Showing posts with label NGHI THỨC. Show all posts
Showing posts with label NGHI THỨC. Show all posts

Sunday, May 21, 2023

THÁNG HOA KÍNH ĐỨC MẸ

1. Tên gọi nguyên thủy của tháng 5:

Tháng 5 trong lịch Gregoriana được gọi bằng tiếng La-tinh là Maius.  Các ngôn ngữ có gốc La-tinh cũng đều sử dụng chữ Maius này để đặt tên cho tháng 5 của mình: Mai (tiếng Pháp), May (tiếng Anh), Maggio (tiếng Ý), và Mai (tiếng Đức) v.v…  Nó có nghĩa là Mùa Xuân.

Theo chứng tích của một loạt các tác giả La-tinh, thì Maius là tên của một nữ thần mà người Rô-ma cổ đại rất tôn kính.  Cứ vào đầu tháng 5, tức tháng Maius, thì một vị tư tế của thần Volcanus – tức thần lửa – sẽ dâng cho nữ thần Maius những tế phẩm mới.  Cũng có thể vì thế mà nữ thần Maius còn có một tên gọi khác là “Maia Vulcani,” tức Vợ của thần Volcanus.  Người Rô-ma xưa đã đặt tháng Maius là tháng đầu tiên trong năm canh nông.  Dưới thời hoàng đế Nê-rôn (37- 68), tháng Maius đã được đổi tên thành tháng Claudius, tức tên của chính vị bạo chúa này.  Rồi dưới thời hoàng đế Commodus (161 – 192), tháng này đã bị đổi tên thành Lucius, tức tên của chính ông.  Tuy nhiên, sau khi vị hoàng đế này qua đời, tháng 05 lại được gọi theo tên nguyên thủy là Maius.

Theo lịch của người Rô-ma cổ đại, trước khi lịch Julian xuất hiện, thì tháng Maius là tháng thứ ba.  Còn theo lịch Julian, thì tháng này là tháng thứ năm với 31 ngày.  Điều đặc biệt của tháng 5 là ngày đầu tiên của tháng này luôn luôn trùng Thứ (tức ngày trong Tuần) với ngày mồng 01 của tháng 01 năm sau, ví dụ: ngày mồng 01 tháng 5 năm 2020 rơi vào ngày thứ Sáu, thì ngày mồng 01 tháng 01 năm 2021 cũng là ngày thứ Sáu.  Trong khi các tháng khác, không tháng nào có ngày đầu tiên trùng Thứ như thế.


2. Tháng  5 – Tháng Hoa Kính Đức Mẹ:

Vậy tại sao người ta lại đặt tên cho tháng 5 – tháng Maius – là tháng Đức Maria, hay tháng Hoa Kính Đức Mẹ?  Như đã nói ở trên, tháng Maius là tháng thứ ba theo lịch Rô-ma cổ đại.  Người Rô-ma thời ấy dành riêng tháng này để tôn kính Nữ Thần Mùa Xuân cũng như để mừng kính sự Đâm Chồi Nẩy Lộc sau một mùa Đông héo tàn.  Người Rô-ma xưa cũng gọi nữ thần này là Iupiter Maius.  Cũng có thời gian người Rô-ma coi ngày mồng 01 tháng 5 là ngày Lập Hạ.  Vì sự nở rộ của các loài hoa cũng như vì sức sống của Mùa Xuân, nên tháng 05 đã được coi là tháng đẹp nhất trong năm.

Còn theo truyền thống Công giáo, Đức Maria được coi là “người đẹp nhất trong giới phụ nữ.”  Trong linh đạo Công giáo, Đức Maria luôn được coi là “Đóa hồng của ơn cứu độ,” hay “Mùa Xuân của ơn Cứu Độ.”  Vào đầu thời Trung Cổ, các bức ảnh hay bức tượng của Đức Mẹ thường được đặt ở giữa những bông hoa, vì các loài bông, đặc biệt là bông hồng, chính là biểu tượng cho sự “tràn đầy ân sủng” của Đức Maria.  Và những bông hoa ấy cũng là biểu tượng của Địa Đàng đã mất.  Bên cạnh đó, truyền thống Công giáo cũng thường trình bày Đức Maria là “Bông Hồng không gai”, hay “đóa hoa đẹp nhất.”  Trong khi đó, các bông Đuôi Diều, Hải Quỳ và Cẩm Chướng lại được dùng để làm biểu tượng cho “sự đau đớn của Đức Mẹ,” còn những bông Linh Lan thì được dùng để làm biểu tượng cho sự tràn đầy ân sủng của Người, cũng như là biểu trưng cho ơn cứu độ thế giới.

Người ta đoán rằng, việc dành tháng 5 để tôn kính Đức Maria đã có tại Tây-Ban-Nha và Bồ-Đào-Nha ngay từ hồi thế kỷ XIII.  Hồi ấy, một vài xứ đạo của hai quốc gia trên đã sử dụng tháng 05 để tổ chức những cuộc rước hoa, cũng như để đem những bó hoa đến dâng kính cho Đức Mẹ.  Còn tại Thụy Sĩ, việc dành ngày đầu tháng 5 để tôn kính Đức Mẹ đã có từ đầu thế kỷ XIV với Chân Phúc Heinrich Seuse (Henri Suzo [OP] – 1297-1366): cứ vào ngày đầu tiên của tháng 05, thì Ngài sẽ dành cho Đức Mẹ một sự tôn kính đặc biệt, và dùng những bông hoa để trang hoàng cho những bức tượng của Đức Mẹ.  Ở Ý, vào thế kỷ XVI, Thánh Philiphê Neri (1515-1595) luôn có thói quen là cứ đến ngày mồng 01 tháng 5 hàng năm thì tập trung các em thiếu nhi Công Giáo lại quanh bàn thờ Đức Mẹ để dâng cho Người những bông hoa tươi thắm và đầy sắc hương.  Có tài liệu cho rằng, ngay từ đầu thế kỷ XVII, các nữ tu Dòng Phanxicô tại vùng Napoli của Ý, đã dành cả tháng 05 như là tháng để cử hành việc tôn kính Đức Mẹ cách long trọng trong thánh đường kính thánh Clara của Dòng mình: chiều nào các Nữ Tu ấy cũng đều hát kinh kính Đức Mẹ, kết hợp với việc nhận Phép Lành Mình Thánh Chúa.  Và kể từ đó, tháng kính Đức Mẹ đã nhanh chóng lan rộng ra khắp các Giáo xứ trong vùng.  Tuy nhiên, cũng có tài liệu cho rằng, việc dành cả tháng 5 để làm tháng Hoa kính Đức Mẹ chỉ mãi tới thế kỷ XVIII mới xuất hiện lần đầu tiên tại Ý.  Dù sao thì sang thế kỷ XIX, việc sử dụng tháng 05 như là tháng Hoa Kính Đức Mẹ đã trở nên khá phổ biến tại khắp Âu Châu.  Vào ngày mồng 01 tháng 5 năm 1841, ba Nữ Tu Dòng Chúa Chiên Lành đã cử hành việc dâng hoa kính Đức Mẹ lần đầu tiên tại Tu Viện Haidhausen của họ ở München, Đức Quốc, và đó cũng được coi là buổi tiến hoa kính Đức Mẹ đầu tiên tại Đức.

Ngoài việc tiến hoa kính Đức Mẹ ra thì nội dung của các buổi cử hành này cũng rất phong phú và đa dạng.  Trước khi tiến hoa, người ta thường Lần Chuỗi, đọc các bài suy niệm về Đức Mẹ, cũng như đọc nhiều những lời nguyện cầu cùng Đức Mẹ, và hát những ca khúc khác để mừng kính Người.  Vào ngày mồng 01 tháng 05 năm 1965, Đức Thánh Cha Phao-lô VI đã công bố Thông Điệp “Mense maio” để chính thức nhìn nhận tháng 05 là tháng kính Đức Mẹ trong Giáo hội Công giáo.  Ngài cho rằng, “quả là một truyền thống quý báu khi các vị tiền nhiệm đáng kính của Cha vẫn luôn chọn tháng 5, tức tháng Kính Đức Mẹ, để mời gọi toàn dân Ki-tô giáo cùng nhau cầu nguyện mỗi khi Giáo hội có nhu cầu, hay mỗi khi có một mối nguy hiểm nào đó đe dọa thế giới” (số 3).

Ngoài ra, tháng 5 không chỉ được gọi là tháng kính Đức Mẹ Thiên Chúa, nhưng đôi khi, tháng này cũng còn được người Công giáo gọi là Vầng Nguyệt Maria.  Việc tôn kính Đức Maria trong tháng này thường được cụ thể hóa bằng việc Lần Chuỗi kết hợp với việc dâng tiến hoa. 

3. Tháng Hoa tại Việt Nam

Việt nam là quốc gia có khí hậu nhiệt đới nên hoa nở quanh năm ngày tháng.  Có một số loài hoa chỉ nở theo mùa như hoa Mai, hoa Đào, hoa Gạo, hoa Bằng Lăng hay hoa Phượng v.v…, nhưng cũng có những loài hoa nở mọi lúc, mọi nơi, chẳng hạn như hoa Hồng, hoa Huệ hay hoa Cúc v.v…  Tuy nhiên, có lẽ tháng 5 là tháng đa dạng và phong phú nhất của các loài hoa.  Người Việt nam vốn rất yêu hoa và luôn dành cho hoa một sự trân trọng đặc biệt.  Rất nhiều bậc cha mẹ muốn sử dụng tên của các loài hoa để đặt tên cho con gái của mình, chẳng hạn như Huệ, Phượng, Mai, Đào, Lan hay Cúc v.v…  Khi việc dành tháng 5 như là tháng Hoa để tôn kính Đức Maria được du nhập vào Việt nam, thì các tín hữu Công giáo ở đây đã hưởng ứng với tất cả sự hồ hởi.  Chính vì thế, việc tiến hoa kính Đức Mẹ trong tháng 5 đã mau chóng được tổ chức tại hầu hết các Giáo xứ.  Trước đây, trong các buổi tiến hoa, việc Lần Chuỗi luôn được coi là thành phần quan trọng và không thể thiếu.  Tuy nhiên, ngày nay, một số nơi xem ra đã bỏ qua việc Lần Chuỗi, và chỉ chú trọng tới việc tiến hoa mà thôi.  Bỏ Lần Chuỗi trong các buổi tiến hoa như thế, không biết có nên và có tốt hay không?  Dù gì thì đó cũng là một cách thực hành không sát lắm với truyền thống.  Trước đây, các buổi tiến hoa trong tháng 5 thường được tổ chức khá đơn giản, với 5 cặp tiến hoa đại diện cho năm sắc hoa.  Những thiếu nữ trên dưới 10 tuổi được chọn để làm người tiến hoa được gọi là những “Con Hoa.”  Tuy nhiên, trong nhiều xứ đạo ngày nay, việc tiến hoa đã được tổ chức hết sức cầu kỳ và trang trọng.  Người ta không còn chỉ sử dụng 10 “Con Hoa” để dâng hoa nữa, nhưng đã sử dụng tới cả trăm Con Hoa hoặc hơn nữa.  Các Con Hoa bây giờ không chỉ là các thiếu nữ trên dưới 10 tuổi, nhưng còn là những phụ nữ thuộc đủ mọi lứa tuổi, và thậm chí có cả nam giới nữa.  Những buổi dâng hoa với các Con Hoa thuộc đủ mọi giới và đủ mọi lứa tuổi như thế, được gọi là những buổi Đại Đồng Tiến Hoa.

