Wednesday, March 25, 2015

Linh Mục - Người Là Ai?

LTS: Bài viết "Linh mục - người là ai?" xin chỉ giới hạn vào vấn đề bản tính của chức linh mục (hoặc căn cước: identitas), chứ không bàn đến các khía cạnh tu đức, mục vụ.

A. NHẬP ĐỀ
Từ công đồng Vaticano II đến nay, vấn đề “can cước” của linh mục đã được bàn cãi không những trong các tác phẩm thần học, mà còn trở thành mối quan tâm của các nhà lãnh đạo Giáo hội, điển hình là hai phiên họp của Thượng hội đồng Giám mục năm 1971 và 1990, và văn kiện của Bộ Giáo lý đức tin năm 1983. Đó là chưa nói tới vấn đề tryền chức linh mục cho nữ giới.
Trọng tâm của vấn đề có thể tóm lại như sau. Từ công đồng Trentô đến nay, căn cước của linh mục thường được mô tả qua chức vụ tư tế (sacerdos): linh mục thay mặt Đức Kitô để dâng thánh lễ, giải tội và ban bí tích. Vào thời họp công đồng Vaticano II, hình ảnh đó đã bị chỉ trích vì hai lý do. Lý do thứ nhất, bởi vì chức vụ linh mục ra như chỉ giới hạn vào việc phụng tự, với nguy cơ trở thành ông thầy cúng! Linh mục còn có sứ mạng rao giảng lời Chúa, phục vụ cộng đoàn Dân Chúa nữa chứ! Lý do thứ hai là không những các linh mục mà cả các tín hữu cũng được thông dự vào chức tư tế của Đức Kitô nữa. Đó là điều quen được gọi là chức tư tế phổ quát (sacerdotium commune). Làm thế nào giải thích được hai cách thức tham dự vào cùng một chức tư tế của Đức Kitô?

Saturday, March 21, 2015

VỊ TRÍ NHÀ TẠM TRONG THÁNH ĐƯỜNG


Khi bước vào thánh đường, nhiều người có thể thắc mắc: tại sao vị trí nhà tạm ở nhà thờ này lại khác ở nhà thờ kia như thể không có một sự thống nhất nào cả; có nhà thờ đặt nhà tạm ở chính giữa bức tường phía đầu cung thánh; những nhà thờ khác cũng đặt nhà tạm ở bức tường phía đầu cung thánh nhưng lại dịch sang một bên, phía bên kia hoặc không có gì hoặc có một tòa nhỏ tôn vinh Sách Thánh nằm đối xứng với nhà tạm; có nơi nhà tạm được đặt ở xa bức tường phía đầu cung thánh hoặc xa hẳn cung thánh; thậm chí có những nhà thờ, khách lạ chẳng biết nhà tạm ở đâu... Chắc chắn, những ai chịu trách nhiệm xây mới hay sửa chữa nhà thờ, vì bàn thờ và nhà tạm vẫn còn là tiêu điểm kiến trúc của thánh đường, cho nên thường tự hỏi: vị trí của Nhà tạm ở đâu là thích hợp nhất? Để giải đáp những vấn nạn ở trên, bài viết sau đây sẽ giới thiệu đôi nét lịch sử và thần học về nhà tạm, từ đó, cùng với những tài liệu hướng dẫn của Giáo Hội, rút ra những thực hành cần thiết và thích hợp liên quan đến vị trí của nhà tạm.


Sunday, March 15, 2015

Các Giáo Xứ: Lịch Sử Và Thần Học

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.

 -------------------------------------------
Nội Dung
Nhập đề: Từ ngữ
1/ Tiếng Việt: xứ, họ.
2/ Tiếng Latinh: paroecia (Pháp paroisse, Anh parish), gốc bởi paroikia tiếng Hy-lạp.
I. Lịch sử
A. Những thế kỷ đầu tiên: từ ekklesia đến paroikia
B. Thời Trung cổ: sự thành hình các giáo xứ
C. Công đồng Trentô: quy tắc về cha xứ và giáo xứ
D. Công đồng Vaticanô II: giáo xứ với giáo-hội-học.
II. Thần học
A. Khái niệm về giáo xứ trong các văn kiện Tòa Thánh
1/ Những văn kiện công đồng Vaticanô II
2/ Bộ giáo luật 1983 và các văn kiện gần đây
B. Những khuôn mặt thần học của giáo xứ
1/ Nhìn từ khía cạnh cộng đoàn
2/ Nhìn từ các yếu tố cấu thành sứ vụ: martyria, leiturgia, koinonia, diakonia
III. Vài hệ luận: những mô hình giáo xứ
A. Dưới góc độ xã hội học: những cách xếp loại giáo xứ, và những biến chuyển xã hội
B. Dưới góc độ thần học mục vụ: chân dung cha xứ
***
Nhập đề
Để tiếp tục kế hoạch mục vụ của năm 2014 dành cho việc “Phúc âm hoá đời sống gia đình”, Hội đồng giám mục Việt Nam đã chọn cho năm 2015 đề tài “Tân phúc-âm-hóa đời sống các giáo xứ và các cộng đoàn sống đời thánh hiến”. Giáo xứ được giới thiệu như một “gia đình rộng lớn hơn”: “giáo xứ là gia đình của những người con cái Thiên Chúa, trong đó tất cả là anh chị em với nhau. Gia đình giáo xứ cần được Phúc-Âm-hóa, nghĩa là thấm đẫm tinh thần Phúc Âm và làm chiếu tỏa ánh sáng Phúc Âm ra chung quanh, đến với muôn dân”.
Chúng tôimuốn đóng góp vào kế hoạch này qua việc nghiên cứu hai điểm “thời sự” và “thần học” của giáo xứ. Bài này gồm có ba phần. 1/ Trong phần đầu, chúng ta sẽ ôn lại sự tiến triển của giáo xứ trải qua lịch sử, với những vấn đề giáo luật và mục vụ kèm theo. 2/ Trong phần thứ hai, chúng ta sẽ tìm hiểu những quan niệm thần học về giáo xứ dựa theo các văn kiện của Giáo hội. 3/ Từ đó, chúng ta sẽ rút ra vài hệ luận.
Trước khi đi vào vấn đề, chúng tôi muốn đưa ra vài nhận xét về từ ngữ.

