Saturday, April 1, 2023

ƠN TOÀN XÁ - Đôi nét về phép lành Urbi et Orbi

 

 Đôi nét về phép lành Urbi et Orbi

Theo truyền thống Giáo hội, hằng năm, Đức Thánh Cha ban phép lành Urbi et Orbi trong dịp Lễ Giáng Sinh và Lễ Phục Sinh.

Sau đây là đôi nét về phép lành Urbi et Orbi.

Ý nghĩa của phép lành Urbi et Orbi

Urbi et orbi, một thuật ngữ quay trở lại thời Đế chế La Mã, trong tiếng Latinh có nghĩa là thành phố (urbi) và thế giới (orbi). Ngày nay, Urbi et orbi diễn tả phép lành long trọng do Đức Thánh Cha dành cho thành Roma và toàn thế giới, ngay sau khi Ngài được bầu chọn, và hàng năm, khi Ngài kết thúc sứ điệp Phục sinh và Giáng sinh. Những tín hữu Công giáo sốt sắng nhận phép lành đặc biệt này, bất kể họ ở đâu, đều có cơ hội nhận được ơn toàn xá.

Bối cảnh của phép lành Urbi et Orbi

Người Roma cổ đại tin rằng họ là đế quốc hùng mạnh và có ảnh hưởng nhất trên thế giới. Các Hoàng đế Roma thường bắt đầu các sắc lệnh của mình bằng những từ urbi et orbi để củng cố sự thống trị trên toàn thế giới của Đế chế Roma, kéo dài từ năm 27 trước Công nguyên cho đến năm 476 sau Công nguyên.

Trong cuốn “A Companion to Early Modern Rome, 1492-1642” tác giả Pamela M. Jones viết rằng:

Urbi et orbi”- cho thành phố Roma và thế giới- câu mở đầu chuẩn mực của các tuyên ngôn của người Roma cổ đại, đã trở thành và vẫn là phép lành chính thức của Đức giáo hoàng được ban trong những dịp quan trọng. Trong đó có thể kể đến: lần xuất hiện đầu tiên trước công chúng của Đức tân giáo hoàng; sau khi tuyên đọc Sứ điệp Phục sinh và Giáng sinh hằng năm với việc ban các ơn toàn xá. Phép lành Urbi et orbi không chỉ thể hiện thẩm quyền của Đức giáo hoàng với tư cách là Giám mục của Roma và là người đứng đầu Giáo hội Công giáo, mà còn là địa vị độc nhất của Roma như là thủ đô của một tôn giáo hoàn vũ.

Theo tài liệu lịch sử, thuật ngữ urbi et orbi đã được dùng trong Giáo hội Công giáo bắt đầu từ thế kỷ XIII. Khi Chân phước Giáo hoàng Grêgôriô (r. 1271-76) mặc phẩm phục giáo hoàng sau cuộc bầu cử mật nghị, Đức hồng y niên trưởng công bố: “Tôi trao cho ngài chức vụ giáo hoàng Roma với tư cách là vị lãnh đạo của thành phố và thế giới”.

Các vị giáo hoàng kế vị sau đó đã ban phép lành Urbi et orbi vào thời điểm bầu cử và vào những dịp khác như: Lễ Phục sinh, Thứ Năm Tuần Thánh, lễ Thánh Phêrô và Phaolô; dịp Lễ đăng quang Giáo hoàng (từ Vương cung Thánh đường thánh Phêrô), Lễ Thăng thiên (từ Vương cung thánh đường thánh Gioan Laterano), và Lễ Đức Mẹ Mông Triệu (từ Vương cung thánh đường Đức Bà Cả). Phép lành Urbi et orbi vào những ngày lễ đặc biệt tiếp tục cho đến năm 1870.

Vào giữa những năm 1800, khi chính phủ Ý cố gắng hợp nhất một quốc gia nằm trong số những quốc gia và vùng lãnh thổ được kết nối lỏng lẻo của Ý. Các lãnh thổ của Giáo hoàng cắt ngang nước Ý, và Đức Giáo hoàng Pio IX (r. 1846-78) từ chối giao các lãnh thổ đó cho chính phủ Ý. Quân đội Ý bắt đầu chiếm các vùng đất của Giáo hoàng bằng vũ lực, đến ngày 20.  9. 1870, Đức Piô IX rút vào Vatican như là nơi duy nhất mà ngài vẫn còn cai trị. Sau đó, ngài từ chối đi ra ngoài, tự biến mình thành tù nhân của Vatican và do đó đã ban phép lành Urbi et orbi từ bên trong Vương cung thánh đường Thánh Phêrô. Duy trì hành động mang tính phản kháng này, Đức Piô IX và các Đức giáo hoàng kế vị trong 52 năm tiếp theo đều từ chối rời Vatican và tiếp tục ban phép lành Urbi et orbi bên trong Vương cung thánh đường Thánh Phêrô.

Vào ngày 06. 02. 1922, Đức tân Giáo hoàng Piô XI (r. 1922-39) thực hiện việc ban phép lành Urbi et orbi từ ban công bên ngoài Vương cung thánh đường Thánh Phêrô. Nhiều người kết luận rằng đây là dấu chỉ cho thấy Đức Piô XI sẵn sàng chấm dứt tình trạng tù nhân tự áp đặt, và bắt đầu công khai giải quyết các vấn đề với chính phủ Ý, hay còn gọi là Vấn nạn Roma (Roman Question).

Trong những năm gần đây, phép lành Urbi et orbi tiếp tục được ban vào dịp bầu chọn Tân giáo hoàng, và hằng năm vào Lễ Phục Sinh và lễ Giáng Sinh.

Công thức ban phép lành Urbi et orbi

Đức Thánh Cha đọc lời kinh xá giải và công thức ban phép lành toàn xá Urbi et Orbi cho thành Roma và toàn thế giới.

- Xin các thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, mà chúng ta tin tưởng vào quyền bính và uy tín của các Ngài, cầu thay cho chúng ta trước mặt Chúa. Amen.

- Nhờ lời cầu nguyện và công nghiệp của Đức Trinh Nữ Maria, tổng lãnh thiên thần Micae, Thánh Gioan Tiền Hô, các thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, và tất cả các Thánh, xin Thiên Chúa toàn năng thương xót và tha thứ mọi tội lỗi cho anh chị em, và xin Chúa Giêsu Kitô dẫn đưa anh chị em đến sự sống muôn đời. Amen.

- Xin Thiên Chúa toàn năng và nhân hậu ban cho anh chị em ơn toàn xá, tha tội và xóa bỏ mọi tội lỗi của anh chị em, ban cho anh chị em một mùa sám hối chân thực và hiệu quả, một lòng trong sạch, sửa đổi đời sống, ân sủng và sự an ủi của Chúa Thánh Thần và sự kiên tâm làm việc thiện cho tới cùng. Amen.

- Và xin phúc lành của Thiên Chúa toàn năng, là Cha và Con và Thánh Thần, ngự xuống trên anh chị em và ở lại cùng anh chị em luôn mãi. Amen.

Phép lành Urbi et orbi của Đức tân giáo hoàng

Sau khi được bầu chọn, vị Tân giáo hoàng được dẫn tới ban công chính Đền thờ Thánh Phêrô, và được giới thiệu với các tín hữu đang tập trung tại Quảng trường Thánh Phêrô. Ngài có thể chia sẻ một vài cảm nghĩ và sau đó, ban phép lành Urbi et orbi đặc biệt cho thành Rôma và thế giới.

Tông hiến Universi Dominici Gregis cung cấp những hướng dẫn cho việc bầu chọn giáo hoàng Rôma, giải thích:

Khi các thủ tục khác được quy định trong Mật nghị (Ordo Rituum Conclavis) đã được thực hiện, các Hồng y cử tri tiến lên trước mặt vị tân Giáo hoàng theo cách thức quy định, để thực hiện một hành động tôn kính và vâng phục. Sau đó là nghi thức tạ ơn Thiên Chúa, tiếp đến, vị niên trưởng Hồng Y đẳng Phó Tế  thông báo với mọi người đang chờ đợi rằng cuộc bầu cử đã diễn ra và tuyên bố danh hiệu của vị tân Giáo Hoàng. Đức Tân Giáo Hoàng xuất hiện tại ban công của Vương cung thánh đường, ban huấn từ và phép lành Urbi et Orbi cho thành Roma và Thế Giới.” (Số 89).