Kết luận

Để kết thúc bài viết này, xin được nhắc lại nguyên văn những lời sau đây của Đức Thánh Cha Phao-lô VI: “Chính vì tháng 5 luôn khơi lên những lời cầu nguyện thẳm sâu và đầy lòng tín thác, và cũng vì trong tháng 5 này, những lời khẩn xin của chúng ta có thể dễ dàng đến được với trái tim đầy nhân hậu của Đức Nữ Trinh, nên việc chọn tháng 5 này để kêu mời Dân Ki-tô giáo cùng nhau cầu nguyện bất cứ khi nào Giáo hội có nhu cầu, hay bất cứ khi nào thế giới bị đe dọa bởi một mối nguy nào đó, là một thói quen rất quý báu mà các vị tiền nhiệm của Cha đã thực hiện.  Và kể cả chúng ta nữa, hỡi các bậc chư huynh đáng kính, trong năm [mừng kỷ niệm lần thứ 50 ngày Đức Mẹ hiện ra tại Fatima – (dg)] này, cũng cảm thấy cần phải đưa ra cho toàn thế giới Công giáo một lời kêu mời tương tự.  Thực ra, khi chúng ta nghĩ tới những nhu cầu hiện tại của Giáo hội, cũng như nghĩ tới sự bình an của thế giới, thì chúng ta sẽ có đủ mọi lý do chính đáng để tin rằng, đây chính là giờ phút đặc biệt nghiêm trọng và khẩn thiết hơn bao giờ hết, đòi buộc chúng ta phải kêu gọi toàn dân Ki-tô giáo cùng nhau cầu nguyện” (Mense maio, 3).

Lm. Đaminh Trần Tiến Thiệu

Sunday, April 9, 2023

Lịch sử và các truyền thống ngày Thứ Bảy Tuần Thánh

 



D.D. Emmons 

Nếu bạn mừng Lễ Vượt Qua tại Giêrusalem vào năm 30 Công nguyên, có thể bạn nghe tin Hội đồng Sanhedrin đã bắt Đức Giêsu Nazarét. Ngài bị buộc tội phạm thượng – một tội chết theo luật lệ Do Thái. Nhưng người Do Thái không có quyền thi hành hình phạt này và đã thuyết phục quân đội Rôma đang chiếm đóng rằng Đức Giêsu cũng phạm tội nổi loạn và xúi giục dân chúng nổi lên chống đối Rôma. Quan Philatô của Rôma không tìm thấy lỗi phạm nghiêm trọng nào của Đức Giêsu nhưng rốt cuộc đã nhượng bộ cho những đòi hỏi của người Do Thái. Đức Giêsu bị đóng đinh và chôn cất trong mộ.

Hôm sau cuộc Đóng Đinh là ngày sabát của người Do Thái, một ngày được dành riêng cho Thiên Chúa, ngày không được làm việc. Đó là ngày thứ Bảy, được biết là ngày Thứ Bảy Tuần Thánh – một phần của Tam Nhật Phục Sinh. Những người đi theo Đức Kitô bị suy sụp vì đau buồn đã phải chỗi dậy vào ngày ấy trong một trạng thái hoang mang, vẫn còn chao đảo vì những biến cố của ngày thứ Sáu. Có thể nào người mà họ gọi là Đấng Cứu Thế đã chết sao? Làm sao điều này xảy ra được? Cũng như ngày nay khi chúng ta kinh nghiệm được sự u ám của ngày Thứ Bảy Tuần Thánh, chúng ta cũng hoang mang chút ít, dù chúng ta đã biết câu chuyện kết thúc như thế nào. Đó là một ngày u buồn và tăm tối, nhưng chúng ta biết sự u buồn và tăm tối cuối cùng sẽ dẫn tới niềm vui. Chúng ta biết rằng Đấng Cứu Thế của chúng ta đã phục sinh. Ngôi mộ không còn nhốt được Ngài nữa.

Lính canh ở ngôi mộ

Chỉ có Tin Mừng Matthêô là có đề cập đến các biến cố xảy ra ở đấy vào ngày sabát, ngày Thứ Bảy Tuần Thánh. Vào ngày hôm sau cuộc Đóng Đinh, người Do Thái (những người phái Pharisiêu) đi đến quan Philatô và hỏi xin ông đặt lính canh tại ngôi mộ Đức Giêsu (Mt 27,63-65). Họ nói với Philatô rằng: “Thưa ngài, chúng tôi nhớ tên bịp bợm ấy khi còn sống có nói: ‘Sau ba ngày, Ta sẽ trỗi dậy’. Vậy xin quan lớn truyền canh mộ kỹ càng cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đệ hắn đến lấy trộm xác rồi phao trong dân là hắn đã từ cõi chết trỗi dậy. Và như thế, chuyện bịp cuối cùng này sẽ còn tệ hại hơn chuyện trước”. Philatô đồng ý, và một toán lính canh hay nhiều toán lính canh đã đứng cang giữ ngôi mộ.

Khá mỉa mai là kẻ thù của Đức Giêsu đã nghĩ rằng Ngài sẽ chỗi dậy từ cõi chết nhưng bạn bè của Ngài dường như kém quả quyết về điều đó. “Sau ngày sabát, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa ló rạng, bà Maria Mácđala và một bà khác cũng tên là Maria, đi viếng mộ. Thình lình, đất rung chuyển dữ dội: thiên thần Chúa từ trời xuống, đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên; diện mạo người như ánh chớp, và y phục trắng như tuyết. Thấy người, lính canh khiếp sợ, run rẩy chết ngất đi” (Mt 28,1-4).

Thiên thần nói với các chị rằng “Người không có ở đây, vì Người đã trỗi dậy như Người đã nói” (Mt 28,6). Lính canh chạy đến các thượng tế, tường thuật lại tình hình và được đút lót để nói rằng “Ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ của hắn đã đến lấy trộm xác” (Mt 28,13). Làm thế nào mà họ biết được ai đã trộm xác trong khi họ đang ngủ? Điều đó đã chứng minh rằng họ nói láo. Trong khi người Do Thái cử hành ngày sabát và người Rôma ngủ ở ngôi mộ thì Đức Giêsu làm phép lạ.

Xuống ngục tổ tông (âm phủ)

Có một điều khác đang xảy ra vào ngày Thứ Bảy Tuần Thánh – điều mà vài người trong chúng ta bỏ sót hay không hiểu hết - một điều không được đề cập đến trong Kinh Thánh: “Ngài đã xuống ngục tổ tông” (descendit ad inferos). Đây là điều được trích từ Kinh Tin Kính Các Tông Đồ - một tín điều của người Công Giáo. Đức Giêsu đã xuống ngục tổ tông hay âm phủ, nơi mà Ngài mặc dù đang bị đóng đinh, đã chết và đã mai táng, song Ngài đã thực hiện một phép lạ khác là “Tình yêu đã thâm nhập vào âm phủ”.[1] Các Giáo phụ và nhiều người khác đã giải thích rằng “ngục tổ tông” được sử dụng trong Kinh Tin Kính Các Tông Đồ không nói đến một nơi kết án đời đời hay Gehenna. Không, nơi mà Đức Giêsu xuống là “Sheol”, một từ trong tiếng Do Thái để chỉ “âm phủ”. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo nói: “Kinh Thánh gọi nơi trú ngụ của các vong linh là âm phủ (Sheol trong tiếng Do Thái) hoặc âm ty (Hadés trong tiếng Hy Lạp) (x. Pl 2,0; Cv 2,24; Kh 1,18; Ep 4,9). Trước khi Đấng Cứu Chuộc đến, mọi người đã chết, dù lành hay dữ (x. Tv 89,49; Is 28,19; Ed 32,17-32), đều phải vào chốn này. Ở đó, họ không được nhìn thấy Thiên Chúa (x. Tv 6,6; 88, 1-13) và đang chờ đợi Đấng Cứu Chuộc. Số phận của họ không giống hệt nhau, như Đức Giêsu cho thấy qua dụ ngôn Ladarô nghèo khổ được rước vào "lòng Ápraham" (x. Lc 16,22-26). "Khi xuống ngục tổ tông, Đức Giêsu giải thoát chính những tâm hồn lành thánh "trong lòng Ápraham" ấy đang chờ đợi Đấng giải thoát" (x. Giáo lý Rôma 1.6,9). Đức Giêsu xuống ngục tổ tông không phải để giải thoát những kẻ bị án phạt đời đời hoặc để phá hủy địa ngục đọa đày (x. DS 1011; 1077), nhưng để giải thoát những người công chính đã chết trước khi Người đến (x. Công đồng Tôlêđô IV năm 625: DS 485; Mt 27,52-53)” (GLHTCG, Số 633). Đức Giêsu phân biệt Gehenna là nơi “nơi giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt” (Mc 9,48). Như vậy, Đức Giêsu không xuống Gehenna mà xuống Sheol.

Mãi cho đến cuộc Đóng Đinh, “người công chính” thuộc các kỷ nguyên từ lúc bắt đầu thời gian đang chờ đợi trong Sheol (“ngục tổ tông” hay “âm phủ”) để vào nước trời; giờ đây, Đức Giêsu hiến tặng cho họ sự sống đời đời trước mặt Thiên Chúa. “Chúa xuống âm phủ”, bài đọc 2 trích một phần trong bài giảng cổ đọc trong Phụng vụ giờ kinh sách thứ Bảy Tuần Thánh nói rằng: “Ta là Thiên Chúa của ngươi, mà vì ngươi Ta đã thành con của ngươi; giờ đây vì ngươi và vì những kẻ do ngươi sinh ra, Ta phán, và dùng quyền ra lệnh cho những kẻ đang bị xiềng xích: Hãy ra khỏi đây! cho những ai đang ngồi nơi tăm tối: Bừng sáng lên! cho những kẻ đang ngủ mê: Hãy chỗi dậy! Ta đâu dựng nên ngươi để ngươi bị giam cầm trong cõi âm ty! Chỗi dậy đi nào, từ chốn tử vong! Ta là sự sống của những kẻ chết. Chỗi dậy đi, hỡi công trình tay ta nhào nặn ! Chỗi dậy đi, hỡi hình tượng của Ta, đã được dựng nên giống hình ảnh Ta ! Nào chỗi dậy, chúng ta đi khỏi đây”.

Vọng Phục Sinh

Trong lịch sử Giáo Hội, Vọng Phục Sinh không phải luôn bắt đầu vào đêm thứ Bảy Tuần Thánh. Khoảng gần thế kỷ IV, canh thức đêm thứ Bảy gồm Nghi thức thắp nến, phụng vụ Lời Chúa, phụng vụ Phép Rửa và phụng vụ Thánh Thể, kéo dài cho đến nửa đêm, đã được tuân giữ rộng rãi. Bắt đầu vào thế kỷ VIII, canh thức bắt đầu vào chiều thứ Bảy, và vào thế kỷ XII, nó được chuyển sang bắt đầu vào sáng thứ Bảy. Đức Thánh Giáo Hoàng Piô V (1566-1572) đã ban hành một tông sắc vào năm 1566 cấm bất cứ Thánh Lễ nào bắt đầu sau buổi trưa; như vậy, canh thức vào sáng thứ Bảy là bắt buộc. Phần nào đó, lý do cử hành canh thức vào ban ngày là bởi vì thứ Bảy Tuần Thánh là ngày ăn chay nhặt, và người ta buộc phải ăn chay mãi cho đến sau khi rước lễ cho nên canh thức vào thời gian ban đêm thì trễ quá.