Saturday, March 14, 2015

MẪU XÉT MÌNH TRƯỚC KHI XƯNG TỘI

(Dịch theo nguyên bản tiếng Ý do Phòng đặc trách các Buổi cử hành do Đức Thánh Cha chủ sự, ngày 11-03-2015.)



Wednesday, March 4, 2015

CHUẨN BỊ BÀI GIẢNG VÀ GIẢNG TRONG PHỤNG VỤ

THEO TÔNG HUẤN Evangelii gaudium

Quý Cha kính mến,

Năm 2014 vừa qua, linh mục đoàn Cần Thơ đã tìm hiểu và chia sẻ rất sôi động trong các khoá Bồi Dưỡng Tông Huấn đầu tiên của Đức giáo hoàng Phanxicô, Evangelii gaudium (Niềm vui Tin Mừng). Sau một thời gian “nghỉ ngơi”, “tiêu hoá”, và “lắng động”, bài viết này xin tóm lược ba ý chính: (1) đặc tính của bài giảng (homélie), (2) chuẩn bị bài giảng và (3) trong lúc giảng được rút ra trong số 135-159 của Tông Huấn, như “món ăn đặc sản” của Đức Phanxicô gửi tặng Quý Cha, những người rao giảng Tin Mừng.


I. Đặc tính của Bài Giảng (Homélie)

(1) Bài giảng là một chia sẻ kinh nghiệm mãnh liệt và hạnh phúc về Chúa Thánh Thần, về một cuộc gặp gỡ an ủi với Lời Chúa, một nguồn mạch không ngừng đưa đến việc canh tân và tăng trưởng.

(2) Bài giảng có một giá trị đặc biệt vì phát sinh từ trong bối cảnh phụng vụ Thánh Thể, do đó, nó là một cuộc đối thoại tuyệt vời nhất giữa Thiên Chúa và dân Ngài. Lời Chúa trước hết là một hồng ân hơn là một đòi hỏi.

(3) Bài giảng không phải là lúc để suy niệm hay dạy giáo lý. Nó không phải là một bài diễn văn hoặc một bài thuyết trình, nó cũng không là một bài học chú giải về Kinh Thánh, và không chỉ giới hạn vào việc khuyên răn luân lý. Nó càng không phải là một công việc quảng cáo hay một hình thức trình diễn để giải trí.

(4) Bài giảng phải đốt cháy lòng người, phải đem lại sự nhiệt thành và ý nghĩa cho buổi lễ.

(5) Một bài giảng hay phải có một ý tưởng, một tâm tình và một hình ảnh.


II. Chuẩn bị trước khi giảng

(1) Các mục tử nên dành nhiều thì giờ để học hỏi, cầu nguyện, suy niệm và sáng tạo mục vụ. Do đó, cần phải bớt một số công việc, cho dù quan trọng, để chuẩn bị bài giảng.

(2) Không chấp nhận bất cứ lý do nào, kể cả bận quá nhiều công việc, để không dọn bài giảng cho kỹ. Một mục tử mà không dọn bài giảng cho kỹ lưỡng thì không “thuộc linh”, không làm việc dưới sự soi sáng của Chúa Thánh Thần, và “thiếu trách nhiệm đối với những hồng ân mà mình đã nhận được”.

(3) Phương pháp soạn giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô:

+ Trước tiên, Cầu khẩn Chúa Thánh Thần,
+ Tiếp đến, phải tập trung vào bản văn, đặt nó trong mối quan hệ với toàn bộ Thánh Kinh. Phải chắc chắn hiểu đúng ý nghĩa và sứ điệp chính yếu mà tác giả muốn thông truyền. Đây là nguyên tắc quan trọng trong việc giải thích Thánh Kinh.
+ Chú ý đến các từ ngữ được lặp đi lặp lại hoặc nổi bât, nhận ra cấu trúc và sự thống nhất của nó,
+ Xem xét vai trò của các nhân vật...

(4) Người giảng phải tiếp cận Lời Chúa, lắng nghe Lời Chúa với tâm hồn cầu nguyện, ngõ hầu Lời Chúa thấm sâu vào những suy nghĩ và cảm xúc để cho Lời ấy chạm đến cuộc sống, khuyên nhủ và lay chuyển mình. Việc rao giảng sẽ đạt được hiệu quả khi người giàng truyền đạt cho người khác điều mà mình đã chiêm niệm.

