũng đến nghe các Tông Đồ giảng và được chịu phép rửa tội. Thấy các Tông Đồ đặt tay ban ơn Chúa Thánh Thần cho các tín hữu, anh rất  thích thú  nên đã ngỏ ý biếu tiền cho các Tông Đồ để xin đặc quyền ban ơn ấy, nhưng  đã bị Thánh Phêrô quở trách nặng nề  như sau: “Tiền bạc của anh sẽ tiêu tan luôn với anh, vì anh tưởng có thể lấy tiền mà mua ân huệ của Thiên Chúa sao?” (Tđcv 8: 9-24). Nghe thế, anh phù thủy kia sợ hãi và van xin Phêrô và Gioan xin Chúa cho anh khỏi bị án phạt đó.

Thursday, November 19, 2015

Tìm hiểu
GIÁO SĨ, TU SĨ VÀ GIÁO DÂN KHÁC VÀ GIỐNG NHAU THẾ NÀO?

Hỏi: Xin cha giải thích thêm về vai trò và trách nhiệm của giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân trong Giáo Hội và tại sao tu sĩ không được cử hành các bí tích như giáo sĩ?

Saturday, November 14, 2015

CHIA SẺ LỜI CHÚA

Thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra.

1. Những gì sẽ xảy ra trước Ngày Tận Thế: Trình thuật hôm nay tiếp liền trình thuật chiến tranh sẽ xảy ra và các tai ương dồn dập tới. Chúa Giêsu nói với dân chúng: "Nhưng trong những ngày đó, sau cơn gian nan ấy, thì mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống, và các quyền lực trên trời bị lay chuyển." Các hành tinh của thái dương hệ sẽ không còn chiếu sáng thường được đề cập tới trong sách Tiên-tri như (Amo 8:9, Joel 2:10, 3:15, Eze 32:7, 8, Isa 13:10, 34:4).

Đoạn Cuối

Càng về cuối Năm Phụng Vụ, Lời Chúa càng xoáy sâu vào chủ đề Tận Thế, hướng tới Ngày Cánh Chung, ngày Chúa Giêsu Kitô tái lâm để xét xử công minh theo cách sống của mọi người – bất luận nam, phụ, lão, ấu.

Dĩ nhiên Ngài cũng chẳng phân biệt hoặc cần biết đó là ai: “Thiên Chúa là Đấng không vị nể ai, nhưng cứ theo công việc mỗi người mà xét xử” (1 Pr 1:17a). Đó là điều chúng ta phải tự biết “liệu hồn” mà chấn chỉnh cách sống: “Anh em hãy đem lòng kính sợ mà sống cuộc đời lữ khách này” (1 Pr 1:17b).

Sunday, November 1, 2015

THÁNG CÁC LINH HỒN
TÌM HIỂU ÐẠI CƯƠNG VỀ ÂN XÁ

Người Công Giáo ngày nay không để ý mấy đến Ân Xá. Nhiều người, nhất là người trẻ còn tránh né đề cập đến Ân Xá vì những hiểu lầm do những tuyên truyền và chống đối của các giáo phái Tin Lành gây ra.  Trong phạm vi bài này chúng tôi xin tóm lược những giáo huấn của Hội Thánh về Ân Xá để giúp chúng ta tận dụng kho tàng ơn phúc quý trọng và châu báu này.


1. Những hiểu lầm về Ân Xá.
Qua sự tuyên truyền của người Tin Lành và sự thiếu hiểu biết của người Công Giáo, nhiều người nghĩ lầm rằng:
·     Ân Xá có thể tha tội trọng mà không cần xưng tội.
·     Ân Xá tha cả những tội chúng ta sẽ phạm trong tương lai.
·     Khi đã lãnh Ân Xá thì không cần chừa tội cũng lên Thiên Ðàng.
·     Ân Xá tha cả tội của những người đã chết trong tội trọng mà không ăn năn.
·     Ân Xá bảo đảm phần rỗi.
·     Ân Xá chỉ được lãnh trong những dịp đặc biệt, nghiã là vài lần trong một năm.
·     Ân Xá còn có giá trị hơn Phép Thánh Thể.
·     Có thể mua Ân Xá…
Tất cả những điều trên đều là hiểu lầm và sai lầm. Vậy Ân Xá là gì?