 Những hành động này kết thúc tiến trình bầu chọn giáo hoàng.

Các Đức giáo hoàng cho đến Đức Phaolô VI (r. 1963-78) đều đã có lễ đăng quang, được cử hành long trọng ít ngày sau cuộc bầu cử, trong đó có nghi thức trao vương miện giáo hoàng. Đây là một nghi thức mang tính biểu tượng, vì Đức tân giáo hoàng nhận được thẩm quyền của mình khi đồng ý chấp nhận cuộc bỏ phiếu mật nghị bầu Giáo hoàng. Sau lễ đăng quang, Đức tân giáo hoàng đi tới hành lang chính Vương cung thánh đường Thánh Phêrô và ban phép lành Urbi et orbi trước sự hiện diện của đông đảo dân chúng tại quảng trường.

Tới thời Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II, vào năm 1978 lễ đăng quang của ngài được thay thế bằng lễ nhậm chức và không có nghi thức trao vương miện. 

Đức giáo hoàng Phanxicô ban phép lành Urbi et orbi ngay sau khi được bầu chọn 3. 2013

Phép lành Urbi et orbi theo dòng thời gian

Được bắt đầu cách đây khoảng 750 năm, các Đức giáo hoàng tiếp tục truyền thống ban phép lành Urbi et orbi. Thông thường, sau khi ra trước ban công chính của Đền thờ thánh Phêrô, Đức Thánh Cha sẽ có một bài huấn dụ trước khi ban phép lành toàn xá Urbi et orbi. Như luật định, điều kiện để lãnh nhận ơn toàn xá là xưng tội, rước lễ, cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng, và từ bỏ mọi quyến luyến đối với tội lỗi. Theo lệ thường, hiệu quả của ơn toàn xá là được xoá các hình phạt tạm thời do tội lỗi bản thân. Ngoài ra, theo thời gian, Toà thánh cũng từng bước xác định việc tín hữu tại khắp nơi trên thế giới có thể lãnh nhận phép lành Urbi et orbi qua các phương tiện truyền thông.

- Đức Giáo hoàng Piô XII (r. 1939-58) quyết định rằng những người Công giáo quỳ trước chương trình phát thanh trong nghi thức ban phép lành Urbi et orbi có thể nhận được ơn toàn xá giống như những người hiện diện trực tiếp tại Quảng trường Thánh Phêrô.

- Phép lành Urbi et orbi đầu tiên được truyền hình là vào năm 1958 dưới triều Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII (r. 1958-63).

- Năm 1985, Toà thánh qui định tín hữu có thể lãnh nhận Phép lành toàn xá Urbi et orbi trực tiếp tại quảng trường thánh Phêrô hoặc gián tiếp qua việc nghe truyền thanh, xem truyền hình, hoặc theo dõi qua thiết bị máy tính.

- Trong thời gian gần đây, trước khi Đức Thánh Cha ban phép lành Urbi et orbi, Đức hồng y đẳng phó tế tuyên bố: “Đức Thánh Cha N. ban ơn toàn xá theo hình thức do Giáo hội quy định cho tất cả các tín hữu hiện diện và cho những ai nhận phép lành của ngài qua đài phát thanh, truyền hình và phương tiện truyền thông mới”.

- Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II (r. 1978-2005) khi trong giai đoạn hồi phục sau ca phẫu thuật mở khí quản vào Lễ Phục sinh năm 2005, dù không nói thành tiếng, ngài vẫn hiện diện để ban phép lành Urbi et orbi, do một vị hồng y tuyên đọc.

Đức Thánh Cha Phanxicô phép lành Urbi et orbi ngoại thường ngày 27. 3. 2020

- Đức Thánh Cha Phanxicô, vào ngày 27. 3. 2020, đã chủ sự khoảnh khắc cầu nguyện nhằm khơi lên niềm hy vọng, kêu gọi nhân loại hướng về Thiên Chúa, và cầu xin chấm dứt đại dịch COVID-19. Buổi cầu nguyện kết thúc với việc chầu Thánh Thể và phép lành Urbi et orbi ngoại thường. Đức Thánh Cha đứng một mình trên các bậc thang của Quảng trường Thánh Phêrô, nâng cao Mặt nhật đựng Mình Thánh Chúa và ban phép lành cho thành phố Roma và thế giới.

Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm
Chuyển ngữ từ: thepriest.com (15. 11. 2022

NGUỒN WHĐ (19.12.2022)

Phụng vụ - 10 điều bạn cần biết về Thứ Năm Tuần Thánh

10 điều bạn cần biết về Thứ Năm Tuần Thánh

Thứ Năm Tuần Thánh là một trong những ngày quan trọng nhất trong toàn bộ lịch sử. Đó là ngày trụ cột chính trong cuộc đời Chúa Giêsu. Dưới đây là 10 điều bạn nên biết và làm thế nào để cử hành các điều ấy trong ngày Lễ quan trọng này.

10 điều bạn cần biết về Thứ Năm Tuần Thánh | Phụng vụ | hiệp thông Loan bao Tin mừng,

Thứ Năm Tuần Thánh là một trong những ngày quan trọng nhất trong toàn bộ lịch sử. Đó là ngày trụ cột chính trong cuộc đời Chúa Giêsu. Dưới đây là 10 điều bạn nên biết và làm thế nào để cử hành các điều ấy trong ngày Lễ quan trọng này.

Trong mọi Thánh lễ chúng ta đều nghe những lời ‘Trong đêm Người bị trao nộp’. Đó chính là Thứ Năm Tuần Thánh, là đêm quan trọng nhất trong mọi đêm trong lịch sử.

Dưới đây là 10 điều bạn nên biết.

1. Điều gì đã xảy ra trong Đêm Thứ Năm Tuần Thánh đầu tiên?

Cả một khối khổng lồ những sự kiện đầy kinh ngạc! Đó chính là đêm trụ cột chính trong cuộc đời Chúa Giêsu.

Đây là một số những sự kiện mà Tin Mừng đã ghi lại cho ngày quan trọng này (bao gồm cả những sự kiện đã diễn ra sau nửa đêm).

  • Chúa đã bảo Thánh Phêrô và Thánh Gioan chuẩn bị một căn phòng trên lầu để tổ chức bữa Tiệc Lễ Vượt Qua.
  • Người đã rửa chân cho các tông đồ.
  • Người đã cử hành Thánh Lễ đầu tiên.
  • Người thiết lập Bí tích truyền chức Thánh.
  • Người đã tiên báo việc Giuđa sẽ phản bội Người.
  • Người ban “điều răn mới” là phải yêu thương nhau.
  • Người chỉ rõ việc Phêrô có vai trò Mục tử đặc biệt ở trong số các tông đồ.
  • Người tiên báo rằng Phêrô sẽ chối không biết Người.
  • Người đã cầu nguyện cho sự hợp nhất của những kẻ theo Người.
  • Tất cả những sự kiện trên được Gioan ghi chép tại trong 5 chươngcủa Tin Mừng Thánh Gioan (Gioan 13-18).
  • Người đã hát Thánh vịnh.
  • Người đã lên Núi Cây Dầu.
  • Người đã cầu nguyện trong Vườn Gethsemane.
  • Người đã bị Judas phản bội.
  • Người đã ngăn các tông đồ khỏi sự chống cự với bạo lực.
  • Người đã chữa lành tai của Malchus, người đầy tớ thầy thượng phẩm sau khi người này bị Tông đồ Phêrô dùng gươm chém đứt tai.
  • Người đã bị điệu đến trước mặt thày cả thượng phẩm Annas và Caiphas.
  • Người đã bị thánh Phêrô chối không biết Ngài.
  • Người đã bị điệu đến trước mặt quan Philatô.
  • Đó là một ngày quan trọng vô cùng.
  • Nếu bạn muốn đọc những trình thuật của Tin Mừng, bạn có thể dùng đường link sau đây.
    • Mt 26:17-75
    • Mc 14:12-72
    • Lc 22:7-62
    • Ga 13:1-18:27

2. Tại sao đôi khi người ta gọi Thứ Năm Tuần Thánh là “Maundy Thursday”?

Từ ngữ “Maundy” có nguồn gốc từ chữ Latinh “mandatum” hay “mandate”.