(5) Cùng với việc lắng nghe Lời Chúa, người giảng phải lắng nghe giáo dân để biết được họ đang mong được nghe điều gì, để liên kết bản văn Thánh Kinh với cuộc sống họ. Cần phải có một sự nhạy cảm để nhận ra những gì thực sự ảnh hưởng đến đời sống của họ. Đây là cách nối kết sứ điệp của bản văn Thánh Kinh chiếu rọi vào hoàn cảnh sống cụ thể của dân Chúa.


III. Trong khi giảng

(1) Giảng như người mẹ nói chuyện với con mình, như người mẹ chuẩn bị bữa cơm cho gia đình.
(2) Giảng với thái độ gần gũi, giọng nói ấm áp, cách nói dịu dàng, cử chỉ diễn tả niềm vui.
(3) Giảng ngắn gọn.
(4) Trình bày sứ điệp cách đơn giản, theo chủ đề rõ ràng, nối kết các ý tưởng mạch lạc để người nghe có thể tiếp thu. Đơn giản trong cách sử dụng ngôn ngữ, giúp người nghe có thể hiểu dễ dàng. Tránh sử dụng ngôn từ chuyên môn trong nghiên cứu, nhưng sử dụng ngôn ngữ chung của người nghe.
(5) Sau cùng, giảng với cung giọng tích cực hơn là tiêu cực, nghĩa là nhấn mạnh đến những gì nên làm hơn là nói nhiều đến những cấm đoán. Một bài giảng tích cực sẽ khơi lên niềm hy vọng, hướng đến tương lai tốt đẹp.
-----------------------------------
Lm Giuse Lê Ngọc Ngà
http://gpcantho.com/ArticlesDetails.aspx?ArticlesID=7058

MẨU ĐỐI THỌAI với Thánh Giuse 

-------------------------------------
Một tâm hồn có lòng kính mến Thánh Giuse đến trước tượng ngài trong thánh đường và tâm sự với ngài về những thắc mắc tò mò của mình như sau:
1. Con xin chào Thánh cả Giuse. Ông Bà Cha Mẹ con thường nói với con về Thánh cả, nhưng chẳng ai rõ về Thánh cả bao nhiêu, ngoài hình tượng của Thánh cả trong hang đá ngày lễ Chúa Giêsu giáng sinh và tượng trong nhà thờ…Con Thấy người ta làm hình tượng Thánh cả sao có nhiều râu ria và chống gậy già quá vậy?
Thánh Giuse: Phải chính là ta đây. Và đúng như vậy, không có sử sách nào ghi lại cuộc đời của ta cả. Trong phúc âm có ghi lại vài dòng như quê quán nơi sinh ở Bethlehem, nơi Chúa Giêsu Giáng sinh trên cánh đồng; rồi sống lưu lạc với Đức Mẹ Maria và Chúa Giêsu bên Ai-cập sau cùng trở về sinh sống nơi làng quê miền Na-da-rét đất nước Do Thái.
Về nghề nghiệp ta làm nghề thợ mộc đóng bàn ghề, tủ đựng thức ăn chén bát, xây nhà cửa có khi lát gạch cả lối đi ngoài cổng nữa, làm kế sinh sống nuôi gia đình. Và trẻ Giêsu cũng học làm nghề này với ta cả.
Có lẽ vì thế mà xưa nay người ta tạc khắc vẽ hình tượng ta với cái cưa, cái đục, cái búa, cái bay thợ nề. Điều đó không có gì sai cả. Trái lại tốt thôi. Ta vui mùng vì người ta đã biết quý trọng công việc làm ăn tay chân.

Friday, February 27, 2015

ĂN CHAY 

--------------------------------
Có người ăn chay nhưng không hãm mình.
Có người hãm mình nhưng không ăn chay.
Có người vừa ăn chay vừa hãm mình.
Có người không chay cũng chẳng hãm.
---------------------------------------------------- 

Ăn chay và hãm mình thuộc về tâm hồn, nội tâm. Thực tâm đến mức nào chỉ mình mình biết, mình mình hay. Ăn chay hãm mình thật phải là việc làm tự nguyện, thành tâm và làm với lòng mến. Ăn chay thực cần đi đôi với hãm mình. Thiếu hãm mình không thể nào là ăn chay vì bản chất của chay tịnh là tự chế, tự chủ. Tuy nhiên không phải tất cả các tự chế, tự chủ đều là ăn chay. Do vậy người ta có thể hãm mình nhưng không cần ăn chay. Ăn chay thiếu hãm mình là ngoài mặt ăn chay nhưng tâm nghĩ mặn.