Cử hành những nghi thức canh thức vào ban ngày dường như là điều khá lạ lẫm đối với chúng ta ngày nay, nhưng không phải chỉ mình chúng ta mới có ý nghĩ đó. Chẳng hạn, năm 1904, cha Herbert Thurston đã viết trong cuốn sách của mình, cuốn “Lent and Holy Week”,[2] rằng “thật khó cho chúng ta khi tự thuyết phục mình rằng mặt trời đã lặn vào buổi sáng thứ Bảy, đồng hồ đã xoay đi hết vòng, và rằng 24 giờ đã trôi qua từ khi Chúa chúng ta được đặt trong mồ. Tuy nhiên, đó là nỗ lực tưởng tượng mà Giáo Hội đòi hỏi chúng ta”. Giờ giấc kiểu này đã lấy đi tính biểu tượng gắn liền với Nghi thức thắp nến và các biến cố thánh diễn ra trong màn đêm được sử dụng để suy tư về sự phục sinh của Đức Giêsu vào buổi sáng ngày Phục Sinh. Vào thập niên 1950, một ngàn năm sau đó, Giáo Hội đã đưa cử hành canh thức bắt đầu trở lại với màn đêm của tối thứ Bảy Tuần Thánh.
 

Không có cử hành nào khác

Trong một thông tư vào tháng 2 năm 1988 về “việc chuẩn bị và cử hành lễ phục sinh”, Thánh bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích đã viết: “Thứ Bảy Tuần Thánh, Giáo hội ở bên cạnh mồ Chúa để suy niệm việc Chúa chịu thương khó, chịu chết và xuống ngục tổ tông; đồng thời ăn chay và cầu nguyện để trông đợi Chúa Phục Sinh. Hôm nay, cố gắng hết sức để có thể cử hành giờ Kinh Sách và Kinh Sáng chung với giáo dân. Ở đâu không cử hành được thì cử hành Phụng vụ Lời Chúa hoặc làm các việc đạo đức khác thích hợp với mầu nhiệm cử hành hôm nay. Nên trưng bày trong nhà thờ hình ảnh Chúa Kitô chịu đóng đinh trên thánh giá, hoặc táng xác trong mồ, hoặc xuống ngục tổ tông minh họa mầu nhiệm ngày Thứ Bảy Tuần Thánh, cũng như hình ảnh Đức Mẹ Sầu Bi, để giáo dân suy niệm và cầu nguyện”.
 
[1] Đức Bênêđictô XVI, Suy niệm Chúa Nhật V Phục Sinh, ngày 2 tháng 5 năm 2010.
[2] Herbert Thurston, Lent and Holy Week: Chapters on Catholic Observance and Ritual, Longmans, Green, 1904, 487 trang.
 
----------------------------------------------------------
 Lịch sử và truyền thống của Thứ Bảy Tuần Thánh


LỊCH SỬ VÀ TRUYỀN THỐNG CỦA THỨ BẢY TUẦN THÁNH

D. D. Emmons

WHĐ (15.4.2022) - Nếu có mặt vào thời điểm cử hành Lễ Vượt Qua ở Giêrusalem vào năm 30, chúng ta có thể nghe kể về một Công nghị Do thái đã bắt giữ, xét xử và kết án Chúa Giêsu người Nazarét về tội phạm thượng, một tội danh có thể bị kết án tử hình theo luật Do thái. Nhưng người Do thái không có đủ thẩm quyền để thực hiện bản án này, nên họ đã nại đến Philatô, viên Tổng trấn Roma, để kết án Chúa Giêsu về tội phản loạn chống lại Roma. Mặc dù không thể tìm ra lỗi nghiêm trọng nào nơi Chúa Giêsu, nhưng vì bị khuất phục trước yêu cầu của người Do thái, Philatô đã kết án đóng đinh Người. Và thực, Chúa Giêsu đã chết trên thập giá và được mai táng trong mồ.

Ngay sau ngày Chúa Giêsu bị đóng đinh là ngày Sabát của người Do Thái, ngày dành riêng cho Thiên Chúa, không ai được làm bất cứ việc gì. Đó là thứ Bảy, ngày mà chúng ta gọi là Thứ Bảy Tuần Thánh - một phần của Tam Nhật Vượt Qua. Nỗi đau buồn của các môn đệ chắc hẳn càng tăng lên vào ngày hôm nay vì những biến cố của ngày Thứ Sáu. Làm sao người mà họ gọi là Đấng Mêsia lại có thể chết được? Làm sao điều thảm khốc này lại có thể xảy ra? Ngày nay, khi trải nghiệm sự u ám của Thứ Bảy Tuần Thánh, chúng ta có lẽ cũng có chút bối rối, mặc dù chúng ta đã biết câu chuyện kết thúc như thế nào rồi. Đây là một ngày ảm đạm và tăm tối, nhưng sự u ám và bóng tối cuối cùng đã nhường chỗ cho niềm vui và ánh sáng. Đấng Cứu Độ chúng ta đã phục sinh. Người đã bước ra khỏi mồ.

Lính canh tại ngôi mộ

Chỉ duy Phúc âm Matthêu đề cập đến các sự kiện diễn ra vào ngày Sabát, Thứ Bảy Tuần Thánh. Ngay sau ngày Đức Giêsu bị đóng đinh, những người Do Thái (người Pharisiêu) đã đến gặp Philatô và yêu cầu ông cho lính canh gác mộ của Người (x. 27, 63-65). Họ nói với Philatô: “Thưa ngài, chúng tôi nhớ tên bịp bợm ấy khi còn sống có nói: ‘Sau ba ngày, Ta sẽ chỗi dậy’. Vậy xin quan lớn truyền canh mộ kỹ càng cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đệ hắn đến lấy trộm hắn đi, rồi phao với dân là hắn đã từ cõi chết chỗi dậy. Và như thế, chuyện bịp bợm cuối cùng này sẽ còn tệ hại hơn chuyện trước". Philatô đồng ý, và lính đã được phái đến để canh gác ngôi mộ.

Thật là trớ trêu, khi những kẻ chống đối Đức Kitô thì nghĩ rằng Người sẽ sống lại từ cõi chết nhưng những người thân của Người lại có vẻ như không chắc về điều này lắm. “Sau ngày sabát, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa ló rạng, bà Maria Mácđala và một bà Maria khác, đi viếng mộ. Và kìa, đất rung chuyển dữ dội: thiên thần Chúa từ trời xuống, đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên; diện mạo người như ánh chớp, và y phục trắng như tuyết. Thấy người, lính canh khiếp sợ, run rẩy và hóa ra như chết” (Mt 28, 1-4).

Thiên thần nói với các bà rằng “Người không có ở đây, vì Người đã chỗi dậy như Người đã nói” (Mt 28, 6). Các lính canh liền đến gặp các thượng tế, báo cáo tình hình và được mua chuộc để nói rằng “Ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ của hắn đã đến lấy trộm hắn đi” (Mt 28, 13). Làm sao họ có thể biết được ai đã đánh cắp xác khi họ đang ngủ, điều này vô hình trung tiết lộ lời nói dối của họ. Trong khi người Do Thái cử hành ngày Sabát, lính canh người Roma ngủ tại mộ, thì Chúa Giêsu thực hiện một phép lạ!

Xuống ngục Tổ tông

Ngoài những cảm xúc mang lại cho chúng ta, ngày Thứ Bảy Tuần Thánh còn xảy ra một sự việc khác, sự việc mà chúng ta thường bỏ qua hoặc chưa nhận thức được cách thấu đáo. Đây cũng là sự việc không được Kinh thánh đề cập: “Người đã xuống ngục Tổ tông”. Câu này được trích từ Kinh Tin Kính các Tông đồ - một tín điều mà mọi người Công giáo đều phải tin. Chúa Giêsu xuống ngục Tổ tông, nơi mà Người, mặc dù bị đóng đinh, bị chết và bị mai táng, đã thực hiện một phép lạ khác: “Tình yêu thâm nhập địa ngục” (Đức Bênêđíctô XVI, ngày 2. 5. 2010).

Các Giáo Phụ và những nhà thần học đã giải thích rằng “ngục tổ tông” như được sử dụng trong Kinh Tin Kính các Tông đồ không ám chỉ đến nơi bị nguyền rủa vĩnh viễn. Không, nơi Chúa Giêsu xuống là “Sheol”, tiếng Do Thái có nghĩa là âm phủ. Sách Giáo lý Giáo hội Công giáo dạy rằng: “Thánh Kinh gọi nơi ở của những người chết, mà Đức Kitô khi chết đã xuống, là âm phủ, Sheol (tiếng Do-thái) hoặc Hades (tiếng Hy-lạp), bởi vì những kẻ ở đó không được nhìn thấy Thiên Chúa… Chúa Giêsu không xuống ngục tổ tông để giải thoát những kẻ đã bị kết án hoặc để phá hủy địa ngục đọa đày, nhưng để giải thoát những người công chính đã chết trước khi Người đến” (GLCG số 633). Chúa Giêsu phân biệt hoả ngục là nơi “giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt” (Mc 9, 48). Chúa Giêsu không xuống hoả ngục.

Cho đến khi Chúa Giêsu bị đóng đinh, những người “công chính” từ mọi thời đại kể từ thời sơ khai đã chờ đợi trong ngục tổ tông để vào thiên đàng; giờ đây, Chúa Giêsu ban cho họ sự sống đời đời trong sự hưởng kiến Thiên Chúa. Một đoạn của bài giảng cổ xưa về ngày Thứ Bảy Tuần Thánh, được đọc trong Giờ Kinh Sách Thứ Bảy Tuần Thánh, đã viết: “Bây giờ, Ta phán, và dùng quyền ra lệnh cho những kẻ đang bị xiềng xích: Hãy ra khỏi đây!, cho những ai đang ngồi nơi tăm tối: Bừng sáng lên!, cho những kẻ đang ngủ mê: Hãy chỗi dậy! Tỉnh giấc đi, hỡi người còn đang ngủ! Ta đâu dựng nên ngươi để ngươi bị giam cầm trong cõi âm ty… Chỗi dậy đi nào, chúng ta ra khỏi đây!


Đức Giáo hoàng Phanxicô thắp nến Phục sinh khi cử hành Lễ Vọng Phục sinh tại Vương cung thánh đường Thánh Phêrô, Vatican vào năm 2020.