Thursday, October 15, 2015

Nhà mộ đặc biệt của con đại gia Sài Gòn xưa trong nhà thờ Hạnh Thông Tây

(TNO) Nhà thờ Hạnh Thông Tây (góc đường Quang Trung - Lê Văn Thọ, Q.Gò Vấp, TP.HCM) được xây dựng từ năm 1921 - 1924theo phong cách kiến trúc Byzantine (mái vòm hình tròn) mô phỏng Vương Cung Thánh Đường Thánh Vitale ở thành phố Ravenna, Ý.

Trước đây nhà thờ có tháp chuông nhọn cao 30 m, nhưng do ở gần sân bay nên phải “hớt” phần chóp, chỉ còn lại phần mái bằng cao 19,5 m. Trên cửa chính nhà thờ có tượng thánh Denis, là tên thánh của ông Lê Phát An - người bỏ tiền ra xây dựng nhà thờ này, nên thánh Denis cũng là thánh bảo hộ nhà thờ Hạnh Thông Tây.

Ông Lê Phát An là con trưởng của đại phú hộ Lê Phát Đạt (Huyện Sỹ) nổi tiếng Sài Gòn xưa, từng du học bên Pháp.

Bên trong nhà thờ có mộ của vợ chồng ông Lê Phát An (cậu của Nam Phương Hoàng hậu) nằm đối xứng hai bên hông nhà thờ, gần cung thánh. Trước mộ vợ có tượng người chồng quỳ cầu nguyện, ngược lại trước mộ chồng là tượng người vợ, tay cầm hoa ôm choàng lấy bia mộ chồng.

Một số hình ảnh bên trong nhà mộ cậu Nam Phương Hoàng hậu :



Ông Lê Phát An là người bỏ tiền ra xây nhà thờ Hạnh Thông Tây nên sau khi hai ông bà qua đời, thi hài của họ được an táng trong nhà thờ như một cách ghi ơn. Hai ngôi mộ ở hai bên hông nhà thờ, gần cung thánh. Nhìn tổng thể nhà thờ như hình một cây thánh giá với phần đầu là cung thánh, hai nhà mồ lồi ra như nét ngang còn phần đuôi là loạt ghế quỳ của giáo dân chạy dài đến cửa chính nhà thờ.



Hai ngôi mộ của vợ chồng ông Lê Phát An được đặt ở hai bên hông nhà thờ. Đẹp và cảm động là trước mộ của người vợ thì có tượng của người chồng đang quỳ cầu nguyện, ngược lại trước mộ của chồng là tượng người vợ ôm choàng lấy bia mộ. Hai pho tượng được tạc bằng đá cẩm thạch trắng còn mộ phần bằng đá hoa cương. Riêng phần tượng được chạm khắc sống động, tinh tế đến từng nét.



Bia mộ ông Lê Phát An chỉ ghi ngày và nơi mất (17.9.1946 tại Sài Gòn, thọ 78 tuổi) mà không ghi năm sinh. Mộ của bà (Trần Thị Thơ) cũng thế, chỉ ghi mất tại Thủ Đức ngày 18.1.1932, thọ 60 tuổi. Như vậy ông sinh năm 1868, bà sinh năm 1872 nhưng bà lại mất trước ông những 14 năm.


Tượng ông quỳ cầu nguyện bên mộ bà. Tượng ông đầu đội khăn đóng, mặc áo dài quỳ trên gối, trước gối quỳ có đặt bó hoa ông đem tặng vợ mình.



Ông có đôi mày rậm, để ria mép. Hai bàn tay ông đan vào nhau đưa lên phía trước ngực, nét mặt thành kính nửa như đang cầu nguyện, nửa như đang thầm thì nói chuyện với bà...



Tượng của bà cũng quỳ trên gối, hai tay cầm 2 bó hoa huệ ôm choàng lấy bia mộ của chồng...



Bà để đầu trần, tóc búi, đầu hơi cúi nhìn nghiêng vào mộ ông. Bà mặc áo dài cài nút thắt, cổ đeo dây chuyền có mặt ngọc, chân mang dép mũi hài. Ngón tay áp út của bàn tay trái và ngón giữa bàn tay phải có đeo nhẫn mặt đá hột to, cổ tay phải đeo vòng đá...



Hai bàn tay cầm hai bó hoa của bà được đặc tả đến từng chi tiết: đồ trang sức (nhẫn, vòng), nụ và cánh hoa…



Hoa văn trên mũi hài và trên hai chiếc gối được chạm trổ tinh xảo, tuyệt đẹp...



