Wednesday, April 16, 2014


GIẢI ĐÁP PHỤNG VỤ

Dầu nào có thể được sử dụng lúc xức dầu khẩn cấp?

 
Hỏi:

Liệu một linh mục có thể dùng dầu parafin tại bệnh viện để rửa tội khẩn cấp, làm phép Thêm sức khẩn cấp và Xức dầu khẩn cấp cho bệnh nhân không? Đây là loại dầu không động vật thường được tìm thấy trong các bệnh viện một cách dễ dàng. Tôi tin rằng nó được chưng cất từ dầu mỏ. Liệu ba bí tích trên có thành sự khi được ban bởi dầu này không, bởi vì dầu đúng cách là không có sẵn trong trường hợp khẩn cấp?

Câu hỏi thứ hai là, nếu việc làm phép dầu là đơn giản với kinh “nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”, vì các công thức làm phép dầu không có sẵn khi khẩn cấp, thì việc ban bí tích cho người bệnh nặng có thành sự không? - J.T., Đài Loan

Wednesday, April 9, 2014


GIẢI ĐÁP THẮC MẮC
Lm. Fx. Ngô Tôn Huấn
-------------------------------------------
1- Thế nào là “bị treo chén”và “bị rút năng quyền”của một linh mục?
2- Người tân tòng có buộc phải “xưng tội”trước khi được rửa tội không?
3- Có lễ nào chỉ dành riêng cho một người xin hay không, và linh mục có được phép soạn kinh riêng cho giáo dân đọc hay không?
------------------------------------------ 

Photo: GIẢI ĐÁP THẮC MẮC  
Lm. Fx. Ngô Tôn Huấn
------------------------------------------- 
1- Thế nào là “bị treo chén”và  “bị rút năng quyền”của một linh mục?
2- Người tân tòng có buộc phải “xưng tội”trước khi được rửa tội không?
3- Có lễ nào chỉ dành riêng cho một người xin hay không, và linh mục có được phép soạn kinh riêng cho giáo dân đọc hay không?
------------------------------------------ 
Trả lời:
1- Về câu hỏi thứ nhất, xin được giải thích như sau:
Mọi linh mục giáo phận (diocesan priests)-  hay còn gọi là linh mục triều, sau khi được chịu chức, thường được giám mục của mình trao cho một thư bổ nhiệm (letter of  appointment) hay còn gọi là “bài sai”trong đó có liệt kê những năng quyền (priestly faculties) được làm như:
-  Cử hành Thánh lễ Tạ ơn (Eucharist)
-  Cử hành các bí tích rửa tội, thêm sức, hòa giải, sức dầu bệnh nhân và chứng hôn.
-  Giảng dạy giáo lý và Tin Mừng. (Gospels)

Như vậy, nếu không có thư bổ nhiệm trên, thì linh mục  không thể công khai ( publictly) cử hành các bí tích trên, dù mình có chức linh mục. Lại nữa, khi linh mục đang có năng quyền ở một giáo phận, đến chơi và lưu trú hơn một  tuần lễ  ở lãnh thổ thuộc giáo phận khác, thì cũng buộc phải xin năng quyền của Bản quyền địa phương, nếu  muốn thi hành sứ vụ linh mục như làm lễ cho bổn đạo, giải tội,  xức dầu v.v. Nghĩa là không phải cứ là linh mục thì đi đâu cũng đương nhiên được thì hành các tác vụ linh mục, dù mình có chức linh mục thực thụ., trừ trường hợp khẩn cấp  nguy tử  thì linh mục nào cũng được phép giải tội hay xức dầu cho bệnh nhân (x giáo luật 987, triệt 2)

Khi một linh mục phạm lỗi gì, khiến Giám mục của mình tạm rút hay rút vĩnh viễn  năng quyền (thí dụ  linh mục có tội về sách  nhiễu tình dục trẻ em), thì linh mục tạm thời hay vĩnh  viễn không được thi hành  mọi tác vụ linh mục ở bất cứ nơi nào trong  hay  ngoài giáo hội địa phương (giáo phận). Tuy nhiên, trong trường hợp khẩn cấp, nguy tử, thì dù bị rút hết năng quyền, linh mục vẫn được phép giải tội và xức dầu bệnh nhân như nói  ở trên..
 
Giáo dân Viêt Nam vẫn quen nghe nói linh mục bị “treo chén” nhưng đúng hơn phải nói theo giáo luật là “bị rút năng quyền.”

Treo chén hay rút năng quyền (suspension of faculties) hay nói theo giáo luật là  bị vạ huyền chức = suspension of faculties. (giáo luật số 1333) đều có nghĩa là linh mục tạm thời hay vinh viễn không được thi hành tác vụ linh mục (priestly  ministries) như giảng dạy, làm lễ, rửa tội,thêm sức, giải tội, xức dầu bệnh nhân và chứng hôn công khai ở đâu, trừ trường hợp khẳn cấp nguy tử của bệnh nhân thì linh muc vẫn phải làm nhiệm vụ, dù đang bị “rút năng quyền”.