Chữ này dùng trong bản viết tiếng La Tinh trong Tin Mừng Thánh Gioan 13:34.

Ý nghĩa là “Ta ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu anh em.”

Vì thế, thứ Năm Tuần Thánh vì khi được gọi là Maundy Thursday bởi vì chính ngày này Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta một điều răn mới : Đó là hãy yêu thương nhau như Người yêu thương chúng ta.

3. Theo nghi thức phụng vụ, việc gì đã xảy ra vào ngày này?

Có một số việc:

Đức Giám Mục cử hành “Thánh Lễ Truyền Dầu” với các linh mục của mình (thường xuyên như vậy).

Thánh Lễ Bữa Tiệc Ly được tổ chức vào buổi chiều.

Trong Thánh Lễ Bữa Tiệc Ly, linh mục cử hành nghi thức rửa chân.

Nhà Tạm để trống và Bánh Thánh được đặt ở một nơi khác.

Bàn thờ không trải khăn.

Giáo dân được mời cầu nguyện trước Thánh Thể trong khi Thánh Thể yên nghỉ.

4. “Lễ Truyền Dầu” là gì?

Theo tài liệu chính thức về những nghi thức liên quan đến Mùa Phục Sinh, Paschales Solemnitatis: Trong Lễ Truyền Dầu, mà Đức Giám Mục cùng dâng lễ với những linh mục trong giáo phận và trong thánh lễ đó dầu thánh được thánh hiến và dầu được làm phép, diễn tả sự hiệp nhất của các linh mục với giám mục của mình trong cùng một Thiên chức linh mục và thừa tác vụ của Chúa Kitô.

Tất cả những linh mục cùng dâng lễ với Đức Giám Mục của mình phải tụ họp về tham dự Thánh Lễ này từ khắp mọi nơi trong giáo phận, vì thế họ sẽ là những người chứng kiến sự thánh hiến của dầu thánh và là những người cộng tác, như trong sứ vụ hàng ngày, họ là những người trợ giúp và cố vấn cho giám mục. Giáo dân cũng được khuyến khích tham dự thánh lễ này và họ cũng được đón nhận Thánh Thể.

Theo truyền thống, Thánh Lễ Làm Phép Dầu được cử hành vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh. Tuy nhiên, nếu vì một lý do nào đó mà giáo dân và các linh mục không thể tụ họp nhau được với vị giám mục thì nghi kễ sẽ được chuyển sang một ngày khác, nhưng phải rất gần với ngày Lễ Phục Sinh.

Dầu Thánh và Thánh dầu dự tòng được sử dụng trong nghi lễ của những bí tích mở đầu trong đêm Phục Sinh.

5. Tại sao Thánh Lễ Tiệc Ly lại mang tính đặc biệt?

Theo nghi thức Lễ Vượt Qua long trọng (Paschales Solemtitatis):

Cần phải lưu ý một cách cẩn thận tới những mầu nhiệm được tưởng niệm huyền bí trong Thánh lễ: việc thiết lập Bí Tích Thánh Thể, việc thiết lập bí tích Truyền CHức Thánh , và lệnh truyền của Chúa Kitô về tình yêu thương mang tính huynh đệ: Bài giảng phải giải thích thật rõ những điểm chính này.

6. Thánh Thể có đặt trong nhà tạm trong Thánh Lễ này không?

Không. Theo nghi thức Phụng Vụ trọng thể.

Nhà Tạm hoàn toàn để trống trước khi cử hành nghi thức.

Mình Thánh dùng cho giáo dân phải được thánh hiến trong Thánh lễ.

Một số bánh lễ đủ phải được Thánh hiến để dùng cho việc rước lễ trong ngày hôm sau.

7. Nghi thức rửa chân ám chỉ điều gì và có phải chỉ được thực hiện cho nam giới mà thôi không?

Theo nghi thức Phụng Vụ trọng Thể:

Việc rửa chân cho những nam nhân đã được chọn, theo truyền thống, được thực hiện trong ngày này, mang biểu tượng sự phục vụ và tình bác ái của Chúa Kitô, Đấng đã đến “không phải để được phục vụ nhưng là để phục vụ”. Truyền thống này nên được lưu giữ, và ý nghĩa tương xứng phải được giải thích.

Mặc dầu có một số giải thích nghi thức này (rửa chân) là phản ảnh một định chế về chức linh mục hoặc gắn liền với các Tông Đồ. Nhưng việc giải thích này không thấy ghi trong những văn kiện chính thức của Giáo Hội, ví dụ như Nghi Thức Thánh Lễ Long trọng là nơi giải thích nghi thức này mang tính phục vụ và bác ái yêu thương.

Mặc dầu mãi đến năm 2016, những văn bản chính thức của Giáo Hội ghi là chỉ rửa chân cho nam nhân do chữ Men (Latin là Viri) trong ngày Thứ Năm Tuần Thánh, Toà Thánh đã cho phép cá nhân các giám mục rửa chân cho nữ nhân và nam nhân (vì chữ Vir có nghĩa là “con người” chứ không phải “nam giới” trong một số trường hợp.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã thực hiện điều đó và vào năm 2016, Ngài đã cho phép Thánh Bộ Phụng Tự xem xét sửa đổi luật cũ cho phù hợp với thực hành ngày nay.

8. Việc gì đã diễn ra vào cuối Thánh Lễ Tiệc Ly?

Theo Nghi Thức Phụng Vụ Trọng Thể: Sau lời nguyện Hiệp lễ, rước kiệu với Thánh giá đi đầu được bắt đầu. Bánh Thánh đã được làm phép được kiệu đi giữa đèn cầy và hương trong thánh đường, để đặt vào nhà tạm trong tiềng hát của kinh “Pange Lingua” hay một bài thánh ca Thánh Thể nào khác.

Nghi lễ di chuyển Thánh Thể này có thể không được thực hiện nếu Nghi Thức Tưởng Niệm Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu không được tổ chức trong cùng một nhà thờ vào ngày hôm sau.

Mình Thánh phải được lưu giữ trong Nhà Tạm khoá kín hay hộp đựng Thánh thể. Mình Thánh không được đặt trong Mặt Nhật trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

Nơi Nhà Tạm không được có hình dạng giống ngôi mộ và từ giống “ngôi mộ” cần phải tránh sử dụng. Nhà Tạm không được trang trí để diễn tả việc an tang Chúa

nhưng là nơi giữ Mình Thánh để sử dụng trong Phần Hiệp Lễ vào Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh.

9. Có nghi thức tôn vinh Thánh Thể vào thời điểm này hay không?

Theo Nghi Thức Phụng Vụ Trọng Thể:

Sau Thánh Lễ Tiệc Ly, giáo dân được khuyên nên dành một thời gian trong đêm hôm đó tại nhà thờ để tôn vinh trước khi Bí Tích Thánh Thể được cất giữ một cách trọng thể.

Những nơi thích hợp, nghi thức tôn vinh Thánh Thể kéo dài này có thể đi kèm với việc đọc một phần của Phúc Âm Thánh Gioan (13-17)

Tuy nhiên, từ nửa đêm trở đi, nghi thức tôn vinh không kèm theo những hình thức trọng thể bên ngoài bởi vì đó là thời điểm bắt đầu Cuộc Khổ Nạn của Chúa.