Thursday, February 26, 2015

(daminhvn.net) 18/02/2015
Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.
Thỉnh thoảng ở Việt Nam, người ta nghe nói đến Dòng khổ tu, tựa như “Dòng Phước sơn”. Tại sao gọi là Dòng khổ tu? Phải chăng để đối lại với các Dòng “sướng tu”?
Nguyên ý niệm “đi tu” đã gợi lên trong đầu óc một nếp sống khắc khổ rồi. Vì thế nếu có ai mong muốn “tu sướng” thì ắt là sẽ sớm thất vọng. Thú thực rằng tôi không hiểu ai đã đặt ra từ “Dòng khổ tu”, bởi vì tôi không thấy có từ ngữ nào tương đương trong tiếng La-tinh.
Nhưng hiểu thế nào là tu trì khắc khổ? Người ta có cảm tưởng rằng những người đi tu ăn sang mặc đẹp hơn là người ở ngoài đời.
16312938337_e9295f08de_o Tôi không dám phê bình những nhà tu hành ăn sang mặc đẹp. Rất có thể là họ nghĩ rằng còn có những cái khác còn khổ hơn chuyện ăn mặc, chẳng hạn như khổ vì không lập gia đình. Nhưng nếu nhìn lại lịch sử đời tu Kitô giáo, chúng ta thấy rằng nếp sống tu trì rất khắc khổ, theo nghĩa là họ sống rất đạm bạc nếu chưa nói là man rợ. Đừng kể việc họ đã từ bỏ gia đình, tài sản, chấp nhận sống nghèo, họ còn bày ra nhiều cực hình khác để hành hạ thân xác: từ chuyện kiêng khem trong việc ăn uống, đến chuyện đứng phơi mưa phơi nắng giữa trời, bất kể thời tiết ra sao. Dĩ nhiên, đó là vài thái cực được thực hành bên Syria chứ không phải khắp mọi nơi.

Saturday, January 31, 2015

Tại sao phải sạch tội trọng mới được rước Mình Máu Chúa?

 

Hỏi: Xin Cha giải thích thắc mắc sau đây: Xưa Chúa Giêsu thường đến ăn uống với những người tội lỗi như bọn thu thuế. Trong Bữa Tiệc Ly cuối cùng, Chúa đã cho Phêrô và Giuđa "ăn và uống" Mình Máu Chúa như tất cả các Tông Đồ khác hiện diện. Vậy tại sao bây giờ Giáo Hội dạy phải sạch tội trọng mới được rước Mình Máu Thánh Chúa Kitô.?
 Trả lời:
I- Trước hết, xin tự hỏi : tại sao Chúa Giêsu giao du với những người bị xã hội Do Thái coi là tội lỗi?

   Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta cần đọc lại lời Chúa Giêsu nói với nhóm biệt phái xưa kia: “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần.” ( Mt 9:12)  Thật vậy, Chúa Kitô đến để tìm những người tội lỗi và kêu gọi họ ăn năn sám hối để được tha thứ và cứu rỗi. Do đó, Chúa tự ví mình như thầy thuốc đi tìm bệnh nhân để cứu chữa chứ không tìm người mạnh khoẻ để săn sóc.

Tuesday, January 27, 2015

LINH MỤC CÓ ĐƯỢC PHÉP DẠY “GIÁO LÝ” VÀ CỬ HÀNH CÁC BÍ TÍCH THEO Ý RIÊNG MÌNH KHÔNG ?

Hỏi: xin cha giải thích vài thắc mắc  sau đây liên can đến việc dạy dỗ và cử hành bí tích của linh mục:
1. Có linh mục kia, khi dâng lễ ở tư gia, đã mời mọi người có mặt tham dự lên rước Mình Thánh Chúa, vì cho rằng Chúa đã tha hết mọi tội cho con người rồi nên không cần phải xưng tội trước khi rước Mình Thánh Chúa!
2. Có linh mục khác đã vào nhà thương và chứng hôn cho đôi vợ chồng đang “rối” về hôn phối, theo lời  yêu cầu của bà mẹ đang nằm nhà thương nhân lúc linh mục đến thăm bà này.Như vậy hôn phối kia có thành sự hay không?

Saturday, January 24, 2015

VIỆC HÌNH THÀNH KINH TIN KÍNH

Bốn công đồng chung đầu tiên

I. Đức Giêsu, Thánh Linh là Thiên Chúa?
1. Ario
2. Công đồng Nicêa (325)
3. Nửa thế kỷ xáo trộn
4. Công đồng Constantinopoli (381)

II. Đức Giêsu nhập thể thế nào?
1. Hai trường phái Alexandria – Antiokia
2. Công đồng Êphêso (431)
3. Công đồng Calcêdonia (451)

III. Liên hệ giữa các Giáo Hội
Toát yếu - Câu hỏi

------------------------------------------------------------------------------

Kinh Tin Kính

 KINH TIN KÍNH CÁC TÔNG ÐỒ
KINH TIN KÍNH CÔNG ÐỒNG NIXÊ CON-TAN-TI-NÔ-PÔ-LI
* Tôi tin kính Ðức Chúa Trời
Tôi tin kính một Thiên Chúa duy nhất
* Là Cha phép tắc vô cùng
Là Chúa Cha toàn năng,
* dựng nên trời đất
 Ðấng tạo thành trời đất muôn vật hữu hình và vô hình
* Tôi tin kính Ðức Giê-su Ki-tô
Tôi tin kính một Chúa duy nhất
* là Con Một Ðức Chúa Cha
là Ðức Giê-su Ki-tô,
* cùng là Chúa chúng tôi
Con Một Thiên Chúa,

Sinh bởi Chúa Cha từ trước muôn đời :

Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa;

Ánh sáng bởi ánh sáng;

Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật

được sinh ra mà không phải được tạo thành.