Riêng các linh mục Dòng, nếu muốn thi hành tác vụ linh mục  trong phạm vi một giáo phận thì, ngoài năng quyền do Bề Trên Dòng  trao cho, cũng phải xin năng quyền nơi Bản quyền địa phương (giáo phận) nếu muốn làm mục vụ ở địa phương đó, theo đề nghị  của Bề Trên Dòng liên hệ.Khi năng quyền  này bị rút thì cũng không được phép thi hành năng quyền nơi cấp phát nữa.
 
2- Người Tân Tòng (catechumens) có cần phải xưng tội trước khi được rửa tội hay không?
Tôi đã có lần trả lời câu hỏi này rồi. Nay xin nhắc lại là theo giáo lý  thì người tân tòng có nghĩa là những người trên 18 tuổi, chưa từng được rửa tội,  muốn gia nhập Giáo Hội Công Giáo qua chương trình huấn luyện đặc biệt gọi là RCIA (Rites of Christian Initiation for Aduts). Người tân tòng  sẽ  được dạy giáo lý để được rửa tội, thêm sức và rước Mình Thánh Chúa lần đầu trong lễ Vọng Phục Sinh (Easter Vigil) đêm thứ bảy Tuần Thánh.

Khi được rửa tội, thì mọi tội cá nhân và tội nguyên tổ (original sin) cùng với hậu quả của tội  đều  được tha hết một lượt (x SGLGHCG số 1263). Do đó, người tân tòng không phải xưng tội cá nhân trước khi được rửa tội. Vả lại, không bí tích nào được ban thành sự  cho ai chưa được rửa tội, là cửa ngõ đi vào các bí tích khác như Thánh Thể, hòa giải, xức dầu bệnh nhân và Truyền Chức Thánh. Nghĩa là muốn lãnh nhận thành sự (validly) các bí tích trên, buộc  phải được rửa tội trước. Do đó, không bao giờ linh muc nào được trao Mình Thánh Chúa hay giải tội  cho trẻ em hay người lớn  nào chưa được rửa tội. 

Trong trường hợp nguy tử, nếu bệnh nhân muốn nhập Đạo Công Giáo để  lãnh nhận ơn cứu độ của Chúa Kitô, thì phải  dạy  những điều cần yếu về giáo lý trước khi  rửa tội cho người ấy  và  không cần bắt họ xưng tội vì phép Rửa cũng tha  mọi tội cá nhân và hậu  quả của Tội nguyên tổ như đã nới ở trên.

Như thế, ai đòi người tân tòng phải xưng tội trước khi rửa tội là không đúng theo giáo lý và  thần học bí tích (sacramental theology).

Có chăng, trong khi dạy giáo lý,  cần  giải thích rõ cho người tân tòng biết là với bí tích Rửa tội thì mọi tội cá nhân người ấy đã phạm cùng với hậu quả của tội nguyên tổ cho đến lúc được rửa tội,  thì  đều được tẩy sạch một lần khỏi mọi vết nhơ của tội. Và chiếc áo hay khăn trắng được trao cho sau khi rửa tội là dấu chỉ sự đổi mới hoàn toàn trong tâm hồn người tân tòng sau khi được tái sinh qua phép  rửa và mặc lấy Chúa Kitô là Ánh Sáng  của cây nến cầm trên tay và khăn trắng hay  áo trắng mặc trên mình.

Đây là những điều cần thiết phải dạy cho người tân tòng biết trước  khi họ được lãnh nhận ba bí tích quan trong là Rửa tội, thêm sức và Thánh Thể trong lễ Vọng Phục Sinh, hay trong dịp riêng nào đó.
 
3- Có lễ nào được dành riêng cho một người xin hay  không?
Thánh lễ Tạ Ơn (Eucharst) là  hành động phụng vụ  quan trọng nhất  diễn lại cách bí tích  trên Bàn thờ ngày nay Bữa ăn sau hết của Chúa Kitô với 12 Tông Đồ và Hy tế  đền tội mà Chúa dâng lên Chúa Cha  trên Thập giá ngày hôm sau   để một lần xin tha mọi tội   cho cả nhân loại đáng bị phạt vì tội lỗi.Chính nhờ  Hy tế đền tội này mà con người có hy vọng được cứu rỗi nhờ công nghiệp cứu chuộc vô gía của Chúa Kitô, Đấng  “đã hiến dâng mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người,” (Mt 20:28)

Vì thế, Thánh lễ Tạ ơn là đỉnh cao và là nguồn mạch  của đời sống Giáo Hội và của mọi Kitô hữu, vì  mỗi khi cử hành Thánh Lễ, Giáo hội lại một lần hiệp thông cùng Chúa Kitô dâng lời ngợi khen, cảm tạ lên Chúa Cha và xin ơn tha tội cho chúng ta ngày nay cùng thể thức mà Hy Tế đền tội xưa Chúa Kitô dâng trên thập giá để xin ơn tha tội cho toàn thể  con người.

Như vậy, mọi Thánh lễ đều là việc ca ngượi và cảm tạ Chúa Cha nhờ Chúa Kitô và trong Chúa Thánh Thần.Trong Thánh lễ có lời cầu xin của Giáo Hội cho Đức Giáo Hoàng, cho Giám mục giáo phận, cho các tín hữu còn sống (Kinh nguyện Tạ Ơn I) hay đã qua đời dù không có ai xin lễ cầu riêng..