10. Việc gì sẽ diễn ra trong việc trang trí nhà thờ lúc này?

Theo Nghi Thức Phụng Vụ Trọng Thể:

Sau Thánh Lễ, khăn trải bàn thờ phải được lấy đi.

Tất cả những Thánh Giá trong nhà thờ phải được che kín với khăn màu đỏ hay màu tím, trừ khi đã được che kín vào ngày thứ Bảy trước Ngày Chúa Nhật.

Không được thắp đèn trước tượng ảnh các thánh.

(Sưu Tầm)

Theo giaophanphucuong.org

 

LỄ LÁ 2023

 

Nghi thức phụng vụ khai mạc Tuần Thánh mang nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau: khởi đầu là bầu khí náo nhiệt tưng bừng, kết thúc là một thảm kịch bi thương.  Bài thương khó theo thánh Matthêu đưa chúng ta từ phòng Tiệc ly, đến chân thập giá và cuối cùng kết thúc nơi một nấm mồ được niêm phong.  Nghe đọc trình thuật thương khó của Chúa Giêsu, chúng ta cũng hoảng hốt như các môn đệ và số đông dân chúng đương thời.  Có lẽ nào một người tự xưng là Thiên Chúa mà nay phải chết cách nhục nhã thương đau?  Có lẽ nào một vị ngôn sứ đã từng nổi tiếng về quyền năng trong lời nói cũng như hành động mà nay phải thất bại trước mưu mô toan tính của con người?  Công lý ở đâu?  Phải chăng trời không có mắt?  Còn biết bao vấn nạn nữa được đặt ra, trong sự hoang mang sợ hãi của những người chứng kiến.  Nỗi sợ ấy lớn đến mức các môn đệ sợ hãi chạy trốn.  Giây phút Chúa Giêsu chịu thương khó và chịu chết là thời điểm của quyền lực tối tăm.  Bạo lực và gian dối nhấn chìm tất cả trong đau thương và bi đát.

 Những sự kiện được trình bày trong Bài Thương khó, sẽ được lần lượt cử hành qua các lễ nghi của Tam nhật Vượt qua.  Ngày lễ lá chỉ là khúc dạo đầu của các lễ nghi Tuần Thánh.  Trong Tam nhật Vượt qua, chúng ta sẽ từng bước đi theo Chúa Giêsu từ nhà Tiệc Ly (thứ Năm Tuần Thánh) đến chân đồi Canvê (thứ Sáu Tuần Thánh).  Cùng cảm nhận sự hoang mang trống vắng của các môn đệ, chúng ta đến bên mộ Chúa (thứ Bảy Tuần Thánh), rồi cuối cùng là niềm vui Phục sinh vỡ oà nơi chúng ta và các Kitô hữu trên khắp địa cầu.

 Hãy trở lại cuộc thương khó của Chúa Giêsu.  Tác giả Phúc âm cũng như các độc giả gốc Do Thái nhận ra nơi Chúa Giêsu người tôi tớ đau khổ mà ngôn sứ Isaia diễn tả.  Bài đọc thứ nhất Lễ Lá là Bài ca thứ ba, trong số bốn bài ca về người tôi trung của Đức Giavê.  Ngôn sứ Isaia diễn tả một người bị đánh bầm dập, chịu phỉ nhổ nhạo cười mà không thẹn thùng và cũng không cãi lại.  Đó là người tôi tớ trọn niềm trung kiên để thực hiện thánh ý Đức Giavê.  Tương tự như thế, thánh Matthêu diễn tả những nhục hình mà Chúa Giêsu đã chịu.  Những người lĩnh La Mã chế giễu Chúa và trút lên Người những trận mưa đòn trong sự ngạo nghễ của một đại quốc đối với công dân của một nước chư hầu.  Họ đã biến Người thành một tên hề để giải khuây.  Trong tình huống này, Chúa Giêsu vẫn nhẫn nhục.  Người mang vào bản thân sự đau đớn tinh thần cũng như thể xác.  Đối với một người đã có thời nổi tiếng và vinh quang, mà nay chịu nhuốc nha sỉ nhục, thì nỗi nhục càng lớn hơn gấp bội.

 Trong trình thuật thương khó, đám đông dân chúng, dù không phải là nhân vật chính, nhưng lại có ảnh hưởng rất lớn.  Mới trước đó họ cầm ngành lá để tung hô Chúa khi Chúa vào thành thánh, với sự thán phục và tự hào.  Vậy mà giờ đây họ giơ cao tay để đòi Philatô giết Chúa.  Họ nằng nặc đòi tha Baraba là một tù nhân khét tiếng, và đòi lên án tử cho Chúa Giêsu.  Lòng thù hận đã làm cho con mắt họ trở nên mù tối.  Dù biết Chúa Giêsu là người vô tội, họ vẫn tìm cớ để tố cáo Người.

 Đức Giêsu cô đơn giữa một đám đông khát máu.  Chặng đường thập giá cho chúng ta thấy chỉ có vài người phụ nữ bày tỏ lòng xót thương theo cảm tính nữ nhi.  Các môn đệ sợ hãi chạy trốn.  Những người đã trầm trồ thán phục khi Người rao giảng và làm phép lạ, nay chẳng thấy đâu.  Chúa đã đón nhận thập giá trong tâm tình vâng phục Chúa Cha.  Bài đọc II, trích thư của thánh Phaolô gửi giáo dân Philipphê đã diễn tả điều đó.  Người đã vâng lời cho đến chết và chết trên cây thập tự.  Tuy vậy, Chúa Giêsu không kết thúc cuộc đời ở nấm mộ.  Người đã phục sinh.  Qua sự phục sinh vinh quang này, Thiên Chúa Cha đã tôn vinh Người.  Cả trên trời dưới đất và nơi âm phủ đều phải tuyên xưng Người là Chúa.

 Trình thuật thương khó không chỉ là sự kiện của quá khứ cách đây hai ngàn năm, mà còn là của ngày hôm nay.  Thế giới hiện tại chính là đám đông hỗn độn năm xưa.  Quả vậy, trong xã hội của chúng ta, vẫn còn đó những người vô tội bị kết án oan sai và bị giết chết.  Biết bao người là nạn nhân của bạo lực, của chiến tranh, của kỳ thị.  Họ là những người yếu thế trước cường quyền.  Khi đọc trình thuật thương khó, mỗi chúng ta đều có thể nhận ra mình là một nhân vật trong vở kịch bi thương đó.  Hai ngàn năm đã qua, vẫn còn đó một đám đông ồn ào quan điểm bất nhất.  Vẫn còn đó những Philatô, những ký lục và biệt phái.  Họ là những người cậy quyền thế để áp bức dân nghèo.  Chúa Giêsu vẫn đang vác thập giá ngang qua cuộc đời chúng ta.  Người hiện thân nơi anh chị em chúng ta, nhất là nơi những người đau khổ và bất hạnh.  Chúng ta thờ ơ với những đau thương của Người, khi chúng ta thờ ơ với nỗi đau của đồng loại.  Biến cố thập giá giúp ta hồi tâm để tìm lại chính mình, đồng thời xin Chúa ban sức mạnh để tiếp tục tiến bước trong hành trình cuộc đời.

 Chứng kiến biến cố thập giá năm xưa, nhiều người đương thời cũng đặt ra những vấn nạn về bất công, đau khổ và về sự gian ác của con người.  Hôm nay, trong cuộc sống của chúng ta, những vấn nạn đó cũng vẫn đang được đặt ra, thậm chí vấn nạn về sự hiện hữu của Thiên Chúa và về lòng thương xót của Người.  Chúng ta hãy nhìn lên thập giá Chúa Giêsu để phần nào hiểu được ý nghĩa của đau khổ.  Cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu khẳng định với chúng ta: đã sinh vào kiếp người, ai cũng phải chết.  Lửa thử vàng, gian nan thử đức.  Những ai yêu mến và hy sinh vì tha nhân, sẽ tìm được hạnh phúc cho bản thân mình.  Hạnh phúc đó, không ai lấy mất, nhưng tồn tại mãi mãi.  Thập giá cũng nói với chúng ta: chính con người đang hủy hoại đồng loại và không ngừng gây đau khổ cho nhau.  Hãy ngưng bạo lực!  Hãy xây đắp tình huynh đệ!  Như thế đau khổ sẽ bị đẩy lui và hạnh phúc sẽ tràn đầy.  Chúa Giêsu sẽ nâng đỡ chúng ta trong hành trình thập giá, như chính Người đã hứa.