Canh thức Vượt qua

Trong lịch sử Giáo hội, không phải lúc nào Lễ Vọng Phục sinh cũng bắt đầu vào đêm Thứ Bảy Tuần Thánh. Vào khoảng thế kỷ thứ IV, một buổi canh thức đêm thứ Bảy bao gồm Nghi thức Ánh sáng, Phụng vụ Lời Chúa, Phụng vụ Rửa tội và Phụng vụ Thánh Thể, kéo dài đến nửa đêm đã được cử hành rộng rãi. Bắt đầu vào thế kỷ thứ VIII, canh thức bắt đầu vào chiều thứ Bảy, và vào thế kỷ thứ XII, canh thức được chuyển sang sáng sớm thứ Bảy. Vào năm 1566, Thánh Giáo hoàng Piô V đã ban hành một sắc chỉ nghiêm cấm bất kỳ Thánh lễ nào bắt đầu sau buổi trưa Thứ Bảy Tuần Thánh; do đó, việc thực hành canh thức vào sáng Thứ Bảy là điều bắt buộc. Việc cử hành canh thức vào ban ngày một phần là do Thứ Bảy Tuần Thánh là ngày ăn chay ngặt, và mọi người nhịn ăn cho đến sau khi họ Rước lễ, nên canh thức ban đêm, thì quá muộn.

Việc cử hành các nghi lễ canh thức vào ban ngày có vẻ lạ lẫm đối với chúng ta ngày nay, và chúng ta không đơn độc với những suy nghĩ như vậy. Ví dụ, vào năm 1914, Cha Herbert Thurston đã viết trong cuốn sách của ngài có tựa đề “Mùa Chay và Tuần Thánh,” rằng “thật khó để chúng ta thuyết phục mình rằng: vào sáng thứ Bảy, mặt trời đã lặn, sự canh thức của chúng ta đã gần hoàn thành, đã hơn 24 giờ trôi qua kể từ khi Chúa Giêsu được đặt trong mồ. Tuy nhiên, đó là nỗ lực của trí tưởng tượng mà Giáo hội đòi hỏi chúng ta phải thực hiện.” Sự quyết định thời gian đã loại bỏ tính biểu tượng liên quan đến Nghi thức Ánh sáng, cũng như những cử hành thánh trong bóng tối giúp suy niệm về sự sống lại của Chúa Giêsu vào buổi sáng Phục sinh. Và rồi, vào những năm 1950, sau gần 10 thế kỷ, Giáo hội bắt đầu trở lại với việc canh thức vượt qua sau khi trời tối vào đêm Thứ Bảy Tuần Thánh.

Không có việc cử hành lễ mừng

Ở một số địa phương Công giáo Roma, Thứ Bảy Tuần Thánh là thời gian chỉ để chuẩn bị cho Lễ Vọng Phục sinh và có lẽ, để làm phép bánh Phục sinh. Mẹ Giáo hội nói với chúng ta rằng không được phép có thánh lễ cho đến khi canh thức, Mình Thánh chỉ được mang cho kẻ liệt, và cũng không được cử hành nghi thức hôn phối. Với các quy tắc liên quan đến Thứ Bảy Tuần Thánh, Giáo hội đã đưa ra những khuyến nghị về các hoạt động có thể dẫn các tín hữu Công giáo Roma đến gần hơn với ý nghĩa của ngày này.

Trong Thông tư của Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật các Bí Tích về việc chuẩn bị và cử hành Đại lễ Phục sinh được công bố vào tháng 2. 1988 có viết rằng: “Thứ Bảy Tuần Thánh, Giáo hội ở bên cạnh mồ Chúa để suy niệm việc Chúa chịu thương khó, chịu chết và xuống ngục tổ tông; đồng thời ăn chay và cầu nguyện để trông đợi Chúa Phục Sinh. Hôm nay, cố gắng hết sức để có thể cử hành giờ Kinh Sách và Kinh Sáng chung với giáo dân. Ở đâu không cử hành được thì cử hành Phụng vụ Lời Chúa hoặc làm các việc đạo đức khác thích hợp với mầu nhiệm cử hành hôm nay. Nên trưng bày trong nhà thờ hình ảnh Chúa Kitô chịu đóng đinh trên thánh giá, hoặc táng xác trong mồ, hoặc xuống ngục tổ tông minh hoạ mầu nhiệm ngày Thứ Bảy Tuần Thánh, cũng như hình ảnh Đức Mẹ Sầu Bi, để giáo dân suy niệm và cầu nguyện”.

Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm
Chuyển ngữ từ: Our Sunday Visitor (29.3.2022)

Friday, April 7, 2023

Phụng Vụ Mùa Phục Sinh: Nguồn Gốc, Ý Nghĩa Và Việc Cử Hành

I. Các lễ mừng Phục Sinh: Nguồn gốc và ý nghĩa

1. Lễ Phục sinh

a. Nguồn gốc

Lễ Phục Sinh có nguồn gốc từ lễ Vượt qua của Do Thái Giáo. Người Kitô hữu nhận ra qua cái chết và sự phục sinh, Đức Giêsu hoàn thành những gì biến cố Xuất Hành đã biểu hiện trước, đó là giải phóng con người khỏi sự dữ và đưa họ vào cuộc sống mới. Lễ mừng Chúa Giêsu sống lại được cử hành vào mỗi ngày Chúa Nhật.

Kinh Thánh Tân Ước không có đoạn nào nói về lễ Phục Sinh của Kitô giáo. Lễ này chỉ xuất hiện vào thế kỷ thứ hai công nguyên. Các Giáo hội Đông phương thuộc miền Tiểu Á như Êphêxô, Smyrne… theo sát với truyền thống Do Thái giáo, và họ mừng lễ Phục Sinh vào 14 tháng Nisan, cho dù ngày này rơi vào một ngày trong tuần chứ không bắt buộc phải là ngày Chúa nhật.

Ngược lại Giáo hội Tây phương tại Rôma, bên Palestine, Ai cập, Hy Lạp và xứ Gaule (Pháp) lại mừng lễ Phục Sinh vào ngày Chúa nhật vì Chúa Giêsu sống lại ngày Chúa Nhật. Ngày Chúa nhật này có thể rơi vào ngày 14 Nisan của Do Thái, hay là Chúa Nhật kế tiếp nếu như ngày 14 Nisan không là một ngày Chúa nhật. 1

Cuộc tranh cãi về việc mừng lễ Phục Sinh cũng như việc cử hành phụng vụ đa dạng tại các vùng khác nhau và nêu lên sự hiểu biết khác biệt về lễ Phục Sinh. Khi mừng lễ Phục Sinh vào ngày 14 Nisan, Giáo hội Đông Phương cũng mừng mầu nhiệm Đức Giêsu chết và sống lại, nhưng họ đánh dấu trọng tâm vào cái chết của Người, trong khi đó bên Tây Phương nhấn mạnh vào sự sống lại. Cuộc tranh luận suýt gây ra đổ vỡ giữa hai bên. Vào năm 192, Đức Giáo hoàng Victor quyết định dứt phép thông công các Giáo Hội miền Tiểu Á. Thánh Irênê can thiệp ôn hoà và Đức Giáo hoàng rút lại vạ tuyệt thông. Tại Công đồng Nicêa năm 325, các Giáo hội Kitô giáo đồng ý tách biệt lễ Vượt Qua Do Thái Giáo và lễ Phục Sinh Kitô giáo. Các nghị phụ chấp thuận mừng lễ Phục Sinh vào ngày Chúa nhật tiếp theo tuần trăng tròn (14 Nisan) sau ngày Phân xuân.

Lễ Phục Sinh thường được xem là một trong những ngày lễ quan trọng nhất trong năm của người theo Kitô giáo, thường diễn ra vào tháng 3 hoặc 4 mỗi năm để tưởng niệm sự kiện phục sinh của Chúa Giêsu. Phục Sinh cũng được dùng để chỉ một mùa trong năm phụng vụ Công giáo gọi là Mùa Phục Sinh, kéo dài đúng 50 ngày, từ Chúa Nhật Phục Sinh đến Lễ Hiện Xuống.

Năm mươi ngày hoan lạc Phục Sinh của các tín hữu Kitô giáo dựa trên cách tính lễ Ngũ Tuần của người Do Thái. Nhưng theo cách tính của người Do Thái, thì lễ Ngũ Tuần là ngày thứ 50 sau lễ Vượt Qua, trong khi các tín hữu Kitô lại coi đó như là tuần lễ gồm hết 50 ngày. Mùa Phục Sinh bắt đầu với Chúa Nhật Phục Sinh, cũng là ngày cuối của Tam Nhật Vượt Qua và ngày đầu của bát nhật Phục Sinh hay tuần lễ áo trắng (in albis), để kết thúc vào ngày thứ 50, tức Chúa nhật VIII Phục sinh.2

b. Ý nghĩa

– Hiệp nhất Kitô hữu trong Đức Tin

Trước tiên, về ngày tháng: Tất cả các Giáo Hội Kitô đều mừng Lễ Phục Sinh vào Chúa Nhật. Nhưng ngày tháng có thể khác nhau vì các Giáo Hội Tây Phương (Tin Lành, Công Giáo, Anh Giáo) theo lịch Grêgôriô hay dương lịch như hiện nay, do Đức GH Grêgôriô XIII (1572-85) ban hành năm 1582, nên Lễ Phục Sinh vào Chúa Nhật trong khoảng từ 22-3 và 25-4. Trái lại, Giáo Hội Chính Thống và các Giáo Hội Đông Phương (kể cả Công Giáo Đông Phương) theo âm lịch Julian, mừng Lễ Phục Sinh vào Chúa Nhật trong khoảng từ 4-4 và 8-5.

Vì thế, phần lớn Lễ Phục Sinh trong Giáo Hội Tây và Đông Phương đều vào Chúa Nhật, nhưng ngày và tháng có thể khác nhau. Ví dụ năm 2012: các Giáo Hội Tây Phương (Công Giáo, Tin Lành, Anh Giáo), Lễ Phục Sinh ngày 8-4; còn Giáo Hội Đông Phương (như Chính Thống Giáo) 15-4. Nhưng cũng có năm cùng ngày tháng, như 2011, Lễ Phục Sinh vào Chúa Nhật 24 tháng 4.

Tuy vậy, chính yếu Lễ Phục Sinh nêu cao Hiệp Nhất Kitô Giáo trong đức tin: Tất cả các Giáo Hội Kitô cùng xác tín một niềm tin về Chúa Giêsu Phục Sinh đã có từ Hội Thánh tiên khởi, được tuyên xưng trong Kinh Tin Kính các Thánh Tông đồ: “Chúa Giêsu Kitô ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại.” Sau đó, ông Phêrô cùng đứng chung với mười một Tông đồ rao giảng: “Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại” (Cv 2, 24).

Lễ Phục Sinh, tuy ngày hoặc cả tháng khác nhau nhưng, giữa các Giáo Hội không tranh cãi, mà trái lại, từ trước đến nay có nhiều cố gắng hướng đến đồng nhất về ngày lễ giữa các Giáo Hội Kitô thể hiện qua ước mong nêu lên, chứ không xảy ra tranh cãi hay có ý kiến mâu thuẫn. Cụ thể, trong ba thế kỷ đầu việc mừng Đức Kitô Phục Sinh chính yếu dựa vào Lễ Vượt Qua theo lịch Do Thái Giáo khi Chúa Giêsu “dùng bữa tiệc ly với các tông đồ trước khi chịu nạn chịu chết.” Có nơi ngày Lễ Phục Sinh chỉ cần sau 14 tháng Nissan căn cứ vào Lễ Vượt Qua. Trong khi tại Giáo Hội Rôma, hằng năm đức giám mục Victor mừng Lễ Phục Sinh vào Chúa Nhật sau Lễ Vượt Qua. Đến thế kỷ thứ tư, Công Đồng Ni-xê-a năm 325 hướng đến việc mừng Lễ Phục Sinh như Giáo Hội Rôma vào Chúa Nhật sau Lễ Vượt Qua của Do Thái, hay sau Xuân Phân (21 tháng 3) hằng năm.