Mộ và tượng do hai nhà kiến trúc và điêu khắc nổi tiếng người Pháp làA.Contenay và Paul Ducuing thực hiện (P.Ducuing cũng là người làm hai pho tượng cho lăng vua Khải Định)...
-----------------------------------
Hà Đình Nguyên (thực hiện)

Sunday, October 4, 2015

THIÊN THẦN BẢN MỆNH
 Các thiên thần được đề cập hơn 300 lần trong Kinh Thánh, nhưng nhiều người vẫn biết ít về các thiên thần.  Thiên thần luôn ở bên chúng ta mà lại bị chúng ta “quên” hoặc “làm ngơ”, đó là Thiên thần Bản mệnh, cũng gọi là Thiên thần Hộ thủ – lễ ngày 2 tháng Mười

Các thiên thần là các “đặc phái viên” (God’s emissaries) của Thiên Chúa, luôn ở bên chúng ta, mọi nơi và mọi lúc, để canh chừng chúng ta, bảo vệ chúng ta, chiến đấu thay chúng ta.

Năm 1985, sau khi thị kiến Thiên thần Bản mệnh, chị Vassula Ryden đã viết một cuốn sách về Thiên thần Bản mệnh, cuốn “Heaven is Real, But So is Hell” (Thiên Đàng Có Thật, mà Hỏa Ngục cũng Có Thật), phát hành ngày 16-3-2013, thuộc loại “bestseller” (bán chạy như tôm tươi).  Chị đã chia sẻ với hàng triệu người tại 80 quốc gia.  Sách của chị được dịch ra 40 thứ tiếng.  Trang Facebook của chị là “Jesus Is Returning” (Chúa Giêsu sẽ trở lại) đã có hơn 1 triệu lượt ghé thăm, trang Twitter của chị được hơn 200.000 lượt ghé thăm.

Đây là 9 điều chị chia sẻ về các thiên thần:

1.     Thần tốt nhiều hơn thần xấu – Đạo binh thiên thần tốt lành của Thiên Chúa nhiều hơn hẳn về quân số và mạnh hơn hẳn so với tà binh.  Ma quỷ tức giận vì Thiên Chúa yêu thương chúng ta và nên chúng tìm mọi cách để hủy hoại chúng ta.  Tuy nhiên, chúng phải chịu “bó tay”.

2.     Thiên thần nguyện giúp cầu thay – Vũ khí lợi hại nhất mà chúng ta phải sử dụng trong cuộc chiến tâm linh là cầu nguyện.  Chúng ta may mắn vì Thiên thần Bản mệnh luôn cầu thay nguyện giúp cho mỗi chúng ta.  Thiên thần Bản mệnh cầu nguyện cho chúng ta thay lòng đổi dạ và biết trở về với Thiên Chúa, giải hòa với Ngài sau khi chúng ta “nổi loạn”.

3.     Thiên thần Bản mệnh luôn cận kề – Thiên thần Bản mệnh giống như “lính gác”, không bao giờ rời xa chúng ta.  Dù chúng ta đi đâu hoặc làm gì, Thiên thần Bản mệnh vẫn theo dõi, đồng thời Thiên thần Bản mệnh cũng vẫn luôn hiện diện trước Tôn Nhan Thiên Chúa.

4.     Thế giới tâm linh bao quanh chúng ta – Xung quanh chúng ta có cả thiên thần và ma quỷ, ảnh hưởng mọi lúc trong cuộc đời chúng ta.
5.     Cuộc chiến rất dữ dội – Có những cuộc chiến tâm linh xảy ra trong cuộc đời chúng ta, chính chúng ta vẫn tham chiến dù chúng ta có ý thức hay không.

6.     Không phải các thiên thần đều tốt – Các thiên thần sa ngã là ma quỷ.  Luxiphe và các ác thần bị Tổng lãnh Thiên thần Micae và các thần lành xua đuổi vì đã dám phản nghịch chống lại Thiên Chúa.  Ma quỷ luôn tìm các cám dỗ và hủy diệt con cái của Thiên Chúa, chúng ngăn cản để Ý Chúa không được thực hiện trên thế gian này.

7.     Thiên thần bảo vệ chúng ta – Thiên thần bản mệnh bảo vệ chúng ta khỏi sự ác.  Một đêm nọ, chị Ryden thấy con rắn (ma quỷ) muốn hại chị.  Thiên thần Bản mệnh liền triệt hạ con rắn.

8.     Thiên thần muốn tốt cho chúng ta – Khi Thiên thần Bản mệnh đến thăm chị Ryden, ngài cho chị biết tình trạng tội lỗi của chị.  Chị cảm thấy hổ thẹn lắm.  Chị buộc phải nhìn vào nội tâm và thấy những gì Thiên Chúa cũng thấy.  Thiên thần Bản mệnh an ủi chị, muốn chị trở về với Thiên Chúa, và Thiên thần Bản mệnh cho biết sẽ cầu xin Chúa cho chị.