 Trong những ngày sắp tới, chúng ta cùng với Giáo Hội hoàn vũ cử hành nghi thức Tam nhật Vượt qua.  Những nghi thức này, thường là khá dài, hàm chứa những ý nghĩa biểu tượng rất sâu sắc.  Trong thinh lặng sâu lắng, chúng ta chiêm ngưỡng hình ảnh người Tôi tớ Giavê và suy tư cuộc khổ nạn của Người.  Qua đó, cuộc đời chúng ta được biến đổi, bao dung quảng đại hơn.  Chúa Giêsu đã chết vì chúng ta.  Người là nạn nhân của bạo lực và của vu khống.  Người khiêm nhường và hiền lành giữa cơn lốc hận thù của những người đồng bào.  Người chấp nhận cái chết để đem lại tự do và giải thoát cho muôn dân.  Người chính là con chiên vượt qua mới, thay thế cho con chiên vượt qua cũ của phụng tự Cựu ước.

 Thập giá không chỉ là biểu tượng của thương đau và thất bại, nhưng còn là dấu chỉ của tình yêu và hy vọng.  Nếu Chúa Giêsu đã chết trên thập giá, thì Người cũng đã sống lại vinh quang.  Thập giá chỉ là một giai đoạn mang tính nhất thời.  Đau khổ nào rồi cũng sẽ qua đi.  Sau cơn mưa trời lại hửng sáng.  Sự phục sinh vinh quang mới là đích điểm của Đức tin Kitô giáo.  Thế nhưng, không chết thì làm sao sống lại?  Khi tham dự các nghi thức Tuần Thánh, Giáo Hội mượn lời thánh Phaolô để kêu mời chúng ta hãy cùng chết với Đức Kitô để được sống lại với Người.  Hình ảnh hạt lúa mì gieo xuống đất chấp nhận mục nát để nảy nở, mọc cây và sinh hoa kết trái, chính là biểu tượng cho niềm hy vọng của chúng ta.

 -------------------------------------------------

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Saturday, March 18, 2023

Nguồn gốc tòa giải tội

 



Tòa giải tội xuất hiện vào thế kỷ XVI. Thánh Carôlô Bôrômêô, mà Giáo hội mừng lễ vào ngày 4/11, là nguồn gốc của việc sử dụng tòa giải tội.
Tòa giải tội là một phần trong lịch sử của Giáo hội Công giáo. Nó chỉ được tạo ra vào thế kỷ XVI. Quả thế, cho đến thời điểm này, việc xưng tội đã ddược thực hiện theo những cách thức khác nhau.
Vào thế kỷ thứ III, việc xưng tội chỉ được thực hiện một lần trong đời sống của mình và cách công khai. Từ thế kỷ IV, linh mục nghe xưng tội riêng tư và đưa ra việc đền tội tương xứng với tội lỗi đã được xưng thú. Các Kitô hữu bắt đầu xưng tội nhiều lần trong cuộc sống của mình. Mọi sự thay đổi vào năm 1215 ở công đồng Latêranô, dưới thời Đức Giáo hoàng Innôxentê III. Việc xưng tội diễn ra mỗi năm trước lễ Phục Sinh. Nó được thực hiện trên một băng ghế xưng tội (sedes confessionnalis), và hối nhân quỳ gối nhận xá giải. Một thế kỷ sau, vấn đề về sự kín đáo của việc xưng tội được đặt ra.
Mối quan tâm về sự ẩn danh và kín đáo của các cuộc trao đổi
Một số công đồng địa phương khuyến cáo giải tội cách kín đáo (in secretario), trong phòng thánh kín đáo. Đối với nữ giới, linh mục được khuyên nên ngăn cách bằng một vách ngăn thẳng đứng nhỏ, có phần giữa được khoét bằng chấn song và phía dưới có một bàn quỳ. Khoảng từ năm 1545 đến 1563, Công đồng Trentô dành một khóa họp khoáng đại cho bí tích Sám Hối. Chính vào thời điểm này được xác định nghĩa vụ xưng thú tất cả các tội trọng trước khi rước lễ. Do đó, chính trong suốt thời kỳ Phản Cải cách mà tòa giải tội đã được cổ võ lần đầu tiên. Và nguồn gốc của vật dụng phụng vụ này được cho là của thánh Carôlô Bôrômêô, một trong những vị Hồng y Giám mục người Ý đã dành nhiều tác phẩm của mình cho bí tích Giải Tội. Trong số các tác phẩm của ngài, thành công nhất và phong phú cho hậu thế nhất là Chỉ dẫn cho các cha giải tội trong thành phố và giáo phận của mình.
 

Ngài đã khuyến khích sử dụng một tòa giải tội và bắt buộc dùng nó trong thành phố Ý và trong tỉnh của ngài. Danh tiếng của ngài với tư cách Giám mục cải cách đã lan sang Pháp vào lúc kết thúc Công đồng, rồi cái chết của ngài vào năm 1584, và nhất là sau khi ngài được phong thánh vào năm 1610. Do đó, cách nhanh chóng, tòa giải tội đã được chấp nhận bởi các nước khác, trong đó có Pháp, sau các công đồng Aix-en-Provence (1585) và Toulouse (1590). Tòa giải tội này đảm bảo sự ẩn danh giữa linh mục giải tội và hối nhân, và cho phép sự kín đáo của việc trao đổi. Khoảng thế kỷ XVII và XVIII, nó được trang trí cẩn thận và trở thành nơi xưng tội hầu như duy nhất trong đạo Công giáo.
Các tòa giải tội kín ngày càng ít được sử dụng
Từ công đồng Vatican II, các tòa giải tội dưới hình thức phòng nhỏ kín càng ngày càng được ít sử dụng hơn cho dù chúng vẫn còn được dùng. Việc xưng tội diện đối diện được khuyến khích nhiều hơn. Tuy nhiên, một sách ngăn cách giữa hối nhân và cha giải tội vẫn có thể được duy trì để bảo vệ sự ẩn danh. Một sự ngăn cách đơn giản, nhẹ nhàng hơn, do đó thay thế các tòa giải tội lớn xưa. Quả thật, điều quan trọng là người tín hữu có thể chọn hình thức xưng tội để có thể lãnh nhận bí tích Hòa Giải trong những điều kiện tốt.
Tý Linh
Nguồn hdgmvietnam

Friday, March 17, 2023

Ngắm mười lăm sự Thương Khó Đức Chúa Giêsu

1.

  Năm nào cũng vậy, mùa Chay bắt đầu từ Thứ Tư Lễ Tro và diễn ra liền mạch 5 tuần lễ tiếp theo. Dọc dài quãng thời gian này, trong ngoài nhà thờ, từ tượng ảnh, khăn phủ nhà chầu Thánh Thể, đến cả lễ phục của chủ tế,  thảy đều màu tím than. Váng vất điều gì, như một thoáng thanh tĩnh,  u trầm, chay tịnh ở khắp nơi,  từ cảnh vật bên ngoài, đến lòng người, u ẩn,  riêng tư. Có muốn, cũng chẳng được nghe ngân vang đàn hát Kinh Vinh Danh (Gloria) và tung hô Tin Mừng (Alleluia) mỗi sớm mai đầu lễ. Bù lại, cứ chiều tối các ngày chẵn trong tuần, nhà thờ nào cũng đầy chặt những người là người, tề tựu đông đủ cùng nhau đọc kinh, lần hạt Mân Côi. Xen kẽ sau mỗi chục (hoặc 3 kinh Kính Mừng) thì Suy Ngắm về Sự Thương Khó của Ðức Chúa Giêsu (5, 10 hoặc trọn bộ 15 ngắm). Cử hành việc thiêng liêng này, miệng đọc - lòng suy mà tưởng niệm cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu trên suốt những chặng đường Cứu Ðộ lên Núi Sọ. Thực ra, không hề thấy Ngắm Mười Lăm Sự Thương Khó - hiểu như là một điều bắt buộc phải có của Phụng vụ - trong Lịch Công giáo quanh năm. Có chăng, chỉ là một nghi thức bên lề Phụng vụ, được cảm hứng từ một bản văn tường thuật về Cuộc Khổ Nạn của Ðức Chúa Giêsu, mà thuật ngữ của Phụng vụ quen gọi là Bài Thương Khó. Và đặc biệt,  được diễn cảm, phân cảnh theo từng chương hồi, bằng cung cách tế tự và bằng thứ ngôn ngữ, cung bậc ca vãn rất riêng của những cộng đoàn Việt Nam Công giáo ở ngay buổi hừng đông mới đón nhận Tin Mừng, nửa đầu thế kỷ 17.