– Tuyên xưng của Phụng Vụ Thánh và Giáo Lý

Phụng Vụ Thánh đề cao hiệp nhất và Giáo Lý gọi “mầu nhiệm Phục Sinh là chân lý chóp đỉnh của đức tin” (GL, 638). Theo Công Đồng Vaticanô II, “Từ ngày Hiện Xuống, ngày Giáo Hội xuất hiện nơi trần gian với các giáo hữu kiên tâm theo lời giáo huấn của các tông đồ, cùng nhau qui tụ để cử hành mầu nhiệm phục sinh, loan truyền sứ điệp cứu rỗi để mọi người nhận biết một Thiên Chúa duy nhất và chân thật, cùng Đấng Ngài sai là Chúa Giêsu Kitô” (Phụng Vụ, 6, 9).
Lễ Phục Sinh nêu rõ liên hệ giữa Do Thái Giáo và Kitô Giáo, như trong Sách lễ Rôma, Lễ Phục Sinh là “Pascha “Resurrectionis”, hoặc “Dominica Resurrectionis” với Pascha có nghĩa Lễ Vượt Qua của Do Thái Giáo và Dominica là ngày của Chúa đi theo Resurrectio (Phục Sinh).

Bài ca Tiếp Liên của Thánh Lễ trong ngày, cũng nêu cao liên hệ giữa “Hy Lễ Vượt Qua” và “Đức Kitô Phục Sinh”: “Các Kitô hữu hãy tiến dâng lời khen ngợi hy lễ Vượt Qua. Chiên con đã cứu chuộc đoàn chiên: Đức Kitô vô tội đã hòa giải tội nhân với Chúa Cha. Sống và chết hai bên song đấu cách diệu kỳ, tướng lãnh sự sống đã chết đi, nhưng vẫn sống mà cai trị. Tôi đã thấy mồ Đức Kitô đang sống và vinh quang của Đấng phục sinh.”

Giáo Lý dạy: “Sự Phục Sinh là chân lý chóp đỉnh của đức tin về Chúa Kitô, là điều được tin và sống như chân lý trung tâm trong cộng đoàn Kitô giáo nguyên thủy; được truyền đạt như chân lý nền tảng bởi Truyền Thống, được xác định bởi các tài liệu Tân Ước, được giảng dạy như thành phần chủ yếu của mầu nhiệm Vượt Qua cùng với mầu nhiệm Thánh Giá” (GLHTCG, 638).

“Nếu Đức Kitô đã không chỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng… Nếu Đức Kitô đã không chỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em hãy còn sống trong tội lỗi của anh em” (1Cr, 15: 14-17). Niềm tin duy nhất của Kitô hữu: “Không có Phục Sinh thì không có Kitô Giáo” (GLHTCG, 639).

– Giáo Hội tiếp tục rao giảng

Xác tín của Thánh Tông đồ về mầu nhiệm Phục Sinh được Đức GH. Bênêđíctô XVI diễn giải: Nếu Chúa Giêsu không sống lại thì khổ nạn của Ngài mất hết ý nghĩa cao trọng thiêng liêng. Như thế, Thập giá chỉ là bi kịch khổ hình và Đức Kitô chịu chết đã làm cuộc sống trở thành phi lý. Trái lại, mầu nhiệm Phục Sinh chứng tỏ Người chịu nạn chịu chết “đã được mai táng và ngày thứ ba đã chỗi dậy, đúng như lời Thánh Kinh” (1Cr 15: 4)

Toàn bộ các thư của Thánh Phaolô khởi đi và đạt đến mầu nhiệm của Người mà Chúa Cha đã cho chỗi dậy từ kẻ chết. Đức Kitô phục sinh là sự kiện căn bản Tông đồ Phaolô dựa vào để tuyên xưng “Người là Đấng đã chịu chết và chứng tỏ lòng yêu thương vô hạn của Thiên Chúa đối với con người; Đấng đã chỗi đậy và sống ở giữa chúng ta.”

Như thế, tuyên xưng của Thánh Phaolô minh chứng truyền thống đức tin vào mầu nhiệm phục sinh đã có từ Kinh Thánh về Chúa Giêsu chịu chết, được mai táng và ngày thứ ba đã chỗi dậy, mà Phaolô là người lãnh nhận và truyền lại: “Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là: Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng và ngày thứ ba đã chỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh” (1Cr 15: 3-4).

– Chiều sâu phụng vụ Phục sinh

Vì là “lễ trọng trên hết các lễ trọng” và “Chúa Nhật Phục Sinh là Chúa Nhật vĩ đại” (GLHTCG, 1169), nên Lễ Phục Sinh là điểm tựa để thực hiện Niên Lịch Phụng Vụ mỗi năm.

Phụng Vụ Thánh khai triển ý nghĩa hiệp nhất Kitô-hữu vì Giáo Hội gọi “mầu nhiệm Phục Sinh là chân lý chóp đỉnh của đức tin” (GLHTCG, 638). Theo Công Đồng Vaticanô II: “Từ ngày Hiện Xuống, ngày Giáo hội xuất hiện nơi trần gian với các giáo hữu kiên tâm theo lời giáo huấn của các tông đồ, cùng nhau qui tụ để cử hành mầu nhiệm phục sinh, loan truyền sứ điệp cứu rỗi […] để mọi người nhận biết một Thiên Chúa duy nhất và chân thật, cùng Đấng Ngài sai đến là Chúa Giêsu Kitô” (Hiến chế Phụng vụ, số 6 và 9).

Về mầu nhiệm Phục Sinh, Giáo Lý khai triển chiều sâu đức tin, từ Thánh Truyền đến Thánh Kinh: “Sự Phục Sinh là chân lý chóp đỉnh của đức tin về Chúa Kitô, là điều được tin và sống như chân lý trung tâm trong cộng đoàn Kitô giáo nguyên thủy; rồi được truyền đạt lại như chân lý nền tảng bởi Truyền Thống, được xác định bởi các tài liệu Tân Ước, được giảng dạy như thành phần chủ yếu của mầu nhiệm Vượt Qua cùng với mầu nhiệm Thánh Giá” (GLHTCG, 638).

Hai điều cơ bản trong ý nghĩa thần học của biến cố Phục Sinh, mà thần học trước đây ít lưu ý tới, nay được Huấn Quyền làm nổi bật trong Sách Giáo Lý mới là :

Chiều kích Ba Ngôi của sự Phục Sinh.

Giá trị cứu độ của sự Phục Sinh.

Đó là điều rất đáng mừng, vì hai khía cạnh hết sức quan trọng này của mầu nhiệm Phục Sinh, đưa ta trở về gần với mạc khải hơn thần học kinh viện trước đây.

Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh là nền tảng đức tin Kitô giáo vì, nếu không có Phục Sinh thì Phúc Âm không còn là Tin Mừng vì rao giảng và đức tin trở nên vô ích.

Sống mầu nhiệm Phục Sinh là sống giới răn Yêu Thương, nền tảng Kitô Giáo, như Chúa Giêsu dạy bảo: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga, 13: 14).

2. Bát Nhật Phục sinh

a. Nguồn gốc

Thời gian Vượt Qua mở ra Ngày Chúa Nhật Phục Sinh, và một thời kỳ gồm năm mươi ngày, tiếng Hy lạp gọi là Pentecoste, nghĩa là ngày thứ năm mươi. Trong Cựu Ước, con số 50 là con số kết thúc tuần lễ cao điểm trong bảy tuần, gợi lên sự sung mãn, tốt lành. Còn trong Tân Ước, con số năm mươi tính từ cái chết của Đức Giêsu đến ngày lễ Ngũ Tuần, Thánh Thần đến canh tân toàn thể Hội Thánh (x. Cv 2). Mầu nhiệm Vượt Qua chỉ đạt chiều kích trọn vẹn trong sự viên mãn của lễ Ngũ Tuần, là ngày Hội Thánh nhận được những hoa trái đầu tiên làm bảo chứng cho phần gia nghiệp (x. Ep 1,13-14).

Theo các Giáo phụ, mọi ngày trong tuần năm mươi này phải được cử hành trong niềm hân hoan, có cùng tầm quan trọng như ngày Chúa Nhật. Tuần năm mươi cũng là thời gian hạnh phúc nhất để cử hành phép Rửa. Nếu như ngày Chúa nhật vừa là ngày thứ nhất cũng là ngày thứ tám, thì Chúa Nhật Phục Sinh do Pentecoste tạo ra được khai triển thành tám ngày Chúa Nhật. Như thế Pentecoste là một chuỗi tám – octave, là một tuần của các tuần.

Bát nhật Phục Sinh là tuần đầu tiên trong chuỗi tám đó. Danh từ gốc Latinh Octo, tức là tám. Octavus là ngày thứ tám, hay là cả tám ngày. Kinh Thánh Cựu Ước cho thấy, các đại lễ của dân Israen thường được tổ chức suốt một tuần và kết thúc cách long trọng vào ngày thứ tám (x. Lv 23,34-36). Theo phụng vụ của Giáo hội, Tuần Bát nhật là thời gian tám ngày mừng lễ hay kính nhớ Mầu nhiệm nào đó. Trước đây, Giáo hội mừng kính nhiều Tuần Bát Nhật, như Tuần Bát Nhật đặc biệt, hay Bát Nhật thường. Từ năm 1955, Giáo hội mừng kính ba Bát Nhật: Bát nhật Giáng Sinh, Phục Sinh và Hiện Xuống. Hiện nay, trong lịch phụng vụ của Giáo hội chỉ còn ghi hai Bát Nhật là Bát Nhật Phục Sinh và Giáng sinh. Hai Bát nhật mà Giáo hội mừng kính cũng kết thúc bằng hai lễ long trọng: Bát nhật của Giáng sinh kết thúc vào ngày 1 tháng Giêng, lễ trọng kính Đức Maria Mẹ Thiên Chúa; ngày thứ tám của lễ Phục Sinh là ngày lễ Chúa Nhật Áo Trắng.  Bát Nhật Phục Sinh, mà truyền thống Rôma quen gọi là Tuần lễ Áo Trắng, ra đời từ thế kỷ IV, vì lúc đó, Giáo hội quan tâm làm sao để các tân tòng có một huấn giáo hậu phép Rửa về các Mầu nhiệm mà họ đã lãnh nhận, tuy nhiên, huấn giáo này cũng dành cho toàn thể dân chúng nữa.

b. Ý nghĩa

Bát nhật Phục Sinh liên hệ với việc rửa tội cho người lớn. Hội Thánh thời cổ chú tâm đến mối liên hệ giữa Vượt Qua của Đức Kitô với phép Rửa. Theo thánh Phaolô: nhờ phép Rửa mà người Kitô hữu được dìm vào trong cái chết của Đức Kitô, được mai táng với Người, để rồi được tham dự vào đời sống mới của Đấng Phục Sinh (x. Rm 6,3-5). Bởi đó, Giáo hội lo sao để việc cử hành phép Rửa được ưu tiên vào ngày Chúa Nhật.