Ðồng bản tính với Chúa Cha:

Nhờ Người mà muôn vật được tạo thành.

Vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi

Người đã từ trời xuống thế;
* Bởi phép Ðức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai
Bởi phép Chúa Thánh Thần
* Sinh bởi bà Ma-ri-a đồng trinh,
Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Ma-ri-a và đã làm người.
* Chịu nạn đời quan Phong-Xi-ô Phi-la-tô
Vì chúng tôi Người chịu đóng đinh vào thập giá dưới thời Phong-xi-ô Phi-la-tô
* Chịu đóng đinh trên cây Thánh Giá, chết và táng xác,
Người chịu khổ hình và mai táng 
* Xuống ngục tổ tông.

* Ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại,
Ngày thứ ba Người sống lại đúng như lời Thánh Kinh,
* lên trời,
Người lên trời
* ngự bên hữu Ðức Chúa Cha phép tắc vô cùng
ngự bên hữu Chúa Cha
* Ngày sau bởi trời lại xuống
và Người sẽ lại đến trong vinh quang
* phán xét kẻ sống và kẻ chết
để phán xét kẻ sống và kẻ chết

triều đại Người sẽ vô cùng vô tận.
* Tôi tin kính Ðức Chúa Thánh Thần,
Tôi tin kính Chúa Thánh Thần

Người là Chúa và là Ðấng ban sự sống;

Người phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con.

Người cùng được phụng thờ và tôn vinh với Chúa Cha và Chúa Con

Người đã dùng các ngôn sứ mà phán dạy.
* Tôi tin có Hội Thánh hằng có ở khắp thế này,
Tôi tin có một Hội Thánh duy nhất thánh thiện, công giáo và tông truyền
* Các thánh thông công

* Tôi tin phép tha tội
Tôi tuyên xưng có một phép rửa duy nhất để tha tội
* Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại
Tôi đợi trông ngày kẻ chết sống lại
* tôi tin hằng sống vậy
 sự sống đời sau.
* A-men
 A-men


 ++++++++++++++++++++++++++++++++++++

Thursday, January 22, 2015

GIÁO HỘI VÀ ƠN CỨU ĐỘ
Để có thể nhận định cách trung thực nguyên tắc “Ngoài Giáo Hội không có Ơn Cứu độ” (Extra Ecclesiam nulla salus – Hors de l'Église, pas de salut) của Thánh Giám Mục Cypriano (210 – 258). Chúng ta cần nhận ra tính chất hiệp nhất của Giáo Hội. Theo ngài, Giáo Hội từ nền tảng là mầu nhiệm hiệp nhất. Giáo Hội có ơn gọi hiệp nhất. Giáo hội phải thực là sự hiệp nhất các tâm hồn (một lòng) các tâm trí (một dạ). Một dân được hiệp nhất bằng chính sự hiệp nhất của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

Tuesday, January 20, 2015

40 câu hỏi & đáp về Tông huấn Familiaris Consortio
CÂU HỎI 1: Đâu là những mặt tích cực và tiêu cực liên quan đến đời sống hôn nhân gia đình trong thế giới hôm nay? (x. FC 6)
• Hoàn cảnh trong đó các gia đình đang sống hiện có cả những khía cạnh tích cực và tiêu cực: một số khía cạnh là dấu cho thấy ơn cứu độ của Đức Ki-tô đang tác động trong thế gian, một số khía cạnh khác là dấu cho thấy sự chối từ của con người đang chống lại tình thương của Thiên Chúa.
Một đàng, người ta thấy có một ý thức sống động hơn về tự do cá nhân và một sự chú ý nhiều hơn đến phẩm chất của các tương quan liên vị trong hôn nhân, đến sự nâng cao phẩm giá phụ nữ, đến sự sinh sản có trách nhiệm, đến việc giáo dục trẻ em; thêm vào đó là ý thức về nhu cầu phải phát triển những liên hệ giữa các gia đình để giúp đỡ lẫn nhau về mặt tinh thần và vật chất, cũng như khám phá lại sứ mạng Hội Thánh riêng biệt của gia đình và trách nhiệm của gia đình trong việc xây dựng một xã hội công bình hơn. Nhưng đàng khác, cũng không thiếu những dấu hiệu cho thấy một sự thoái hoá đáng lo ngại về một số giá trị căn bản: một quan niệm sai lầm trên lý thuyết và thực hành về sự độc lập giữa hai vợ chồng, những mập mờ rất trầm trọng về tương quan uy quyền của cha mẹ đối với con cái, những khó khăn cụ thể trong việc lưu truyền các giá trị như nhiều gia đình đã cảm nghiệm, con số các vụ ly dị gia tăng, vết thương về sự phá thai, việc dùng các phương pháp tuyệt sản ngày càng nhiều, việc hình thành một não trạng đích thị là não trạng chống thụ thai.

Saturday, December 27, 2014

Hiểu Sống Đức Tin: Tại Sao Có Người Đi Tu Mà Không Khấn?