9.     Thiên thần và ma quỷ cùng hiện hữu – Một trong các mưu mô thâm độc nhất của ma quỷ là giả vờ như không hiện hữu.  Nhiều người không muốn nhắc tới ma quỷ, nhưng ma quỷ là có thật, chúng có thể ảnh hưởng tới chúng ta.
Lòng sùng kính các Thiên thần Bản mệnh bắt đầu phát triển từ khi bắt đầu có truyền thống tu trì. Thánh Bênêđictô thúc đẩy việc này cùng với Bernard Clairvaux, nhà cải cách hồi thế kỷ XII và nhà hùng biện về Thiên thần Bản mệnh.  Lòng sùng kính các thiên thần có từ hồi đó.
Lễ kính các Thiên thần Bản mệnh được cử hành lần đầu hồi thế kỷ XVI.  Năm 1615, ĐGH Phaolô V thêm lễ này vào lịch Công giáo Roma.


Trầm Thiên Thu (Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)

Sunday, September 13, 2015


GIẢI ĐÁP THẮC MẮC:

CÓ NGHI THỨC NÀO GỌI LÀ TRAO 'TÁC VỤ PHÓ TẾ VÀ LINH MỤC' KHÔNG?

-------------------------------------------------------

Monday, August 31, 2015

Độc đáo nhà thờ Núi ở Nha Trang

Nhà thờ Núi là một trong những điểm đến độc đáo mà du khách không nên bỏ qua khi đến Nha Trang.

Tọa lạc tại một vị trí đặc địa ở trung tâm thành phố Nha Trang, nhà thờ Núi (tên chính thức là nhà thờ Chánh tòa Kitô Vua) là một nhà cổ rất nổi tiếng với kiến trúc đẹp và còn nguyên bản.

Tuesday, August 25, 2015

Mục tử nhân lành là gì?

Khi giảng về Chúa Giêsu là Mục tử nhân lành, tôi có hỏi giáo dân, “tử” là gì. Nhiều người không biết trả lời, có người nói: “tử” là chết! Cũng có người nói “tử” là con. Thuật từ này tưởng đơn giản, nhưng thật ra không đơn giản chút nào. Trong Thánh Kinh, mục tử được dùng để dịch chữ pastor của tiếng Latin, mà bản tiếng Anh là shepherd, có khi cũng dùng chữ pastor. Vậy, thử tìm hiểu mấy chữ này có nghĩa gì.


Saturday, August 8, 2015

Giải tội tập thể?

Hỏi (chi tiết): Tìm hiểu về việc "Giải tội tập thể"
Đáp: 
I- Giải tội tập thể là gì?
“Giải tội tập thể” hay “xá giải chung” (general absolution) là việc linh mục cử hành nghi thức Giải Tội bí tích cho một tập thể hối nhân, mà trước đó không có xưng tội riêng từng người. Đây là một trường hợp rất đặc biệt, không phải là việc được phép thực hành thường xuyên trong Giáo hội.

Sunday, July 26, 2015

GIÁO HOÀNG - GIÁO CHỦ- GIÁO TÔNG?

Sau năm 1975, trên báo chí, thấy xuất hiện một số cách gọi vị đứng đầu Giáo Hội hoàn vũ là Giáo Chủ hay Đức Giáo Chủ, mà không gọi như trước là Đức Giáo Hoàng hay Đức Giáo Tông. Về phía Giáo Hội thì cũng chỉ xưng Đức Thánh Cha. Chúng ta thử tìm hiểu xem cách gọi nào tốt hơn.

1. Các danh xưng  của  vị thủ lãnh tối cao của Giáo Hội hoàn vũ (Caput Universalis Ecclesiae, Supreme leader of the Church).
 