Càng đọc kỹ những trang bút ký - Histoire du Royaume de Tunkin,  1651; Divers Voyages et Missions,  1653 của giáo sĩ Alexandre de Rhodes và của các nhà truyền giáo dòng Ðaminh,  dòng Phanxicô - càng hiểu rõ hơn hoàn cảnh phát sinh, thời điểm ra đời và cả những chỉ dẫn rất cẩn trọng cho việc cử hành nghi thức suy ngắm này : “Năm 1644,  ở Hội An,  giáo hữu hát những lời than thở bằng tiếng bản quốc rất thảm thiết về  sự thương khó của Ðức Chúa Giêsu... Chúng tôi đã chia các mầu nhiệm thương khó ra làm 15 đề tài. Cứ sau khi đọc chung 10 kinh chuỗi hạt thì ngắm một đoạn và suy niệm…”. Thói quen lành thánh ấy - như một truyền thống - đã được các thế hệ về sau, dù ở xứ Ðàng Trong hay Ðàng Ngoài - kế thừa, chấp hành rất nghiêm túc. Cụ thể là sách Thánh Giáo Kinh Nguyện của các giáo phận thuộc miền Thừa Sai Paris (Hà Nội,  Phát Diệm, Hưng Hóa, Thanh Hóa…); sách Toàn Niên Kinh Nguyện của các giáo phận miền Dòng Ðaminh (Hải Phòng, Bùi Chu, Bắc Ninh, Thái Bình,  Lạng Sơn…) và sách Mục Lục Nhựt Khóa của miền đạo thuộc Trung - Nam bộ (Vinh,  Huế,  Qui Nhơn,  Nam Kỳ Ðịa Phận…) là những dẫn chứng còn đậm nét nhất. Ðây, xin mời đọc lại “lời bảo” in trong Thánh Tuần Sự Vụ - Ca Hát Mùa Chay của sách Mục Lục: “Ðến giờ Ngọ thì dọn mình mà chầu Chúa. Trên bàn thờ,  thắp hai cây đèn. Dưới và trước bàn thờ đặt một chơn đèn lớn mà cắm mười lăm cây đèn. Ðoạn thì than mười lăm sự thương khó, cứ than và lần hột một chục thì tắt một cây đèn bên hữu; đoạn than một thứ khác và lần hết một chục thì tắt một cây đèn bên tả, và làm như vậy cho đến hết mười bốn cây đèn; còn một cây trên đảnh thì chớ tắt, mà để đọc kinh Chúng Tôi Là Vật Mọn. Ðoạn thì cất cây đèn ấy xuống, để phía sau bàn thờ cho khuất, rồi than Kinh Thẩm Phán…”. 

Kết quả hình ảnh cho sự thương khó

2.

  Ở bên Tây, bên Mỹ thế nào không rõ,  chứ ở Việt Nam ta - đặc biệt tại các nhà thờ xứ đạo làng quê - mùa Chay và Tuần Thánh đã diễn ra rất trọng vọng và phong phú. Cả về kinh sách, lễ nhạc (hình thức); cả về cảm thức thánh thiêng (nội dung). Nếu tôi nhớ không nhầm thì mùa Chay thuở ấy, xa thật xa trước Công đồng Vatican II - được chuẩn bị kỹ lắm, chi li từng tí một. Nói như người bây giờ là chuẩn bị từ xa, xa những 3 Chúa nhật trước Thứ Tư Lễ Tro, được đặt tên riêng bằng tiếng Latinh và rao trong Lịch Công giáo đàng hoàng: Septuagesima (thứ 70); Sexagesima (thứ 60) và Quinquagesima (thứ 50). Như thế, rõ ràng là đã có một Lễ Hội Mùa Chay Cả, một Tuần Ðại Phúc rất bài bản và không thiếu sắc màu, cảm xúc. Thậm chí, dân gian nhà đạo mình còn đặt cho nó một cái tên là Mùa Thương Khó. Ngạc nhiên chưa, thương khó cả một mùa, thương khó mà lại dễ thương làm sao! Nhớ và thương suốt cả một đời chứ chẳng dễ phôi pha, bèo bọt đâu.

Chu kỳ lễ hội mùa Chay này dễ nhớ và dễ thương còn vì nó vừa vận hành với thời vụ, hoa màu; với con nước, tuần trăng của đồng áng; lại vừa ăn khớp nhịp nhàng với bước đi chộn rộn của những hội hè đình đám ra Giêng ở ngoài đời. Ðạo và đời cứ như hòa quyện vào nhau, ràng ríu, quấn quýt như bóng với hình, rất nhuần nhị,  chan hòa. Ðến nỗi, có nhiều nơi, người bên lương và nhà chùa cũng tham gia, công đức, cúng dường với người bên đạo, như một lễ hội chung của thôn làng vậy.

Ðời thì :

Tháng Giêng, ăn Tết ở nhà. . .

Tháng Hai, trồng đậu, tháng Ba trồng cà

Còn đạo :