Khi có người xin lễ cầu cho một hay nhiều linh hồn đã qua đời thì chủ tế đọc thêm tên thánh của người muốn xin cầu cho, hoặc nhớ  đến ý lễ của người  xin, như xin  ơn bình an, xin có công ăn việc làm,  hay xin khỏi bệnh tật v.v.  Nhưng không có Thánh lễ nào chỉ dành để cầu cho một ý lễ của người xin bao giờ. Vì như đã nói ở trên, dù có ai xin lễ với ý lễ riêng thì vẫn có lời cầu chung cho Đức Thánh Cha, cho giám mục giáo phận, cho  người còn sống  và cho những linh hồn cha mẹ tổ tiên và thân bằng quyến thuộc  đã qua đời.
Chỉ có sự khác bệt là dù cầu cho nhiều người nhưng linh mục chủ tế chỉ được lấy bổng lễ (mas stipend) của một ý lễ thôi. Nếu vì lý do mục vụ mà phải gom nhiều ý lễ trong một thánh lễ,  thì sau đó linh mục phải làm lễ bù cho đủ, nếu muốn hưởng trọn số bổng lễ của người xin. (x giáo luật số 948)

Tóm lại, Thánh lễ là việc thờ phượng, ngượi khen và cảm tạ Thiên Chúa mà Giáo Hội  hiệp  dâng trên bàn thờ  cùng với Chúa Kitô để xin ơn tha thứ cho người còn sống cũng như cho người đã chết trong ơn nghĩa Chúa nhưng còn đang được thanh luyện trong Luyện tội (Purgatory). Thánh lễ   là  bí tích cao trọng nhất  qua đó Chúa Kitô  lại hiện diện cách bí tích qua thừa tác viên con người là linh mục và giám mục  để diễn lại Bữa tiệc ly và Hy tế thập giá của Người để  ban ơn cứu độ cho chúng ta ngày nay cùng thể thức và mục đích  của Hy tế thập giá  trên núi Sọ xưa kia.

Do đó, không có Thánh Lễ nào chỉ dành cầu riêng  cho ai còn sống hay đã ly trần, cho dù người xin lễ có bỏ ra bao nhiêu tiền thì cũng không thể có lễ riêng cho một mình ai được.

Về cẩu hỏi chót liên quan đến việc linh mục có được phép  soạn kinh riêng cho giáo dân đọc hay không, xin trả lời ngay là mọi kinh nguyện kể cả các bài thánh ca của ai soan hay  sáng tác phải được giáo quyền địa phương duyệt xét và quyết định có cho đọc hay không  trước khi phổ biến cho giáo dân đọc chung trong nhà thờ hay ở tư gia. Các bài thánh ca cũng  vậy. Nghĩa là không ai được tự ý soan kinh và soan nhạc cho giáo dân đọc và hát trong nhà thờ  mà không có phép của bản quyền địa phương, tức Tòa Giám mục sở tại.

Đây là kỷ luật bí tích và phụng vụ mà mọi cha sở phải thi hành nghiêm chinh, vì việc thờ phượng phải tuân  theo kỷ luật chung của Giáo Hội, chứ không theo sở thích của cá nhân nào.

Cũng xin nói thêm là linh mục không nên ôm cây đàn  để  hát và kể chuyện tếu trong những dịp tiệc cưới hay gây qũy  từ thiện. Lại càng không nên làm quảng cáo thương mại cho ai như một linh mục kia đã nằm dài trên ghế để quảng cáo cho loại ghế xoa bóp này. Làm như vậy là đã tự đánh mất tư  cách của linh mục, một Đức Kitô thứ hai (Alter christus) trong  sứ vụ (ministry) và trước mắt người đời.

Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn những câu hỏi đặt ra
----------------------------------------------Trả lời:
1- Về câu hỏi thứ nhất, xin được giải thích như sau:
Mọi linh mục giáo phận (diocesan priests)- hay còn gọi là linh mục triều, sau khi được chịu chức, thường được giám mục của mình trao cho một thư bổ nhiệm (letter of appointment) hay còn gọi là “bài sai”trong đó có liệt kê những năng quyền (priestly faculties) được làm như:
- Cử hành Thánh lễ Tạ ơn (Eucharist)
- Cử hành các bí tích rửa tội, thêm sức, hòa giải, sức dầu bệnh nhân và chứng hôn.
- Giảng dạy giáo lý và Tin Mừng. (Gospels)

Như vậy, nếu không có thư bổ nhiệm trên, thì linh mục không thể công khai ( publictly) cử hành các bí tích trên, dù mình có chức linh mục. Lại nữa, khi linh mục đang có năng quyền ở một giáo phận, đến chơi và lưu trú hơn một tuần lễ ở lãnh thổ thuộc giáo phận khác, thì cũng buộc phải xin năng quyền của Bản quyền địa phương, nếu muốn thi hành sứ vụ linh mục như làm lễ cho bổn đạo, giải tội, xức dầu v.v. Nghĩa là không phải cứ là linh mục thì đi đâu cũng đương nhiên được thì hành các tác vụ linh mục, dù mình có chức linh mục thực thụ., trừ trường hợp khẩn cấp nguy tử thì linh mục nào cũng được phép giải tội hay xức dầu cho bệnh nhân (x giáo luật 987, triệt 2)

Sunday, April 6, 2014

SỐNG ĐẠO TÌM HIỂU
--------------------------
LUẬT DỰ LỄ NGÀY CHÚA NHẬT VÀ CÁC NGÀY LỄ BUỘC
ĐƯỢC QUY ĐỊNH NHƯ THẾ NÀO?
----------------------------------------
Điều răn thứ nhất trong “Sáu điều răn Hội Thánh” đã quy định: “Xem lễ ngày chúa nhật cùng các ngày lễ buộc”.