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.
Thường thường các tu sĩ được định nghĩa như là người khấn khiết tịnh, khó nghèo, vâng lời. Nhưng mà tại sao có những người đi tu tận hiến mà không có lời khấn, thí dụ như các tu hội đời? Có cần phải khấn mới trở thành tu sĩ không?
Trong tiếng Hán Việt, chữ khấn tự nó chỉ có nghĩa là cầu xin (khấn nguyền, khấn cầu). Có người cho rằng nó bắt nguồn bởi tiếng “khẩn” là thành thật. Khấn thường đi kém với hứa. Hứa thì thêm tư tưởng “hẹn” (hứa hẹn). Khấn hứa vừa bao gồm việc cầu xin, vừa hẹn sẽ tạ ơn nữa. Thiết tưởng nên ghi nhận là việc khấn hứa được dành riêng cho thế giới thần linh (cầu Trời khấn Phật) chứ không áp dụng cho xã hội loài người. Chúng ta có thể lấy một thí dụ từ đời sống hàng ngày, khi một người phải đương đầu với một khó khăn nào đó (thí dụ: sinh viên sắp đi thi, bệnh nhân sắp bị mổ, thương gia sắp lên đường kinh doanh), thì họ đến cầu khấn Chúa, (hay đức Mẹ, hay một vị thánh nào đó) giúp đỡ và hứa rằng nếu vượt qua được thì sẽ tạ ơn. Quan điểm này khá gần gũi với quan điểm “votum” trong tiếng La-tinh cổ điển. Động từ vovere có nghĩa là bày tỏ ước nguyện lên các đấng thần linh, kèm theo lời hứa sẽ thực hiện một công việc gì đó. Ta thấy hàm chứa một tương quan khế ước trong đó: nếu thần linh ban cho tôi được ơn này, thì tôi sẽ tạ lễ như thế này; dĩ nhiên là nếu thần linh không ban ơn thì tôi cũng không bị ràng buộc gì hết. Thế nhưng, đến khi thánh Tôma Aquinô suy luận về bản chất của lời khấn thì ngài đã sửa lại quan điểm khế ước về lời khấn, nghĩa là chỉ giữ lại khái niệm về lời hứa sẽ thực hiện điều gì đó, chứ không đặt điều kiện là phải nhận được ơn lành. Quan điểm thần học của thánh Tôma được bộ giáo luật lặp lại ở điều 1191: “khấn (votum) là hứa với Thiên Chúa sẽ thực hiện một điều tốt”. Mình hứa với Thiên Chúa sẽ thực hiện một điều tốt bởi vì mình muốn bày tỏ lòng kính mến Chúa, muốn tiến trên con đường trọn lành, chứ không phải chỉ vì muốn đút lót để xin Ngài làm ơn cho mình. Dù sao, đó là nói trên nguyên tắc trừu tượng. Trên thực tế, có nhiều cấp độ mà chúng ta khấn hứa với Thiên Chúa. Chúng ta có thể hứa sẽ làm một công tác nào cụ thể (thí dụ kiêng hút thuốc, kiêng xem tivi, ngày thứ sáu; hứa sẽ đi lễ hàng ngày); nhất là chúng ta có thể hứa sẽ dâng trót mình phụng sự Chúa.

Wednesday, December 24, 2014


HANG ĐÁ là... SỰ TỪ CHỐI.

“Mừng Chúa Giáng Sinh”. Biểu ngữ này được trưng bày khắp mọi nơi, nhưng thật sự thì chúng ta chỉ nói xã giao với Chúa thôi, chúng ta chỉ đón mừng trên môi miệng thôi. Thực tế thì chúng ta chỉ đón mừng Chúa trong Hang Đá mà thôi
.Lễ Giáng Sinh là dịp để người ta chuẩn bị trang hoàng đường phố, xóm đạo, trang hoàng nhà cửa, trang trí hang đá, cây thông với những sắc màu rực rỡ của những ánh đèn chớp sáng. Có thể nói lễ hội Giáng Sinh là lễ hội của ánh sáng. Đêm Giáng Sinh chính là đêm của ánh sáng.

Satan đã làm cho Lễ Giáng Sinh đơn thuần chỉ là lễ hội, satan làm cho lễ Giáng Sinh đã trở nên tục hóa. Ông già Noel đã chiếm chỗ của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu thì ở trong nhà thờ, còn ngoài nhà thờ thì là ông già Noel. Đi đâu cũng thấy người ta chào đón ông già Noel, làm hang đá thật to và rực rỡ. Nhưng tất cả chỉ là vẻ bề ngoài. Người ta đâu có chào mừng Con Thiên Chúa đến làm người một cách long trọng như vậy.

“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời.” (Ga 3, 16)

“Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1, 11).

Ngày xưa cũng vậy và ngày hôm nay cũng vậy thôi. Người ta đón tiếp Chúa bằng cách đóng cửa lòng lại, không cho vào nhà mình. Chúa chỉ được đón tiếp trong một hang đá lạnh lẽo, đón rước bởi bò với lừa, con người không có đón rước Chúa. Ngày hôm nay, theo sự đánh giá của Đức Gioan Phaolô 2, thế giới chúng ta đang sống trong nền văn hóa của sự chết: ăn gian, nói dối, ly dị, tự tử, an tử, bắt cóc con tin, cỗ võ chiến tranh, phát triển vũ khí, các sắc tộc chém giết nhau… (nền văn hóa của sự chết là nền văn hóa của ma quỷ, bởi vì ma quỷ chỉ có khả năng sản xuất ra đau khổ và chết chóc mà thôi). Còn theo sự đánh giá của Đức Bênêdictô 16 thì thế giới chúng ta đang làm nô lệ cho thuyết tương đối về mặt luân lý.