Theo thứ tự được ghi trong Niên Giám Giáo Hoàng 2007 như sau:
(1). Giám mục Rôma (Episcopus Romanus, Bishop of Rome).
(2). Vị Đại diện Chúa Kitô (Vicarius Christi, Vicar of Christ).
(3). Đấng kế vị Thánh Phêrô, Thủ lãnh các tông đồ (Successor principis apostolorum, Successor of the Prince of the Apostles).
(4). Thượng Giáo Chủ của toàn thể Giáo Hội (Summus Pontifex Ecclesiae Universalis, Supreme Pontiff of the Universal Church) hay vắn tắt là Thượng Giáo Chủ (Đại Trưởng Tế, Đức Giáo Hoàng ) (Pontifex Maximus, Maximus Pontiff ).
(5). Giáo Trưởng nước Ý (Primas Italiae, Primate of Italy).
(6). Tổng giám mục và tổng giáo chủ (Đại giám mục) Giáo tỉnh Rôma (Archiepiscopus et metropolitanus provinciae ecclesiasticae Romanae, Archbishop and Metropolitan, từ hai chữ meter: “mẹ” và polis: “thành phố” of the Roman Province).
(7). Quốc vương nước Vatican (Princeps sui iuris civitatis Vaticanae, Sovereign of the State of the Vatican City).
(8). Tôi tớ các tôi tớ của Thiên Chúa (Servus Servorum Dei, Servant of the Servants of God).
Ngoài ra, Giáo Luật (x. Can 331) còn ghi những danh xưng như:  
(9). Đức Giáo Hoàng Rôma (Romanus Pontifex, The Roman Pontiff).
(10). Thủ lãnh của Giám Mục đoàn (Caput collegii, Head of the college of Bishops).
(11). Chủ chăn của toàn thể Giáo Hội trên trần gian (Universae Ecclesiae his in terris Pastor, Pastor of the universal Church on earth).
Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI đã bỏ danh xưng Thượng phụ Giáo Chủ Tây Phương (Patriarcha Occidentis, Patriarch of the West) ra khỏi Niên Giám Giáo Hoàng từ năm 2006.

Tuesday, July 7, 2015

Những điều ít biết trong nhà thờ Đức Bà Sài Gòn

6 quả chuông nặng gần 30 tấn, đàn organ cổ nhất nhì Việt Nam, đồng hồ khổng lồ... trong nhà thờ Đức Bà Sài Gòn gần 140 năm tuổi rất ít người biết đến.
Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn được xây năm 1877, hoàn thành ba năm sau đó với tổng kinh phí khoảng 2,5 triệu France Pháp theo tỷ giá thời bấy giờ. Công trình dài 91 m; rộng 35,5 m; vòm mái chính cao 21 m và hai tháp chuông cao gần 57 m. Toàn bộ xi măng, sắt thép đến ốc vít đều mang từ Pháp sang. Mặt ngoài của công trình xây bằng loại gạch làm tại Marseille để trần, không tô trát, không bám bụi rêu (đến nay vẫn còn màu sắc hồng tươi).

Sunday, July 5, 2015

QUAN ĐIỂM 

của GIÁO HỘI CÔNG GIÁO
về HÔN NHÂN ĐỒNG TÍNH

 Ngày 26.6.2015, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ phán quyết rằng các cặp đồng tính có quyền thành hôn ở bất cứ nơi nào ở trong nước, và như thế đã vô hiệu hóa luật pháp tại một số tiểu bang nghiêm cấm hôn nhân đồng phái tính.

Hiện các cặp đồng tính nam và nữ được quyền thành hôn tại 36 tiểu bang và thủ đô Washington. Phán quyết của Tòa án Tối Cao sẽ nới rộng quyền này đến tất cả 50 tiểu bang của Hoa Kỳ.

Tòa án biểu quyết với đa số 5 phiếu thuận và 4 phiếu chống, ủng hộ các cuộc hôn nhân đồng giới tính. Phán quyết của bên đa số viết rằng: “Khước từ quyền được thành hôn của các cặp đồng giới sẽ có tác động nghiêm trọng và lâu dài. Việc áp đặt lệnh cấm thành hôn đối với thành phần đồng giới nam và nữ, có tác dụng không tôn trọng và áp chế họ. Và Điều khoản về Quyền được Bảo vệ Bình đẳng, cũng như Điều khoản về Quyền được Hệ thống Pháp lý Đối xử Công Bằng nghiêm cấm việc vô cớ vi phạm quyền cơ bản được kết hôn".

Quan điểm của Giáo Hội Công Giáo như thế nào ? Chúng tôi xin gởi theo đây hai tài liệu nói về quan điển của Giáo Hội Công Giáo đối với hôn nhân đồng tính.

1. Bài của Lm. Đoàn Quang, CMC, đã trình bày quan điểm của Giáo Hội Công Giáo về hôn nhân đồng tính.

2. Thư của Bộ Giáo Lý Đức Tin năm 1986 gửi cho các Giám Mục Công Giáo về việc chăm lo mục vụ cho những người đồng tính.

***************************************************