1. CÁC NGÀY CHÚA NHẬT VÀ CÁC NGÀY LỄ BUỘC CHÍNH YẾU KHÁC

Bộ giáo luật hiện hành đã ấn định các ngày lễ buộc (dies festus de precepto) như sau (Điều 1246 §1):

- Tất cả các ngày Chúa nhật là ngày cử hành Mầu nhiệm Vượt Qua theo truyền thống Tông đồ, ngày đó phải được giữ như là ngày lễ buộc chính yếu trong Giáo Hội toàn cầu.1
- Bốn lễ kính mầu nhiệm của Đức Kitô: lễ Sinh Nhật Đức Giêsu Kitô, lễ Hiển Linh, lễ Thăng Thiên, lễ Mình và Máu Rất Thánh Đức Kitô;
- Ba lễ kính Đức Maria: lễ Thánh Maria Mẹ Thiên Chúa, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm và lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời;
- Ba lễ dành cho các Thánh: lễ Thánh Giuse, lễ hai Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô, lễ Các Thánh.

Tuy nhiên, Hội Đồng Giám Mục có thể xin Tông Toà huỷ bỏ hoặc chuyển một số lễ buộc sang ngày Chúa Nhật (điều 1246 §2)

Tại Việt Nam, các Đức Giám Mục, theo Điều 2 và 1246 §, duy trì các đặc ân vẫn có đối với các lễ buộc, nghĩa là:

- Tại Giáo tỉnh Hà Nội, ngoài các ngày Chúa Nhật, chỉ buộc giữ “Tứ Quý”, tức là 4 ngày lễ trọng: lễ Giáng Sinh, lễ Chúa Thăng Thiên, lễ Đức Mẹ Lên Trời và lễ các Thánh Nam Nữ.
- Tại các Giáo tỉnh Huế và Giáo tỉnh Thành Phố Hồ Chí Minh, ngoài các ngày Chúa nhật, chỉ buộc giữ lễ Chúa Giáng Sinh.2
Ngoài ra, Giáo luật còn cho phép các Giám Mục giáo phận cũng có thể ấn định các ngày lễ buộc cho giáo phận hay một vài nơi trong giáo phận, nhưng chỉ từng lần mà thôi (Điều 1244 §2)

Saturday, April 5, 2014

Con cái ước muốn điều gì nơi cha mẹ?

Đề tài Gia trưởng tháng 1/2014: Con cái ước muốn điều gì nơi cha mẹ?
Kính thưa quý vị gia trưởng,
Chủ đề Mục vụ giáo phận Xuân Lộc năm nay, là gia đình Sống và Loan báo tin mừng với 4 trụ chính:

-  Gia đình là cộng đoàn cầu nguyện.
-  Gia đình là cộng đoàn yêu thương
-  Gia đình là cộng đoàn phục vụ sự sống.
-  Gia đình là cộng đoàn tham gia vào sứ vụ Phúc âm hóa.

Trước khi khi bước vào những chủ đề chính của giáo phận, chúng tôi mời gọi quý vị Phụ huynh dừng lại một chút để lắng nghe những ước muốn của con cái ước muốn chúng ta điều gì. Đây mới chỉ là ý kiến của con cái dựa trên khía cạnh của nhân bản mà thôi, chứ chưa đề cập tới đời sống tâm linh...

Sau đây, dựa trên các tài liệu đã tham khảo về cuộc khảo sát tiến hành ở 100.000 đứa trẻ, chúng tôi xin giới thiệu với quý vị gia trưởng 10 câu trả lời rất đáng cho các bậc sinh thành suy nghĩ trong năm sống chủ đề này.

Friday, April 4, 2014

Bài học từ các phụ nữ vô danh

Có vài phụ nữ vô danh trong Phúc Âm, và vài phụ nữ xuất hiện vài lần như Ma-ri-a (Mẹ của Chúa Giê-su), Ê-li-da-bét (chị họ của Đức Ma-ri-a, mẹ của Thánh Gio-an Tẩy Giả), Mác-ta (bạn của Chúa Giêsu), Ma-ri-a (em gái của cô Mác-ta, có thể hoặc không thể là Ma-ri-a Ma-đa-lê-na, cũng được nhắc tới vài lần).

Wednesday, April 2, 2014

GIÁO LÝ CÔNG GIÁO

Hôn nhân khác tôn giáo

Nếu anh em nào có vợ ngoại mà người đó thuận ở với mình, thì chớ rẫy vợ. Và người vợ nào có chồng ngoại mà người đó thuận ở với mình, thì đừng bỏ chồng.
Vì chồng ngoại được thánh hóa nhờ vợ, và vợ ngoại được thánh hóa nhờ người chồng có đạo
(1 Cr 7, 12-14).
Thế giới ngày nay được đánh dấu bằng những mối giao lưu nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, nhất là trong lãnh vực truyền thông đại chúng. Con số những cuộc hôn nhân giữa những người khác đạo càng ngày càng gia tăng. Đây là một trong những ưu tư đặc biệt của Hội Thánh Công giáo đối với đời sống hôn nhân và gia đình của con cái mình, vì những cuộc hôn nhân này thường gặp nhiều khó khăn do những khác biệt về niềm tin.