Như thế, Tuần Bát Nhật là tuần đầu tiên trong chuỗi những tuần của năm mươi ngày sau Đại lễ Phục Sinh. Bát nhật Phục Sinh có đặc tính của Bí tích Thánh Tẩy; Giáo Hội cổ thời đã dùng Tuần Bát Nhật để hoàn tất việc giáo huấn các tân tòng. Một số bài giáo huấn quan trọng của các Giáo Phụ hay các nhà tu đức được phụng vụ Giáo Hội đưa vào trong các bài đọc Kinh Sách Tuần Bát nhật Phục Sinh. Những lời giáo huấn cho các tín hữu xưa kia vẫn còn giá trị và rất thiết thực cho các tân tòng cũng như cho mọi phần tử trong Giáo hội ngày nay.

3. Lễ Chúa Giê-su lên Trời

Theo sách Tông Đồ Công Vụ, 40 ngày sau khi sống lại, Chúa Giêsu lên trời, nghĩa là trở về cùng Chúa Cha, Đấng đã sai Người xuống trần thế. Lễ Chúa Thăng Thiên đánh dấu sự hoàn thành công trình cứu độ đã được khởi sự với việc nhập thể. Sau khi đã dặn dò các môn đệ lần cuối cùng, Chúa Giêsu lên trời (Xc. Mc 16,19). Nhưng Người “không xa lìa thân phận chúng ta” (Xc. Kinh Tiền Tụng); thực vậy, trong nhân tính của Người, Người đã đón nhận nhân loại với Người vào trong vòng thân mật với Chúa Cha và qua đó Người tỏ lộ đích điểm sau cùng của cuộc lữ hành trần thế của chúng ta. Cũng như Chúa Giêsu đã từ trời xuống và vì chúng ta Người đã chịu đau khổ, và chịu chết trên thập giá, Người cũng vì chúng ta mà sống lại và lên cùng Chúa Cha, vì thế, Người không còn xa lạ nữa, nhưng là “Thiên Chúa chúng ta”, là “Cha chúng ta” (Xc. Ga 20,17).

Lễ Thăng Thiên là hành vi cuối cùng trong cuộc giải thoát chúng ta khỏi ách tội lỗi, như thánh Phaolô Tông Đồ đã viết: “Khi lên trời, Chúa đã mang theo Người các tù nhân” (Ep 4,8). Thánh Lêô Cả giải thích rằng với mầu nhiệm này “không những sự bất tử của linh hồn được công bố, nhưng cả sự bất tử của thân xác nữa. Thực vậy, ngày hôm nay, không những chúng ta được xác nhận là người sở hữu thiên đàng, nhưng còn được đi sâu vào Chúa Kitô nơi trời cao” (De Ascensione Domini, Tractatus 73, 2.4: CCCL 138 A, 451.453). Vì thế, các môn đệ, khi thấy Thầy mình nâng bổng khỏi mặt đất và đi lên trời cao, họ không buồn bã, nhưng cảm thấy một niềm vui lớn lao và được thúc đẩy công bố chiến thắng của Chúa Kitô trên sự chết (Xc Mc 16,20). Và Chúa phục sinh hoạt động trong họ, ban cho mỗi người một đoàn sủng riêng, để cộng đoàn Kitô, trong toàn bộ, phản ánh sự phong phú hài hòa của Trời Cao. Thánh Phaolô cũng viết: “Ngài đã ban ơn cho loài người: người này làm tông đồ, người kia làm ngôn sứ, người khác làm thánh sử tin mừng, và người khác làm mục tử và thầy dạy, với mục đích xây dựng thân mình Chúa Kitô, cho đến mức độ viên mãn trong Chúa Kitô” (Ep 4,8.11-13).

Lễ Thăng Thiên nói với chúng ta rằng trong Chúa Kitô nhân tính của chúng ta được nâng lên cùng Thiên Chúa; vì thế mỗi lần chúng ta cầu nguyện, đất được nối liền với Trời. Và như trầm hương, khi được đốt lên, tỏa lên cao khói hương dịu dàng, cũng vậy khi chúng ta cầu nguyện với Chúa, kinh nguyện sốt sắng và tín thác của chúng ta trong Chúa Kitô, cũng vượt qua trời cao và bay đến trước ngai Thiên Chúa, được Ngài lắng nghe và chấp nhận. Trong tác phẩm nổi tiếng của thánh Gioan Thánh Giá, Lên núi Camêlô, chúng ta đọc thấy rằng “để thấy những ước muốn của tâm hồn chúng ta được thực hiện, thì không có cách nào tốt hơn là đặt sức mạnh của kinh nguyện chúng ta trong điều làm cho Chúa đẹp lòng nhất. Như thế, Ngài không chỉ ban cho chúng ta điều chúng ta xin, nghĩa là ơn cứu độ, nhưng cả điều mà Ngài thấy là thích hợp và tốt lành cho chúng ta, dù chúng ta không xin Ngài” (Libro III, cap. 44, 2, Roma 1991, 335).

4. Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống

Lễ Ngũ Tuần đánh dấu sự hiện xuống của Chúa Thánh Thần trên các thánh Tông Đồ và trên Giáo Hội sơ khai. Biến cố này xảy ra năm mươi ngày tiếp theo sau biến cố Chúa Giêsu sống lại. Biến cố ngày lễ Ngũ Tuần chỉ có thể được hiểu trong mối quan hệ với biến cố lễ Chúa Phục Sinh và Chúa Lên Trời. Chịu chết để cứu độ nhân loại, sống lại và về cùng Chúa Cha, Đức Kitô phái Thánh Thần đến cho nhân loại. Do đó, ngày lễ này khép lại Mùa Phục Sinh vốn được kéo dài trong suốt bảy tuần lễ và cũng là sự đăng quang của Mùa Phục Sinh.

Vào ngày ấy, “các Tông đồ đang hội họp cùng với nhau, bỗng nhiên từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tùy theo khả năng Thánh Thần ban cho. Nghe tiếng ấy, có nhiều người kéo đến. Họ kinh ngạc vì ai nấy đều nghe các ông nói tiếng bản xứ của mình” (Cv 2, 1-6).

Hơn nữa, đây cũng là dịp thực hiện lời hứa của Chúa Giêsu Phục Sinh đối với các Tông Đồ vào thời điểm lên trời xảy ra mười ngày trước đó:

“Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8).

Thực tế cho thấy, các Tông đồ khi nhận được sức mạnh của Thánh Thần liền can đảm rời khỏi gian phòng mà trước đây họ tự giam hãm trong nỗi sợ sệt. Ngay lập tức họ bắt đầu làm chứng cho Chúa Phục Sinh, rao giảng giáo huấn của Ngài cho muôn dân và làm phép Rửa Tội. “Trong dịp lễ Ngũ Tuần, Giáo Hội được khai sinh không do ý muốn của loài người, nhưng là bởi sức mạnh của Thánh Thần”. Trong thực tế, tiếp theo biến cố này các cộng đoàn tín hữu đầu tiên được ra đời, được củng cố, phát triển và lan truyền rộng rãi.

Trình thuật trong sách Tông Đồ Công Vụ mang hàm ý: gió và lửa, cũng như các trình thuật khác trong Kinh Thánh, biểu hiện sự hiện diện của Thiên Chúa. Những lưỡi lửa chứng tỏ sự ngự xuống của Thánh Thần trên các Tông Đồ. Và khả năng của họ làm cho tất cả những người nghe hiểu được mà theo như bản văn liệt kê một cách rất cụ thể và chính xác rằng đây là những người dân “Pácthia, Mêđia, Êlam, Mêxôpôtamia, Giuđê, Capađôkia, Pontô và Asia, có người là dân Physia, Pamphylia, Ai Cập, và những vùng Libya giáp giới Kyrênê; nào là những người từ Rôma đến đây; nào là người Do Thái cũng như người mới trở lại đạo; nào là người đảo Kêta hay người Arập” (Cv 2,9-11). Hết thảy đều đều nghe các Tông Đồ rao giảng bằng tiếng bản xứ của mình. Cũng vậy, Tin Mừng có liên quan đến tất cả nhân loại, ơn Chúa Thánh Thần cho phép các Tông Đồ đáp trả lời mời gọi của Chúa Phục Sinh: trở nên những chứng nhân của Ngài cho đến “tận cùng trái đất”.

Cũng như các Tông Đồ, các Kitô hữu được mời gọi không được khép kín nơi bản thân mình như người đứng bên ngoài cuộc sống và ở ngoài thế giới, trái lại phải là những người công bố Tin Vui trong Phúc Âm một cách mạch lạc và tự do. Bổn phận này được đặc biệt nhắc đến trong Công Đồng Vatican II về vai trò của người giáo dân, cũng như trong tông huấn Christideles laici của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đề ngày 30 tháng 12 năm 1998. Nguồn mạch được tỏ hiện trong biến cố Lễ Ngũ Tuần, Bí Tích Thêm Sức thường xuyên được cử hành trong dịp lễ này. Trong nghi thức, giám mục đặt tay trên người lãnh nhận, cử chỉ biểu lộ ơn Chúa Thánh Thần.

II. Cử hành mùa Phục sinh: Các bản văn và quy tắc cử hành

1. Phụng Vụ Thánh Thể

a. Các bản văn

Phụng vụ Lời Chúa trong mùa Phục Sinh xoay quanh hai cuốn Công vụ Tông đồ và Tin Mừng theo thánh Gioan. Sách Công vụ Tông đồ hầu như được đọc hằng ngày, ngày thường cũng như ngày Chúa Nhật. Bài đọc 1 của ngày Chúa Nhật không phải là bài Cựu Ước mà được thay thế bằng bài Công vụ Tông đồ. Truyền thống không đọc bài Cựu Ước trong mùa Phục Sinh nhằm nhấn mạnh ý nghĩa hình bóng của Cựu ước đã hoàn tất, giờ đây Giáo hội không còn ở trong niềm trông đợi của Cựu ước để hướng tới thực tại sẽ đến. Thực tại đã có đây rồi, đó chính là biến cố Phục Sinh của Đức Kitô. Giáo hội đang sống chính thực tại đó trong đời sống của mình. Khi đọc sách Công vụ Tông đồ trong mùa Phục sinh, Giáo hội cho chúng ta khám phá tác động của biến cố Phục Sinh nơi cộng đoàn tín hữu sơ khởi và cho thấy hiệu của Lời Chúa kiến tạo nên cộng đoàn Giáo Hội. Còn Tin Mừng theo thánh Gioan vừa được đọc vào những tuần cuối của Mùa Chay vừa được đọc liên tục trong nhiều ngày của mùa Phục sinh, nhấn mạnh chiều kích thần học của mầu nhiệm cứu chuộc.5

Có lẽ truyền thống cổ thời chọn Tin Mừng theo thánh Gioan đọc vào Mùa Chay và Phục Sinh vì lý do thần học hơn là vì lý do mục vụ hay giáo huấn. Các bài đọc của Chúa Nhật Phục Sinh cũng được sắp xếp theo ba năm như mọi Chúa Nhật khác, riêng bài đọc hai được sắp xếp như sau: Năm A (thư thứ nhất của thánh Phêrô); năm B (thư thứ nhất của thánh Gioan); năm C (sách Khải Huyền). Những bản văn được chọn từ ba cuốn này đều nhấn mạnh hoặc khai triển mầu nhiệm Tử nạn và Phục Sinh của Chúa Kitô, chẳng hạn như thánh Phêrô nêu bật giá trị cứu độ của mầu nhiệm Vượt Qua nơi dân mới và Hội Thánh; thư Gioan nhấn mạnh niềm tin vào Chúa Giêsu, vào ơn cứu độ trong Máu Ngài và vào luật đức ái; sách Khải Huyền lại hướng chúng ta đến niềm hy vọng cánh chung nơi Giêrusalem Thiên quốc, đã được khai mở nơi cộng đoàn những kẻ tin.