Tháng Hai - Ngắm đứng, tháng Ba - ra mùa…

Còn nhớ như in kinh Bổn lớp Ðồng Ấu thuở ấy dạy bọn trẻ chúng tôi thế này : “Xem lễ ngày Chúa nhật, cùng các ngày lễ buộc…  Xưng tội trong một năm ít là một lần / Chịu Mình Thánh Ðức Chúa Giêsu trong mùa Phục Sinh”. Bởi mỗi năm chỉ có một lần, thế nên, người ta nghỉ ngơi tất tần tật mọi việc nặng nhẹ, xa gần. Tạm gác một bên những mùa màng, bán buôn, chợ búa, vườn tược… chỉ để dọn mình xưng tội,  rước lễ, đặng “ăn mày các ơn ích thiêng liêng mùa Chay cả”. Cũng là để hồn xác được thong dong,  thư nhàn, hòa mình vào sinh hoạt nhà thờ - nhà thánh, đoàn thể - xứ họ… sau một năm lam lũ,  vất vả vì manh áo miếng cơm. Bởi thế, chẳng cần ai bảo ai. Mỗi người, mỗi giới, mỗi việc... Cứ răm rắp như là việc chung đã thành nền nếp của đất lề, quê thói, đời trước đến đời sau. Trong số những bộn bề bất thành văn ấy, đáng nói và tập trung chú ý hơn cả vẫn là Ngắm Mười Lăm Sự Thương Khó Ðức Chúa Giêsu. Truyền thống này hình như đã quá in sâu vào tâm thức, đủ sức lan tỏa, lôi cuốn mọi người vào cuộc. Chỉ tính rặt một sự kiện “Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu” thôi đã nhiêu khê, chồng chéo lắm rồi. Nào ngắm đứng, ngắm quỳ, ngắm rằng, ngắm nhân sao (ngắm đơn); nào ngắm dấu đanh, ngắm nhân tài, ngắm lễ đèn (ngắm kép / ngắm trọng thể); nào đi đàng thánh giá  v.v… Mỗi thứ mỗi vẻ, mỗi công đoạn, mỗi cách thể hiện lòng đạo, đức tin. Mỗi nơi, mỗi thời mỗi thêm bớt, đậm nhạt. Hỏi chứ, làm sao mà tránh cho khỏi những suy diễn, ngoại thư, hư cấu, thêm bớt, hoa hòe hoa sói, điều tiếng, khen chê, đúng sai ? Cũng vậy, làm sao không vướng víu vào cảm tính bi lụy thường tình, những khoảnh khắc lan huệ sầu ai của những người con Chúa mau nước mắt ? Những ai đã từng sống một thuở một thời với nhà thờ - xứ đạo - làng quê, hẳn còn nhớ cái cảnh tóc rối đầu tang, một trời khăn trắng ngày Thứ Sáu Tuần Thánh? Người ta bảo là để tang Chúa đấy! Thế mới hay, cái khuynh hướng chung về tâm lý, hình như bao giờ cũng nghiêng chiều về đường cay đắng, khổ ải, đau thương? Cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu - hơn hai nghìn năm rồi - mà vẫn cứ là đề tài còn tươi nguyên tính thời sự - khơi gợi biết bao nhiêu nguồn cảm hứng cho các thể loại văn học, nghệ thuật? Dầu sao, để phán xét một cách khách quan và công bằng, phải đặt Ngắm Mười Lăm Sự Thương Khó vào đúng thời điểm lịch sử của nó. Ðó là cái thời lịch sử đất nước ta đang chìm trong cảnh cát cứ, cương vực Trịnh Nguyễn phân tranh ở đôi bờ sông Gianh; giữa ảnh hưởng nhập nhòa, cũ mới, gần xa của Hán - Nôm thịnh mãn và Quốc ngữ còn phôi thai. Và cũng là lúc lòng người chưa thoát ra khỏi cái không khí ảm đạm, u hoài của tử biệt sinh ly, qua giọng bi ai, nhấn nhá, trầm bổng bàng bạc trong học quốc âm, như các thể loại Vè, Vãn, Ca, Ngâm. Dường như, có thể nói, kinh văn nguyện cầu trong nhà thờ và thơ văn ngoài đời đang có chung những tần số rung cảm có hơi hướm của lâm khốc biệt hành hơn là lưu thủy, hành vân. Từ Bạch Vân Quốc Ngữ Thi của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1587) đến Ngọa Long Cương Vãn và Tư Dung Vãn của Ðào Duy Từ (1572-1634). Từ thư mục kinh sách của giáo sĩ Girolamo Majorica (1591-1656), cho đến Cảm Tạ Niệm Từ của Thầy giảng Phan Chi Cô (1640) và Sấm Truyền Ca về sau này của Thầy cả Lữ-Y Ðoan (1670)... Không lạ gì, bên cạnh đó, còn bao nhiêu là thứ nghi thức, phụ họa gần xa để làm giàu cho kịch bản “Mùa Thương khó”, như hái lá dừa, rước lá dừa (thay cho cành lá ô liu, một sáng kiến của giáo sĩ Alexandre De Rhodes), rửa chân, rang nẻ gạo tám thơm, hái hoa xoan, nấu xôi làm con chiên, diễn tuồng thương khó, dâng hạt, kiệu bắt, đọc đoạn, đóng đanh, tháo đanh, táng xác, hôn chân, than mồ… Ðấy là chưa nói tới trường hợp Ngắm Thương Khó một cách trọng thể, gọi là Ngắm Dấu Ðanh, Ngắm Lễ Ðèn và Ngắm Nhân Tài vào chiều tối Thứ Sáu Tuần Thánh. Có đầy đủ lễ bộ, chương khúc; có phụ đệm của sênh phách, để cầm trịch thưởng phạt; có nhị, hồ, mõ, trống, chiêng, não bạt, nghi trượng, lễ tân…, nghe cũng không kém phần dìu dặt theo kiểu nhã nhạc cung đình. Ghi nhận lại như trên, chẳng phải vẽ vời hoa lá cành của kẻ viết bài này đâu. Mà bức tranh đầy cảm xúc thánh thiêng này còn thấy hiện ra ngay trong chữ nghĩa, chấm, phảy của các thư mục thuộc dạng “bản tường trình của Dòng Tên, 1645-1653”: Thật phải ngợi khen Thiên Chúa, khi thấy giáo dân kiên trì thức khuya để dự lễ… Họ ngâm những bài ca rất sầu thảm bằng ngôn ngữ của họ, như muốn đổ dòng nước mắt để rửa cho họ và dâng cho các Thiên Thần ngự ẩm…

3.

  Ðến nay đã trên dưới 400 năm rồi (1651-2019), Ngắm Mười Lăm Sự Thương Khó trước sau vẫn tồn tại nơi các cộng đoàn xứ đạo, dòng tu. Cứ coi như đây là một trong những nỗ lực mang tính sáng tạo bước đầu để giúp tín hữu người Việt mình thời ấy có điều kiện tiếp cận và thông dự phần nào vào đời sống thiêng liêng của mùa Chay. Nên nhớ cho rằng buổi ấy, kinh sách của nhà đạo mình đang ở trong tình trạng phôi thai về mặt chữ nghĩa, pha trộn Latinh, Hán, Nôm và Quốc ngữ. Mãi đến những thập niên 1960 của thế kỷ trước, dưới ánh sáng của Công đồng Vatican II và với kỹ thuật in ấn hiện đại, tình trạng cũ ấy mới chuyển đổi như ta thấy ngày nay. Thật lòng mà nói, phải tạ ơn Chúa thương. Suốt mấy trăm năm (1651-1965), Hội Thánh Công giáo ta yêu, cứ từng bước một, lớn dần lên, vươn vai dài rộng. Dù Hán, dù Nôm, dù Latinh, dù Quốc ngữ, ấy vậy mà cứ vang rền nền nảy, thông giọt, bén đồng, thật hiếm thấy trên cõi đời này. Tôi muốn nói tới kinh sách lễ nhạc của một thời đã qua, có cả những cảm xúc ở tận đáy thẳm vô thức, vô ngôn, không lý giải minh triết được. Rất đề huề, có nơi, có chốn hẳn hoi:

Các thầy đọc tiếng Latinh

Các cô con gái thưa kinh dịu dàng

Xét cho cùng, cả về hình thức lẫn nội dung, tuy Ngắm Mười Lăm Sự Thương Khó chỉ dừng lại ở cái ngưỡng cửa của phạm trù “lòng đạo đức dân gian”, nhưng thật sự đã xuất phát từ lòng khát khao của tổ tiên - ông cha ta muốn được hòa nhập vào dòng chảy chung của Giáo hội Công giáo ngay từ buổi đầu. Vừa là lịch sử, vừa là văn hóa, ngôn ngữ, lại vừa mang dấu ấn của đức tin, không thể xem thường. Mà đã là đức tin, là văn hóa thì chẳng phải là chuyện muôn thuở muôn đời sao? Ai nỡ để cho gió cuốn đi? Ngay đến vật chất phù vân, nhẹ bấc như gấm vóc, lụa là mà cũng mãi đậm đà nhan sắc nữa mà: “Lụa không nhàu, màu không nhạt !”. Huống hồ là văn hóa, là đức tin...

Ðể khép lại câu chuyện kinh hạt nhà đạo này, chi bằng học đòi cụ Nguyễn Du mà “đốt lò hương cũ, so tơ phím này”. Và chi bằng, lặng lẽ đi tìm thời gian đã mất thôi.