Sunday, March 30, 2014

Những thắc mắc và đáp án về Nước Trời

Phàm điều gì hoặc cái gì được biết rõ thì người ta mới mơ ước, khao khát. Thế nhưng không ai biết gì về Nước Trời, vậy mà ai cũng mơ ước cháy lòng. Lạ thật!

Chỉ có ba môn đệ được “nếm thử” hạnh phúc Nước Trời khi Chúa Giêsu cho họ thấy Ngài biến hình, rồi đàm đạo với ông Mô-sê và ông Ê-li-a (Mt 17: 1-8; Mc 9:2-8; Lc 9:28-36), và một vài vị thánh cũng được thị kiến về Thiên Đàng. Còn chúng ta hoàn toàn mù tịt.

Kinh thánh giúp chúng ta nhận biết Nước Trời.

Trên Nước Trời, chúng ta có kết hôn?
Chúa Giêsu nói: “Trong ngày sống lại, người ta chẳng lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời” (Mt 22:30). Mối liên kết hôn nhân là “hình bóng” của Chúa Giêsu và Giáo hội lữ hành. Trên trời không còn hôn nhân như phàm nhân nữa.

Trên Nước Trời, chúng ta có thân xác?
Thánh Phaolô nói: “Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giê-su Ki-tô từ trời đến cứu chúng ta. Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3:20-21).

Trên Nước Trời, có âm nhạc?
Có loại âm nhạc khác, không giống như nhạc thế gian. Kinh thánh có những chỗ nói tới âm nhạc. Khi Chúa Giêsu giáng sinh, các thiên thần đồng ca: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (Lc 2:14). Sách Khải Huyền cũng cho biết rằng người ta đồng ca “Bài Ca Mới” (x. Kh 5:9-13).

Thursday, March 27, 2014

GIỜ KINH TỐI trong GIA ĐÌNH (III)


Chúng ta đã tìm hiểu về những khuyết điểm của giờ kinh tối trong gia đình. Và từ những khuyết điểm ấy chúng ta phải canh tân, phải đổi mới như thế nào?



VỀ HÌNH THỨC
Trước hết chương trình phải sinh động và đầy đủ những điểm chính yếu như: cầu nguyện chung bằng kinh đọc, cầu nguyện riêng bằng những lời tự phát. Nghe và suy niệm lời Chúa, để rồi áp dụng trong đời sống cụ thể hằng ngày. Lần hạt mân côi.

Tiếp đến, thời gian phải thuận tiện để mọi người có thể tham dự đầy đủ, đừng quá sớm vì nhiều người còn vắng mặt và cũng đừng quá muộm để tránh tình trạng uể oải buồn ngủ. Đồng thời, đừng quá lâu, đừng quá kéo dài vì không thích hợp với tâm lý tuổi trẻ.

Thời gian thuận tiện nhất, đó là vào khoảng từ tám đến chín giờ tối. Và kéo từ mười lăm đến hai mươi phút là cùng. Kế đó, người lớn có thể đọc thêm, một cách riêng tư, bao lâu tùy ý.

Sau cùng là địa điểm. Nên tổ chức đọc kinh tối trước bàn thờ trong gia đình cho thật ấm cúng.

Tới đây chúng ta hãy thử nhìn lại chiếc bàn thờ trong gia đình, xem nó như thế nào?

GIỜ KINH TỐI trong GIA ĐÌNH (II)

VÀO ĐỀ
Lần trước, chúng ta đã nói tới bầu khí đạo đức trong gia đình và những ưu điểm của giờ kinh tối nơi người tín hữu Việt Nam. Lần này, chúng ta sẽ nói đến những khuyết điểm. Thế nhưng, trước khi đề cập tới những khuyết điểm, tôi xin kể lại một câu chuyện để vào đề.

Có một ông bố vợ, trong ngày cưới đã gặp chàng rể, trao cho anh ta một phong thư và nói: Đây là tiền hồi môn của con gái tôi.

Chàng rể về nhà, hớn hở mở phong thư, thế nhưng trong đó chỉ có một tờ giấy ghi những hàng chữ như sau:

- Chịu khó làm việc trị giá 100.000 đồng
- Sạch sẽ và làm bếp giỏi trị giá 100.000 đồng
- Không ăn quà vặt và không chạy theo thời trang trị giá 100.000 đồng.
- Tế nhị, dịu hiền và không bép xép chuyện của người khác trị giá 100.000 đồng.
- Đạo đức và sốt sắng trị giá 500.000 đồng.
- Cùng với số tiền mặt 100.000 đồng
- Tổng cộng hết thảy là một triệu đồng.

Ông bố vợ đã có một cái nhìn sâu sắc và đánh giá đúng mức khi cho rằng: tinh thần đạo đức là điều quan trọng trong công việc xây dựng hạnh phúc gia đình.