Riêng với các lời nguyện trong mùa Phục Sinh có một chuyển biến đặc biệt: Trước cuộc canh tân phung vụ theo công đồng Vaticano II (1970), Sách lễ Rôma chỉ cung cấp các lời nguyện riêng đối với các Chúa Nhật Phục Sinh, Tuần Bát Nhật và lễ Hiện Xuống; ngày nay trong suốt 50 ngày Phục Sinh mỗi ngày đều có đầy đủ các lời nguyện quan trọng: Nhập Lễ, Tiến Lễ và Hiệp Lễ. Tất cả các lời nguyện này không phải là các lời nguyện mới được sáng tác rồi đưa vào Phụng vụ, nhưng là lấy lại từ truyền thống cổ kính của các gia đình phụng vụ xưa như Rôma, Ambrôsiô và Gallican.6

Điểm đặc biệt trong phụng vụ hiện nay là các lời tiền tụng Phục Sinh đều theo một lược đồ chung trong câu mở đầu: “Lạy Cha chúng con tuyên xưng Cha mọi lúc và hân hoan ca tụng Cha vinh hiển, nhất là trong mùa này… khi Đức kitô tự hiến tế làm Chiên Vượt qua của chúng con”. Sau đó mỗi lời tiền tụng khai triển một chủ đề ca tụng khác nhau: Mầu nhiệm Vượt qua (I), sự sống mới trong Chúa Kitô (II), Đức Kitô vẫn sống đang chuyển cầu cho ta (III), việc phục hưng vũ trụ nhờ mầu nhiệm Vượt Qua (IV), Đức Kitô là linh mục và là Của Lễ (V).

Đối với các bài ca nhập lễ và hiệp lễ, chủ đề của những bài ca này giống nhau cho từng ngày trong các tuần của mùa Phục Sinh, ví dụ: Đức Kitô đã phục sinh vinh hiển (thứ 2), chiến thắng của Đấng Phục Sinh vào ngày cùng tận (thứ 3), bài ca của những người được cứu chuộc (thứ 4), cuộc xuất hành mới (thư 5), ơn cứu chuộc trong Máu của Chúa Kitô Phục Sinh (thứ 6), và đời sống mới trong Chúa Kitô (thứ 7). Riêng tuần lễ đi trước lễ Hiện Xuống, các bài ca thường nhắc lại lời hứa của Chúa Kitô ban Thánh Thần cho Giáo Hội.

b. Quy tắc cử hành

Trước hết chúng ta cần nhận định cử hành thánh lễ trong mùa Phục Sinh nhất thiết phải theo tầm quan trọng của ba nhóm sau đây: Chúa Nhật, Tuần Bát Nhật và ngày trong tuần.

Vào mọi Chúa Nhật Phục Sinh không ai được phép cử hành bất cứ thánh lễ có nghi thức riêng, ngoại lịch hay nhu cầu nào. Phải luôn tôn trong bản văn phụng vụ và các bài đọc Kinh Thánh của ngày Chúa Nhật Phục Sinh đó. Vì thế, vào những ngày này không được phép cử hành thánh lễ với các bản văn phụng vụ của lễ an tang, hôn phối, thêm sức, khấn dòng, mừng kính bổn mạng hay bất cứ nhu cầu nào…Tuy nhiên, người ta có thể vẫn cử hành bí tính hay á bí tích trong thánh lễ đó, với điều kiện mọi bản văn phụng vụ phải theo ngày Chúa Nhật. Ví dụ: khi cử hành hôn phối vào Chúa Nhật III Phục sinh, người ta vẫn cử hành bí tích hôn phối sau bài giảng như thường lệ, tuy nhiên trong thánh lễ phải đọc toàn bộ các bản văn phụng vụ theo Chúa Nhật III Phục Sinh và không được phép đọc các lời nguyện hay bài đọc Kinh Thánh về lễ hôn phối, mặc dù vẫn đọc lời chúc hôn sau kinh Lạy Cha. Các lễ khác khi trùng vào Chúa Nhật phục sinh cũng phải theo quy luật này.7

Tuần Bát Nhật Phục Sinh được cử hành như các ngày lễ trọng về Chúa,8 vì thế không được phép cử hành bất cứ thánh lễ ngoại lịch hay nhu cầu nào trong những ngày này mà phải dời sang ngày khác có bậc lễ thấp hơn lễ trọng riêng. Tuy nhiên khi cử hành an táng, được dùng bản văn phụng vụ của lễ cầu hồn chứ không phải dùng bản văn phụng vụ của ngày thường trong tuần Bát Nhật Phục Sinh.9

Ngày trong tuần thuộc mùa Phục Sinh, từ thứ hai sau tuần Bát Nhật đến hết thứ bảy trước lễ Hiện Xuống có vị trí khá khiêm tốn trong bảng sếp hạng thứ tự ưu tiên các lễ trong năm phụng vụ (chỉ đứng trên các ngày trong tuần thuộc mùa thường niên).10 Vào những ngày này có thể cử hành thánh lễ an tang, lễ bổn mạng, lễ có nghi thức riêng, ngoại lịch và nhu cầu hay toàn bộ lễ nhớ các thánh. (RM 355/a).

2. Giờ Kinh Phụng Vụ

a. Các bản văn

Giờ kinh Phụng vụ của Tam nhật Vượt Qua có một vị trí đặc biệt so với các ngày khác: hầu như mỗi giờ kinh đều có những phần riêng biệt và đều nhắc đến biến cố khổ nạn và Phục Sinh của Chúa Kitô. Các thánh vịnh, thánh thi, xướng đáp lời cầu mang sắc thái riêng của những ngày cao điểm trong năm phụng vụ; cách riêng các bài đọc Kinh Thánh và giáo phụ cho chúng ta cái nhìn tổng quát và đầy đủ về mầu nhiệm Vượt Qua,11 chẳng hạn thư thứ nhất của thánh Phêrô trong tuần bát nhật Phục sinh, sách Khải Huyền trong những tuần tiếp theo và các thư của thánh Gioan vào hai tuần cuối của mùa Phục sinh. Riêng các bài đọc giáo phụ là những áng văn chương tuyệt tác của những tác giả thời danh: 49 bài giáo phụ khác nhau diễn tả cách phong phú mầu nhiệm Vượt qua theo niềm tin Kitô giáo, đồng thời nó còn là các bài giáo huấn nền tảng cho mọi kitô hữu về ý ngĩa của các cử hành phụng vụ. Các bài giáo phụ này được trích từ các tác giả danh tiếng bên Đông cũng như Tây Phương kitô giáo, chẳng hạn: Justin, Meliton de Sardes, Irenee, Cyrille de Jerusalem, Augustino, Lêô Cả… hay trong các văn kiện mới nhất của Công Đồng vatican II.

b. Quy tắc cử hành

Giờ kinh của ngày Chúa Nhật, Tuần Bát Nhật và Tuần Thánh chiếm vị trí ưu tiên trên hết mọi giờ kinh, vì thế không được phép đọc giờ kinh phụng vụ ngoại lịch hoặc theo nhu cầu hay ý thích riêng (GK 245).

Vào các ngày Chúa Nhật, Tuần Bát Nhật và Tuần Thánh không bao giờ được phép thay đổi các thánh vịnh, công thức hay bản văn đã được quy định cho từng ngày (GK 247), tuy nhiên vào các ngày thường trong mùa Phục Sinh có thể thay đổi Lời Chúa, lời nguyện, thánh thi, điệp ca và lời chuyển cầu của những ngày khác trong cùng một mùa (GK 251).

Kết luận

Đức Giêsu Kitô là trung tâm điểm của tất cả các nghi thức Phụng Vụ trong Giáo Hội. Do đó, mỗi mùa Phụng Vụ với các nghi thức khác nhau cùng với tầm quan trọng cũng như ý nghĩa khác nhau nhưng đều mang một mục đích chung, đó là cho mỗi người tín hữu cảm nhận và sống với sự hiện diện thực sự của Đức Kitô Phục Sinh. Trong mùa Chay, các tín hữu cảm nhận được sự hiện diện của Chúa Giêsu như một Thiên Chúa với tình yêu thương của người cha luôn mong mỏi chờ đợi người con hoang đàng trở về. Với sức mạnh biến đổi con người của tình yêu Chúa, các tín hữu tham gia các nghi thức Mùa Chay cảm nhận lời mời gọi nhận ra tình trạng tội lỗi, thống hối và tin tưởng vào sự tha thứ của Thiên Chúa. Tình yêu vô biên của Thiên Chúa thanh tẩy tình trạng nhơ nhuốc đầy tội lỗi của chúng ta để rồi mỗi người hân hoan và xứng đáng bước vào mầu nhiệm lễ Phục Sinh. Các tín hữu tham gia nghi lễ trong mùa Phục Sinh với niềm tin tưởng vào chiến thắng thần chết nơi Đức Giêsu. Hơn nữa, khi Đức Giêsu phục sinh, Người cũng sẽ ban cho chúng ta đời sống vĩnh cửu đó, đó là được sống lại cùng Người. Đó là niềm tin cao đẹp nhất và quan trọng nhất của toàn thể Giáo hội vì mầu nhiệm Chúa sống lại mang một ý nghĩa hết sức đặc biệt cho mỗi tín hữu. Và đó cũng là tâm tình của thánh Phaolô khi ngài viết “Nếu kẻ chết không trỗi dậy, thì Đức Kitô cũng đã không trỗi dậy. Mà nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em” (1Cr 15,16-17).

 (Nguồn: Thinhviendaminh.net)

Saturday, April 1, 2023

ƠN TOÀN XÁ - Đôi nét về phép lành Urbi et Orbi

 

 Đôi nét về phép lành Urbi et Orbi

Theo truyền thống Giáo hội, hằng năm, Đức Thánh Cha ban phép lành Urbi et Orbi trong dịp Lễ Giáng Sinh và Lễ Phục Sinh.

Sau đây là đôi nét về phép lành Urbi et Orbi.

Ý nghĩa của phép lành Urbi et Orbi

Urbi et orbi, một thuật ngữ quay trở lại thời Đế chế La Mã, trong tiếng Latinh có nghĩa là thành phố (urbi) và thế giới (orbi). Ngày nay, Urbi et orbi diễn tả phép lành long trọng do Đức Thánh Cha dành cho thành Roma và toàn thế giới, ngay sau khi Ngài được bầu chọn, và hàng năm, khi Ngài kết thúc sứ điệp Phục sinh và Giáng sinh. Những tín hữu Công giáo sốt sắng nhận phép lành đặc biệt này, bất kể họ ở đâu, đều có cơ hội nhận được ơn toàn xá.

Bối cảnh của phép lành Urbi et Orbi

Người Roma cổ đại tin rằng họ là đế quốc hùng mạnh và có ảnh hưởng nhất trên thế giới. Các Hoàng đế Roma thường bắt đầu các sắc lệnh của mình bằng những từ urbi et orbi để củng cố sự thống trị trên toàn thế giới của Đế chế Roma, kéo dài từ năm 27 trước Công nguyên cho đến năm 476 sau Công nguyên.