Như vậy, thời xưa hay thời nay thì Hang Đá đều là sự Từ Chối của con người không đón nhận Chúa. Hang đá không phải là sự khoe khoang như nhiều người vẫn làm, sự tự hào làm cho to, làm cho đẹp, làm cho rực rỡ sắc màu như nhiều người vẫn làm, mà Hang Đá bên ngoài chính là sự Từ Chối.


Do đó, đặc biệt trong Mùa Vọng này, mời gọi chúng ta mở lòng ra đón nhận Chúa, mời gọi chúng ta làm một Hang Đá trong lòng, là nơi thật sự Chúa muốn ngự đến và ở lại với chúng ta.

Lúc đó lòng của chúng ta sẽ bừng lên một ánh sáng, ánh sáng của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu chính là ánh sáng của Thiên Chúa đến trên nhân loại này: “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người.” (Ga 1, 9)

Như vậy chúng ta hãy cùng nhau làm cho lễ hội Giáng Sinh về với đúng nghĩa của nó. Chúng ta hãy cùng làm cho đêm Giáng Sinh chính là đêm của ánh sáng. Ánh sáng Thần Linh chứ không phải ánh sáng vật chất. Bằng cách mở lòng ra đón nhận Chúa thông qua các việc làm đạo đức một cách thường xuyên: ăn chay, cầu nguyện, xưng tội, đọc Kinh Thánh, tham dự Thánh lễ và rước lễ.
-----------------------------------
Gb.PLH




Wednesday, December 17, 2014

MONG CHỜ CHÚA ĐẾN



Mùa Vọng là thời gian chuẩn bị tâm hồn để mừng đón Con Thiên Chúa giáng trần làm người, đem Ơn Cứu Độ đến cho nhân loại. Mùa Vọng cũng là khoảng mong chờ Chúa đến riêng với mỗi người, đặc biệt là chung với mọi người: Ngài Chúa Giêsu tái lâm, Ngày Cánh Chung.

Sunday, December 14, 2014

Vẻ đẹp của nhà thờ đá Phát Diệm

Nhà thờ đá Phát Diệm được xây dựng từ năm 1875-1898, là một nhà thờ đẹp và độc đáo bậc nhất Việt Nam.



Đây là một quần thể kiến trúc gồm 1 nhà thờ lớn, 5 nhà thờ nhỏ cùng nhiều công trình khác trên khuôn viên rộng 22ha ở thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Nét độc đáo của nhà thờ là phong cách kiến trúc mô phỏng đình chùa của người Việt cùng chất liệu xây dựng chủ yếu là đá và gỗ.

Friday, December 5, 2014

ĐÓN NHẬN ĐỨC KITÔ TRONG NIỀM VUI

Một linh mục trẻ mới chịu chức được gởi đến giúp phụ tá cho một vị cha xứ già tại một giáo xứ nọ.  Khi đến nơi, vị linh mục trẻ đến chào vị linh mục già và xin ngài những lời khuyên cho công việc mục vụ của mình tại đây: “Thưa cha, con nên giảng về những vấn đề gì?”  Vị linh mục trả lời: “Chỉ giảng khoảng 10 phút thôi.”  Vài năm trước đây, tôi đến một giáo xứ tại Pháp để giúp mùa hè, và lời khuyên duy nhất của vị cha xứ tại đó cho tôi cũng là nên giảng và cử hành Thánh lễ ngắn bao nhiêu có thể vì dân chúng tại đây chẳng có nhiều thời gian.  Tôi đã làm theo lời khuyên này.  Thế nhưng điều làm tôi thực sự ngạc nhiên là khi được nghe một ban hợp xướng từ Anh quốc đến và trình diễn bài Messia của Handel.  Buổi trình diễn được tổ chức ngay tại nhà thờ của giáo xứ, và sau 3 tiếng đồng hồ trình diễn, nhiều người vẫn xin yêu cầu trình diễn thêm.  Thú thật, tôi chưa bao giờ nhìn thấy sự vui tươi hơn thế trên khuôn mặt của những người tham dự trong nhà thờ hôm đó, cũng như chưa bao giờ nhìn thấy sự nhiệt tình hơn thế nơi họ.  Sau đó, tôi đã hỏi cha xứ: “Làm sao bà con tín hữu lại có thể ngồi yên một chỗ trong hơn 3 tiếng đồng hồ để chăm chú lắng nghe ban hợp xướng với niềm vui như thế, trong khi họ lại chẳng có thái độ tương tự khi lắng nghe Lời Chúa trong thánh lễ?  Vị cha xứ chẳng trả lời được.