GIỜ KINH TỐI trong GIA ĐÌNH (I)


BẦU KHÍ ĐẠO ĐỨC
Tôi xin bắt đầu bằng một mẩu chuyện như sau. Có một anh chàng đến hỏi ý kiến cha sở về người yêu của mình. Cha sở bảo anh ta kê khai lý lịch:
- Cô ấy là người như thế nào?
Anh ta thưa lại:
- Nàng là con một ông trùm trong giáo xứ.

Cha sở lấy miếng giấy ghi một con số không vào đó.

Anh ta nói tiếp:
- Nàng ăn nói rất là có duyên cứ ngọt như mía lùi.
Lại một con số không trên mảnh giấy trắng. Anh ta vẫn không thất vọng và nói:
- Nàng đẹp ghê lắm… đẹp quỉ khóc thần sầu luôn.

Lại một con số không trên mảnh giấy trắng. Anh vẫn không thất vọng và nói:
- Nàng làm món nhậu thì thật tuyện vời, khỏi chê …

Lại một con số không nữa trên mảnh giấy trắng. Anh ta vội vã nói tiếp:
- Nàng hát rất hay, hình như có một dạo ở trong ca đoàn xứ.

Lại một con số không nữa trên mảnh giấy trắng. Anh ta suy nghĩ một lúc rôi ngâp ngừng thưa:
-Nàng đi buôn hết sẩy, chuyến nào trót lọt chuyến ấy.

Lại một con số không trên mảnh giấy trắng. Yêu lặng một lúc chàng khẽ nói:
- Suýt nữa thì con quên, nàng còn là một người đạo đức.

Cha sở bèn ghi thêm con số một vào trước những con số không và nói:
- Hãy cưới cô ấy mau lên, vì với tinh thần đạo đức, cô ấy sẽ là một tấm vé số độc đắc đấy.
--------------------------------------
Cha sở đã có một cái nhìn sâu sắc và đánh giá đúng mức khi cho rằng tinh thần đạo đức nơi mỗi cá nhân là một điều kiện quan trọng trong việc xây dựng hạnh phúc gia đình.

Wednesday, March 12, 2014

ĐỨC THÁNH GIUSE LÌA TRẦN

Đoạn văn sau đây trích nguyên văn lời Đức Mẹ mạc khải cho Thánh Nữ Agreda trong “Thần Đô Huyền Nhiệm”. Sách đã nhiều lần được Tòa Thánh công nhận. (Trích từ trang 108-113).

 Cuộc đời Mẹ cũng gương mẫu cho cuộc đời chúng con, cũng vương vấn buồn sầu. Thánh Cả Giuse tuổi chưa cao, nhưng đời vất vả. Khó nhọc đã làm Người suy kiệt sớm. Mẹ xin Thánh Cả nghỉ, hưu dưỡng để Mẹ làm việc thay mà nuôi Gia Đình. Thánh Giuse phải hàng phục lời xin và đem đồ nghề tặng cho các bạn thợ nghèo.

Trong suốt 8 năm đằng đẵng, Thánh Cả bị đóng đanh vì nhiều bịnh tật hành hạ, nào là nóng lạnh cao độ, nhức đầu như búa giáng, phong thấp cấp tính, đau buốt khắp thân mình. . .một đau khổ ngọt ngào nhưng kịch liệt là lòng Kính Mến Chúa thiêu đốt tâm hồn Người.

Mẹ bắt đầu làm việc nhiều hơn trước, đôi khi thức trắng đêm. (Suốt đời Mẹ vẫn thức từ 0 giờ đến nửa đêm cầu nguyện đến sáng). Mẹ chuyên về kéo sợi và len. Mẹ thích sống âm thầm nên nhờ người láng giềng đạo đức đem sợi đi bán và mua những thứ cần thiết về giúp Mẹ. Thiên Chúa muốn treo gương cần lao của Thánh Gia và cũng không muốn Mẹ mất công phúc giữa đời sống vật chất.

Thánh Giuse,
Vị thánh khiêm nhường và bác ái



 Thánh Frances de Sales viết rằng: “Thật không cần thiết để luôn luôn lúc nào cũng chăm chú đến tất cả mọi nhân đức để diễn tập; có thể làm gãy gập và lúng túng ý tưởng và cảm giác của bạn rất nhiều. Khiêm tốn và bác ái là những sợi dây chủ chốt; tất cả các nhân đức khác đều gắn liền vào. Chúng ta chỉ cần nắm giữ hai sợi dây này: một ở dưới đáy và một ở trên đỉnh. Sự đứng vững của tòa nhà tùy thuộc vào móng và mái của nó. Chỉ cần tập trung tâm hồn để diễn tập hai nhân đức này chúng ta sẽ không bị khó khăn đối với các nhân đức khác. Đây là những nhân đức mẹ và những nhân đức khác theo sau giống như gà con theo gà mẹ”. Dường như hầu hết các thánh của Giáo hội đều chuyển tải hai nhân đức chủ chốt này, nhưng vượt trội hơn cả phải nói đến vị đại thánh đáng kính và đáng yêu của chúng ta là thánh cả Giuse.