Trong cuốn “A Companion to Early Modern Rome, 1492-1642” tác giả Pamela M. Jones viết rằng:

“Urbi et orbi”- cho thành phố Roma và thế giới- câu mở đầu chuẩn mực của các tuyên ngôn của người Roma cổ đại, đã trở thành và vẫn là phép lành chính thức của Đức giáo hoàng được ban trong những dịp quan trọng. Trong đó có thể kể đến: lần xuất hiện đầu tiên trước công chúng của Đức tân giáo hoàng; sau khi tuyên đọc Sứ điệp Phục sinh và Giáng sinh hằng năm với việc ban các ơn toàn xá. Phép lành Urbi et orbi không chỉ thể hiện thẩm quyền của Đức giáo hoàng với tư cách là Giám mục của Roma và là người đứng đầu Giáo hội Công giáo, mà còn là địa vị độc nhất của Roma như là thủ đô của một tôn giáo hoàn vũ.

Theo tài liệu lịch sử, thuật ngữ urbi et orbi đã được dùng trong Giáo hội Công giáo bắt đầu từ thế kỷ XIII. Khi Chân phước Giáo hoàng Grêgôriô (r. 1271-76) mặc phẩm phục giáo hoàng sau cuộc bầu cử mật nghị, Đức hồng y niên trưởng công bố: “Tôi trao cho ngài chức vụ giáo hoàng Roma với tư cách là vị lãnh đạo của thành phố và thế giới”.

Các vị giáo hoàng kế vị sau đó đã ban phép lành Urbi et orbi vào thời điểm bầu cử và vào những dịp khác như: Lễ Phục sinh, Thứ Năm Tuần Thánh, lễ Thánh Phêrô và Phaolô; dịp Lễ đăng quang Giáo hoàng (từ Vương cung Thánh đường thánh Phêrô), Lễ Thăng thiên (từ Vương cung thánh đường thánh Gioan Laterano), và Lễ Đức Mẹ Mông Triệu (từ Vương cung thánh đường Đức Bà Cả). Phép lành Urbi et orbi vào những ngày lễ đặc biệt tiếp tục cho đến năm 1870.

Vào giữa những năm 1800, khi chính phủ Ý cố gắng hợp nhất một quốc gia nằm trong số những quốc gia và vùng lãnh thổ được kết nối lỏng lẻo của Ý. Các lãnh thổ của Giáo hoàng cắt ngang nước Ý, và Đức Giáo hoàng Pio IX (r. 1846-78) từ chối giao các lãnh thổ đó cho chính phủ Ý. Quân đội Ý bắt đầu chiếm các vùng đất của Giáo hoàng bằng vũ lực, đến ngày 20.  9. 1870, Đức Piô IX rút vào Vatican như là nơi duy nhất mà ngài vẫn còn cai trị. Sau đó, ngài từ chối đi ra ngoài, tự biến mình thành tù nhân của Vatican và do đó đã ban phép lành Urbi et orbi từ bên trong Vương cung thánh đường Thánh Phêrô. Duy trì hành động mang tính phản kháng này, Đức Piô IX và các Đức giáo hoàng kế vị trong 52 năm tiếp theo đều từ chối rời Vatican và tiếp tục ban phép lành Urbi et orbi bên trong Vương cung thánh đường Thánh Phêrô.

Vào ngày 06. 02. 1922, Đức tân Giáo hoàng Piô XI (r. 1922-39) thực hiện việc ban phép lành Urbi et orbi từ ban công bên ngoài Vương cung thánh đường Thánh Phêrô. Nhiều người kết luận rằng đây là dấu chỉ cho thấy Đức Piô XI sẵn sàng chấm dứt tình trạng tù nhân tự áp đặt, và bắt đầu công khai giải quyết các vấn đề với chính phủ Ý, hay còn gọi là Vấn nạn Roma (Roman Question).

Trong những năm gần đây, phép lành Urbi et orbi tiếp tục được ban vào dịp bầu chọn Tân giáo hoàng, và hằng năm vào Lễ Phục Sinh và lễ Giáng Sinh.

Công thức ban phép lành Urbi et orbi

Đức Thánh Cha đọc lời kinh xá giải và công thức ban phép lành toàn xá Urbi et Orbi cho thành Roma và toàn thế giới.

- Xin các thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, mà chúng ta tin tưởng vào quyền bính và uy tín của các Ngài, cầu thay cho chúng ta trước mặt Chúa. Amen.

- Nhờ lời cầu nguyện và công nghiệp của Đức Trinh Nữ Maria, tổng lãnh thiên thần Micae, Thánh Gioan Tiền Hô, các thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, và tất cả các Thánh, xin Thiên Chúa toàn năng thương xót và tha thứ mọi tội lỗi cho anh chị em, và xin Chúa Giêsu Kitô dẫn đưa anh chị em đến sự sống muôn đời. Amen.

- Xin Thiên Chúa toàn năng và nhân hậu ban cho anh chị em ơn toàn xá, tha tội và xóa bỏ mọi tội lỗi của anh chị em, ban cho anh chị em một mùa sám hối chân thực và hiệu quả, một lòng trong sạch, sửa đổi đời sống, ân sủng và sự an ủi của Chúa Thánh Thần và sự kiên tâm làm việc thiện cho tới cùng. Amen.

- Và xin phúc lành của Thiên Chúa toàn năng, là Cha và Con và Thánh Thần, ngự xuống trên anh chị em và ở lại cùng anh chị em luôn mãi. Amen.

Phép lành Urbi et orbi của Đức tân giáo hoàng

Sau khi được bầu chọn, vị Tân giáo hoàng được dẫn tới ban công chính Đền thờ Thánh Phêrô, và được giới thiệu với các tín hữu đang tập trung tại Quảng trường Thánh Phêrô. Ngài có thể chia sẻ một vài cảm nghĩ và sau đó, ban phép lành Urbi et orbi đặc biệt cho thành Rôma và thế giới.

Tông hiến Universi Dominici Gregis cung cấp những hướng dẫn cho việc bầu chọn giáo hoàng Rôma, giải thích:

Khi các thủ tục khác được quy định trong Mật nghị (Ordo Rituum Conclavis) đã được thực hiện, các Hồng y cử tri tiến lên trước mặt vị tân Giáo hoàng theo cách thức quy định, để thực hiện một hành động tôn kính và vâng phục. Sau đó là nghi thức tạ ơn Thiên Chúa, tiếp đến, vị niên trưởng Hồng Y đẳng Phó Tế  thông báo với mọi người đang chờ đợi rằng cuộc bầu cử đã diễn ra và tuyên bố danh hiệu của vị tân Giáo Hoàng. Đức Tân Giáo Hoàng xuất hiện tại ban công của Vương cung thánh đường, ban huấn từ và phép lành Urbi et Orbi cho thành Roma và Thế Giới.” (Số 89).

 Những hành động này kết thúc tiến trình bầu chọn giáo hoàng.

Các Đức giáo hoàng cho đến Đức Phaolô VI (r. 1963-78) đều đã có lễ đăng quang, được cử hành long trọng ít ngày sau cuộc bầu cử, trong đó có nghi thức trao vương miện giáo hoàng. Đây là một nghi thức mang tính biểu tượng, vì Đức tân giáo hoàng nhận được thẩm quyền của mình khi đồng ý chấp nhận cuộc bỏ phiếu mật nghị bầu Giáo hoàng. Sau lễ đăng quang, Đức tân giáo hoàng đi tới hành lang chính Vương cung thánh đường Thánh Phêrô và ban phép lành Urbi et orbi trước sự hiện diện của đông đảo dân chúng tại quảng trường.

Tới thời Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II, vào năm 1978 lễ đăng quang của ngài được thay thế bằng lễ nhậm chức và không có nghi thức trao vương miện. 

Đức giáo hoàng Phanxicô ban phép lành Urbi et orbi ngay sau khi được bầu chọn 3. 2013

Phép lành Urbi et orbi theo dòng thời gian

Được bắt đầu cách đây khoảng 750 năm, các Đức giáo hoàng tiếp tục truyền thống ban phép lành Urbi et orbi. Thông thường, sau khi ra trước ban công chính của Đền thờ thánh Phêrô, Đức Thánh Cha sẽ có một bài huấn dụ trước khi ban phép lành toàn xá Urbi et orbi. Như luật định, điều kiện để lãnh nhận ơn toàn xá là xưng tội, rước lễ, cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng, và từ bỏ mọi quyến luyến đối với tội lỗi. Theo lệ thường, hiệu quả của ơn toàn xá là được xoá các hình phạt tạm thời do tội lỗi bản thân. Ngoài ra, theo thời gian, Toà thánh cũng từng bước xác định việc tín hữu tại khắp nơi trên thế giới có thể lãnh nhận phép lành Urbi et orbi qua các phương tiện truyền thông.

- Đức Giáo hoàng Piô XII (r. 1939-58) quyết định rằng những người Công giáo quỳ trước chương trình phát thanh trong nghi thức ban phép lành Urbi et orbi có thể nhận được ơn toàn xá giống như những người hiện diện trực tiếp tại Quảng trường Thánh Phêrô.

- Phép lành Urbi et orbi đầu tiên được truyền hình là vào năm 1958 dưới triều Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII (r. 1958-63).

- Năm 1985, Toà thánh qui định tín hữu có thể lãnh nhận Phép lành toàn xá Urbi et orbi trực tiếp tại quảng trường thánh Phêrô hoặc gián tiếp qua việc nghe truyền thanh, xem truyền hình, hoặc theo dõi qua thiết bị máy tính.

- Trong thời gian gần đây, trước khi Đức Thánh Cha ban phép lành Urbi et orbi, Đức hồng y đẳng phó tế tuyên bố: “Đức Thánh Cha N. ban ơn toàn xá theo hình thức do Giáo hội quy định cho tất cả các tín hữu hiện diện và cho những ai nhận phép lành của ngài qua đài phát thanh, truyền hình và phương tiện truyền thông mới”.

- Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II (r. 1978-2005) khi trong giai đoạn hồi phục sau ca phẫu thuật mở khí quản vào Lễ Phục sinh năm 2005, dù không nói thành tiếng, ngài vẫn hiện diện để ban phép lành Urbi et orbi, do một vị hồng y tuyên đọc.

Đức Thánh Cha Phanxicô phép lành Urbi et orbi ngoại thường ngày 27. 3. 2020

- Đức Thánh Cha Phanxicô, vào ngày 27. 3. 2020, đã chủ sự khoảnh khắc cầu nguyện nhằm khơi lên niềm hy vọng, kêu gọi nhân loại hướng về Thiên Chúa, và cầu xin chấm dứt đại dịch COVID-19. Buổi cầu nguyện kết thúc với việc chầu Thánh Thể và phép lành Urbi et orbi ngoại thường. Đức Thánh Cha đứng một mình trên các bậc thang của Quảng trường Thánh Phêrô, nâng cao Mặt nhật đựng Mình Thánh Chúa và ban phép lành cho thành phố Roma và thế giới.

Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm
Chuyển ngữ từ: thepriest.com (15. 11. 2022

NGUỒN WHĐ (19.12.2022)