20
Vài năm sau, tôi đã có được câu trả lời từ một người bạn hiện đang dạy tại trường giáo lý, và những gì anh nói đã giúp soi sáng cho tôi.  Anh nói người ta cần có kinh nghiệm về Thiên Chúa trong cuộc sống của họ trước khi họ có thể lắng nghe Lời Chúa trong niềm vui.  Anh cho rằng việc loan truyền Lời Chúa cho những người chưa biết Chúa phải lưu ý tới mối tương giao cá nhân của họ với Chúa, vì người mà chẳng có mối tương giao cá nhân với Thiên Chúa thì cũng tựa như đọc thơ cho một người mà chẳng biết gì về thơ văn cả.  Khi ấy, họ sẽ dễ dàng chán và chỉ muốn bỏ đi ngay.  Vậy thì, làm thế nào để giúp người ta đi từ tâm trạng chán ngán khi nghe Lời Chúa đến tâm trạng vui tươi và hứng khởi khi nghe Lời Chúa?  Với Lời Chúa trong Chúa nhật hôm nay, thánh Gio-an Tẩy Giả đã đưa ra cho chúng ta một mẫu gương.

Khi chúng ta đọc Tin Mừng hôm nay: “Có Lời Thiên Chúa phán cùng con ông Da-ca-ri-a là ông Gio-an trong hoang địa.  Ông liền đi khắp vùng ven sông Gio-đan, rao giảng, kêu gọi người ta chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội” (Lc 3, 2-3). Trong đoạn văn ngắn này, chúng ta thấy có 3 bước cần thiết để giúp một người đi từ tình trạng lãnh đạm đến tình trạng nhiệt tình trong niềm tin. Ba bước đó là (1) Gio-an đi vào hoang địa, (2) Lời của Chúa đến với ông, và (3) Gio-an bỏ rời hoang địa và đi rao giảng niềm tin.  Mỗi người chúng ta cũng phải đi qua ba bước này để đạt đến tình trạng khởi sự sống niềm tin của mình trong niềm vui.

Bước 1: Đi vào Hoang địa. Hoang địa là nơi mỗi người sống một mình với Thiên Chúa.  Vào hoang địa nghĩa là bỏ đi những công việc, những bận tâm lo toan thường ngày để gặp gỡ Thiên Chúa trong cầu nguyện, trong việc đọc và suy niệm Lời Chúa.  Hoang địa là nơi chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa.  Chính bản thân mỗi người chúng ta phải làm bước đầu tiên này: đi vào hoang địa, tìm kiếm và gặp gỡ Thiên Chúa.

Bước 2: Để Lời Chúa đến với chúng ta.  Một khi chúng ta mở lòng ra với Thiên Chúa trong hoang địa, thì chính Thiên Chúa đến và chiếm ngự tâm hồn chúng ta.  Có một vị thánh nói rằng khi chúng ta bước 1 bước để đến với Thiên Chúa, thì chính Người lại bước 2 bước để đến với chúng ta.  Với bước thứ 2 này, Thiên Chúa đã có sáng kiến đến với chúng ta, chiếm ngự tâm hồn chúng ta, canh tân đổi mới chúng ta, tô điểm lại hình ảnh của Người nơi chúng ta mà chúng ta vốn được tạo dựng nên giống thế.  Một số người gọi đây là việc được “tái sinh. Khi những việc này xảy ra, chúng ta có thể ở lại một mình với Thiên Chúa cả ngày trong nhà thờ để cầu nguyện, để gặp gỡ Thiên Chúa qua Lời của Người trong Kinh Thánh.  Thế nhưng giống như Gio-an Tẩy Giả, chúng ta còn phải tiếp tục sống và thực thi những bổn phận của chúng ta trong gia đình và xã hội nữa.

Bước 3: Rao truyền Niềm tin của mình.  Khi đã trải nghiệm những điều tốt lành từ Thiên Chúa trong cuộc sống, chúng ta lại muốn chia sẻ những trải nghiệm này với người khác.  Lúc ấy, chúng ta giống như người mặc một chiếc áo thun có ghi dòng chữ lớn trên lưng “Wow, Thiên Chúa thật vĩ đại!” để mọi người có thể nhìn vào và cảm nhận được niềm vui, sự an bình tỏa ra từ chúng ta, và rồi họ cũng muốn được nên giống chúng ta, được trở thành bạn hữu của chúng ta.  Tiếp đến, chúng ta có thể chỉ cho họ thấy con đường đến với hoang địa để ở nơi đó, họ cũng được gặp gỡ chính Thiên Chúa.  Trải nghiệm về Thiên Chúa cũng tựa như trải nghiệm về tình yêu.  Bạn có thể nói cho người khác nghe về tình yêu, nhưng họ không thể hiểu được nó cho tới khi chính bản thân họ trải nghiệm.

Trong lời Tổng nguyện của lễ Chúa nhật, chúng ta thưa lên với Thiên Chúa: “Lạy Thiên Chúa toàn năng ái tuất, xin mở rộng tâm hồn chúng con để đón mừng Con Chúa.  Xin hãy loại bỏ những gì cản trở chúng con đón nhận Đức Ki-tô trong niềm vui.”  Để được như thế, trong Mùa Vọng này, chúng ta cần thực hiện bước thứ 1 để dành cho Thiên Chúa một chỗ trong tâm hồn chúng ta, dành thời gian để cầu nguyện, tham dự Thánh lễ và lắng nghe Lời Chúa.
-------------------------------------- 

Văn Chính, SDB chuyển ngữ