ÔNG THÁNH DISMAS, 

người TRỘM LÀNH

Có lẽ ít người biết ngày 25-3 là lễ Thánh Dismas (cũng viết là Dimas), trùng với lễ Truyền Tin. Thánh Dismas là ai? Đó là tướng cướp cùng bị đóng đinh với Chúa Giêsu trên Đồi Sọ, người được nhắc tới trong Phúc Âm theo Thánh Luca, và là người đã xin Chúa Giêsu nhớ đến mình khi Ngài về Nước của Ngài (Thiên đàng), trái ngược với tên trộm cùng bị đóng đinh nhưng không ăn năn sám hối, tên này lại còn cả gan thách thức Chúa Giêsu nữa. Gọi là tên trộm cho “dễ nghe” thôi, thật ra phải nói là tên cướp mới đúng.

Có hai người cùng bị đóng đinh với Chúa Giêsu, một bên phải và một bên trái (Mt 27:38, Mc 15:27-28, 32, Lc 23:33, Ga 19:18), điều mà Thánh sử Mác-cô nói là ứng nghiệm lời của ngôn sứ Isaia (Is 53:12). Theo Thánh sử Mát-thêu và Mác-cô, cả hai tên trộm đều mỉa mai Chúa Giêsu (Mt 27:44, Mc 15:32).


.

Noi gương Thánh Giuse

SỐNG NĂM NHÂN ĐỨC

Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín
Chúng ta đang ở trong tháng Thánh Giuse. Thánh Giuse là quan thày của Giáo Hội Hoàn Vũ, của Giáo Hội Việt Nam và của Giáo Xứ chúng ta. Tôi muốn cùng quý độc giả tìm học những nhân đức sống đạo trong gia đình của Ngài. Mà vì, chúng ta thuộc gia đình Việt Nam, sống đạo lý tam cương ngũ thường, nên tôi ước mong chúng ta nhìn ngắm Thánh Giuse qua các nhân đức Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, tức là những nhân đức thuộc Ngũ Thường trong nền đạo lý và luân lý cổ truyền của Việt Nam. Chúng ta lần lượt trình bày vắn gọn về mỗi nhân đức

THƯ GỞI THÁNH GIUSE

Cha Thánh Giuse kính mến,

Con mới đọc được câu chuyện này trên mạng, thấy hay hay, con kể lại cho cha nghe nhé.
Cha Gioan Tauler, là một linh mục đạo đức luôn cầu xin để gặp được người chỉ cho biết thiên đàng ở đâu. Một ngày kia, có tiếng lương tâm giục ngài ra trước cửa nhà thờ để gặp vị quân sư đó. Nhìn trước nhìn sau, cha chẳng thấy ai, ngoại trừ một người ăn mày, quần áo rách rưới, mặt mũi bẩn thỉu, hôi thối.

Cha đến gần chào người hành khất:”Chào ông, chúc ông may mắn.”

Người ăn mày thản nhiên trả lời:”Chào cha, tôi có bị rủi ro bao giờ đâu!”
- Vậy thì xin Thiên Chúa ban cho ông mọi điều sung sướng.
- Ồ, thưa cha, đời tôi chưa bao giờ thấy khổ cả!

Rất ngạc nhiên về cách nói năng của người này, cha Tauler hỏi tiếp:”Nếu Chúa bắt ông xuống hỏa ngục, ông có buồn khổ không?”

Người hành khất trả lời không cần suy nghĩ:”Nếu Chúa làm như vậy thì tôi sẽ ôm ghì lấy Chúa và đưa Chúa xuống hỏa ngục luôn. Tôi thà ở hỏa ngục với Chúa còn hơn ở Thiên Đàng mà không có Ngài”.

Monday, March 10, 2014

Phép lạ Thánh Thể Lanciano



Thánh Tích Phép Lạ Thánh Thể tại Lanciano

XEM YOUTUBE
https://www.youtube.com/watch?v=6PJ8BORx1p8

Saturday, March 8, 2014

Mùa Chay - Tuần Thánh - Những tập tục và truyền thống

Mùa Chay là mùa “nhập hạ”, mùa tịnh tâm của Giáo Hội. Mùa Chay bắt đầu khoảng một tháng rưỡi sau Mùa Giáng Sinh. Đây là một cuộc tĩnh tâm thường niên, cuộc canh tân tinh thần để đón mừng mầu nhiệm nền tảng nhất của Kitô giáo: Chúa Giêsu được Phục Sinh từ cõi chết và hôm nay Ngài đang là Đấng Kitô, Chúa chúng ta. Vì thế, nếu không hướng tới Lễ Phục Sinh, tới cuộc sống mới, Mùa Chay sẽ mất ý nghĩa. Từ những thế kỷ đầu, Kitô giáo đã hình thành nhiều tập tục, truyền thống sống động về Mùa Chay để thể hiện những ý nghĩa chính yếu này:
1. Mầu nhiệm Khổ Nạn của Chúa Giêsu.
2. Mầu nhiệm Khổ Nạn và Phục Sinh đối với người sửa soạn lãnh Phép Rửa.
3. Cuộc hoán cải trong đức tin.

Tuesday, March 4, 2014

Xé tâm hồn

(Thứ Tư Lễ Tro)
 
Lời Chúa hôm nay dùng cho cả chu kỳ phụng vụ: năm A, năm B và năm C, nghĩa là chúng ta đã từng nghe nhiều lần, ít nhất mỗi năm một lần, tức là gần bằng tuổi đời mỗi người. Ví dụ: Nếu bạn 40 tuổi thì bạn đã nghe khoảng 35 lần, trừ 5 năm còn nhỏ. Quả thật, tỷ lệ số lần được nhắc nhở “hãy xé lòng” và “đừng giả hình” không hề nhỏ so với số tuổi – dù ở bất kỳ độ tuổi nào.