Mấy trăm năm qua, bản kinh văn ấy, cách cử hành ấy, ngôn ngữ và cung bậc ấy, tuy đôi khi có nhạt nhòa, biến tấu hoặc bị lãng quên ít nhiều, thì xem ra vẫn còn đâu đấy, như một ký ức Ðức Tin - Văn hóa trong lòng người con Chúa Việt Nam. Bởi vì mỗi năm, lòng ai kia như vẫn bồi hồi bước vào mùa Chay Thánh, khi cầm đọc và ngâm nga bản kinh văn ấy trên mặt giấy bản đã ố vàng cũ nát, mỏng tang. Trong khi ấy, ngoài kia là sân vườn, là ngõ trúc, bờ tre và dọc đường thôn đến nhà thờ, cứ ngây ngây mùi cốm mới ra Giêng và hoa xoan nồng nàn: loài hoa tim tím, chỉ nở đúng một lần, vào Mùa Thương Khó. Ðã kinh qua bao thế hệ và bao nhiêu cơn bão lũ nhiễu nhương của thời cuộc, phải chăng, cha ông ta đã biết đạo, vào đạo, giữ đạo, sống đạo, yêu đạo và truyền đạo một cách rất thuần thành, kiên định bằng chính hơi thở thiêng liêng, bằng chính máu thịt, hồn cốt thoát ra từ kho tàng văn hóa phi vật thể, là Kinh Sách, Lễ Nhạc? Nếu cơm gạo nuôi sống phần xác thì kinh hạt cũng đã thấm đẫm vào miền đất tâm hồn, để hạt giống Lời Chúa lớn lên, sinh hoa kết trái vậy? Nói như sử gia Tư Mã Thiên thì kinh sách là gì, nếu chẳng phải là tao phách của tiền nhân, tiên tổ dạy dỗ và gởi gắm cho con cháu đời sau biết thế nào là sống thuận ý trời và vừa lòng người.

Trở lại với bài báo nho nhỏ này , bản thân kẻ viết trộm nghĩ mình như đang bơi ngược dòng sông, họa may tìm được chút gì vang bóng của một chặng thời gian đã xa lắc xa lơ. Chẳng hiểu rồi đây, trong vòng xoáy của tốc độ công nghiệp và đô thị hóa, hỏi chứ, gìn vàng giữ ngọc cho ai và những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ?

Của cải mẹ cha cho, có vậy

Ðể dành, khi con lớn, con khôn

Những câu kinh sách, phiên chầu lễ

Ðã thấm vào da thịt, máu xương

Ðã nên nhân đức, nên lòng đạo

Nuôi sống cả đời con, xác hồn.

Lê Đình Bảng

Nguồn Trang mạng CGVDT

 

Wednesday, March 15, 2023

Trang hoàng cho BÀN THỜ

Khăn Bàn thờ

Ít là bàn thờ được phủ bằng khăn bàn thờ khi cử hành thánh lễ, khăn bàn thờ luôn luôn là màu trắng (QCSL 304).  QCSL 304 hướng dẫn như sau: “Vì lòng tôn kính đối với việc cử hành tưởng niệm Chúa và đối với bữa tiệc dọn Mình và Máu Chúa, nên phủ bàn thờ nơi cử hành một khăn màu trắng, có hình dáng, kích thước và trang trí thích hợp với cấu trúc của bàn thờ”. Có thể trang trí thêm vào khăn phủ bàn thờ tùy theo tập tục và văn hóa địa phương. Một tấm lót bằng nhựa plastic cần thiết có thể đặt ở trên bàn thờ được cung hiến nơi nhiều dầu thánh được sử dụng. Khăn bàn thờ có thể lấy đi sau thánh lễ, nhưng việc lột khăn bàn thờ là một dấu hiệu riêng biệt, cho nên tốt nhất được dành vào thứ Sáu Tuần Thánh. Để giữ cho khăn bàn thờ được luôn luôn sạch sẽ, nên phủ lên nó bằng một tấm phủ chống bụi đơn giản. 

Nến

Nến cần thiết trong thánh lễ là 2, 4 hay 6 cây (QCSL 117; 307). Thay đổi số cây nến là một cách thức phân biệt ngày lễ và mức độ cử hành. Tập tục tốt lành đã phát triển ở một vài nơi là sử dụng 2 nến cho lễ thường và lễ nhớ, 4 cho lễ kính và 6 nến cho lễ Chúa nhật cùng lễ trọng. Vào những dịp long trọng, sẽ sử dụng 7 nến khi Đức Giám mục giáo phận chủ tế (QCSL 117).

Khuynh hướng giảm kích cỡ của nến và chân nến sẽ giúp người ta cảm nhận tốt hơn và dễ tiếp nhận hơn….

Với những chân nến tiêu chuẩn, chúng đặc biệt cải thiện vẻ bề ngoài và tỷ lệ của bàn thờ nhỏ. Chúng có thể đứng gần bàn thờ và đỉnh của chân nến ít là ngang bằng với mức bề mặt của bàn thờ... Dù chọn lựa sắp xếp nến phụng vụ thế nào thì những dấu chỉ xinh đẹp của ánh sáng thánh thiêng cùng với sự hiện diện mang tính thiên thần này phải được tỏ cho mọi người thấy mối liên quan của chúng với bàn thờ, nhằm lôi kéo mọi cặp mắt hướng về điểm tập trung của cộng đoàn phụng tự.

Hoa

Theo QCSL số 305: “Nên giữ chừng mực khi trang hoàng bàn thờ. Trong mùa Vọng, bàn thờ được chưng hoa cách vừa phải, thích hợp với đặc tính của mùa, để không cho thấy quá sớm niềm vui trọn vẹn của ngày Sinh Nhật Chúa. Mùa Chay không được chưng hoa trên bàn thờ, trừ Chúa nhật Laetare (IV Mùa Chay), các lễ trọng và lễ kính.” Như vậy, việc chưng hoa phải luôn luôn điều độ, nên đặt hoa chung quanh bàn thờ hơn là trên bàn thờ.

Sử dụng hoa trong phụng vụ được điều chỉnh theo tập tục địa phương và mùa phụng vụ. Không dùng hoa trang trí ở trên hay gần bàn thờ trong mùa Chay.[1] Sự hiện diện của hoa hay không có hoa là một dấu chỉ hiệu năng theo nguyên tắc tương phản. Tốt hơn đừng bao giờ sử dụng hoa giả.

Nến và hoa có thể đặt gần hay trên bàn thờ. Tuy nhiên, theo như thực hành từ xa xưa và kinh nghiệm hiện nay, đặt chúng gần bàn thờ thì tốt hơn đặt ở trên bàn thờ.

Vấn đề micro

Micro trên bàn thờ nên được sử dụng theo kỹ thuật tân tiến nhất, để chúng luôn luôn thể hiện chức năng một cách hoàn hảo và không phải là đối tượng dân chúng dễ dàng có thể nhìn thấy. Micro và chân micro quá to sẽ che chắn các đồ thánh và gây cảm giác bừa bộn trên bàn thờ. Thực hành này đồng thời cũng phá vỡ một luật cổ xưa rằng đối tượng nào không liên quan đến Hy tế Thánh Thể thì đừng bao giờ đặt chúng trên bàn thờ.

Những dịp lễ lớn nên sử dụng thêm hoa, nến, đèn, biểu ngữ..., miễn là chúng làm cho ngày lễ đặc biệt thêm phong phú mà không làm giảm sự tập trung vào bàn thờ và cản trở các nghi lễ. Nên thêm đèn điện nhiều hơn vào dịp lễ Hiển linh (LNGM 240). Các biểu ngữ loan truyền các sứ điệp nên là những tác phẩm nghệ thuật chứ không phải là loại hàng rẻ tiền được trang trí.2

Lm Giuse Phạm Đình Ái,
Dòng Thánh Thể SSS

_____________________________________________________

Chữ viết tắt:

LNGM = Sách Lễ nghi Giám mục (1984).

QCSL  = Quy chế Tổng quát Sách Lễ Roma (2002).

1 QCSL 305; NLGM 48;252;397;824. Loại hoa ra khỏi nhà thờ chứ không chỉ trên bàn thờ trong mùa Chay, trừ ra trong Chúa nhật “Mừng Vui Lên”, lễ trọng và lễ kính.

2 Peter Elliott, Ceremonies of the Modern Roma Rite, 72 - Không đặt bất cứ bích chương (poster) nào ở cung thánh.