Đó là hai dạng mệnh lệnh cách. Một là mệnh-lệnh-cách-xác-định và một là mệnh-lệnh-cách-phủ-định.

Sunday, March 2, 2014


LỊCH SỬ TÔN KÍNH THÁNH GIUSE

1. Thời kỳ phôi thai
Sự tôn kính Thánh Giuse có căn bản trong Phúc Âm, nhưng đã phát triển từ từ, khác nào hạt giống lâu năm mới thành cây cao bóng cả, che rợp cảnh vườn Giáo Hội.

Giêsu-Maria-Giuse, ba Ðấng liên kết chặt chẽ với nhau theo mối quan hệ gia đình hết sức tự nhiên. Không thể nghĩ tới Con, tới Mẹ mà lại không nghĩ tới Cha được.

Ngay từ những thế kỷ đầu, Giáo Hội đã công khai thờ kính Chúa Giêsu, Ðức Mẹ và các Thánh Tử Ðạo, còn Thánh Giuse, cứ theo các di tích sử, thì xem ra ít được chú trọng. Là vì ban sơ, Giáo Hội đang cần củng cố Thiên tính của Chúa Giêsu và sự đồng trinh của Mẹ Ngài. Lại cũng cần khuyến khích đức tin giáo hữu trong cơn bắt bớ bằng việc tôn kính các anh hùng tử đạo.

Bởi thế, về địa vị Thánh Giuse, Chúa Quan Phòng còn muốn để lu mờ, cho các tín điều kia được nổi bật và in sâu trước đã. Tuy nhiên, có nhiều Giáo phụ thời đó như Gioan Kim Khẩu, Giêrônimô, Augustinô đã nhiệt liệt ca ngợi quyền cao chức trọng của Thánh Giuse trong bài giảng và văn phẩm của các ngài.

Friday, February 28, 2014

Giải đáp phụng vụ:

Tại sao thắp bảy ngọn nến trong lễ đại triều Giám mục?

Hỏi: Thưa cha, liệu có mối liên hệ nào giữa bảy ngọn nến được sử dụng trong thánh lễ đại triều Giám mục và chân đèn bảy ngọn (menorah) của Đền Thờ Giêrusalem không? - C. S., Roma, Ý.
--------------------------------
Đáp: Bạn ạ, không có mối liên hệ trực tiếp nào và có lẽ cũng không có mối liên hệ gián tiếp nào.

Một số tập tục của người Do Thái đã trực tiếp đi vào phụng vụ Công Giáo ngay từ đầu - ví dụ, các chữ Amen, Alleluia và các cấu trúc cơ bản của một số lời nguyện chúc lành và của các Kinh nguyện Thánh Thể.

Nhiều tập tục khác đã gián tiếp đi vào sau đó, lấy cảm hứng từ Kinh Thánh mà chúng ta có chung với Do Thái giáo. Ví dụ, trong thời Trung cổ, các lời cầu nguyện được sáng tác cho nghi thức truyền chức đã nhắc tới chiếc áo thánh thiêng của A-ha-ron (Aaron) và các thầy cả thượng phẩm khác. Sau một vài thế hệ, các lời cầu nguyện này tạo cảm hứng cho việc ra đời của một số nghi lễ, mà trong đó tân chức được mặc áo lễ theo nghi thức trong lễ truyền chức. Có nhiều ví dụ tương tự của các ảnh hưởng gián tiếp ấy.

Về vấn đề chúng ta đang nói, các chứng từ sớm nhất của việc bảy ngưởi giúp lễ cầm nến sáng đã có trong phụng vụ Tòa thánh thế kỷ thứ VII. Các ngọn nến này sau đó được đặt trên mặt đất ở phía trước bàn thờ, chứ không đặt trên bàn thờ.

Việc các người giúp lễ cầm đuốc sáng có lẽ bắt nguồn từ phong tục của người Rôma khi đi hộ tống một số quan chức cao cấp của triều đình với đuốc sáng, trong khi một người khác cùng đi với quan này và mang theo một bản sao trang trí thật đẹp của bộ luật.

Tuy nhiên, số lượng người cầm đuốc là không xác định. Vì vậy, ngay cả khi tập tục phái sinh từ tục lệ của người Rôma, sự lựa chọn bảy người cầm đuốc là dường như không bình thường. Một số tác giả nói rằng con số này có thể được lấy cảm hứng từ bảy ngọn đèn trong Sách Khải Huyền, chương 1. Tuy nhiên sự gán ghép này chỉ là một giả thuyết, với ít bằng chứng ủng hộ nó.

Bảy ngọn đèn khải huyền có thể một cách nào đó là liên quan đến chân đèn bảy ngọn, nhưng điều này không có ảnh hưởng đến việc đưa ý này vào phụng vụ.

Tập tục được mô tả trong tài liệu của thế kỷ thứ VII đã không được sử dụng đều đặn ở Rôma, mặc dù nó được duy trì trong một số tu viện. Vào khoảng nửa đầu của thế kỷ XI, các ngọn nến xuất hiện trên bàn thờ. Tuy nhiên, tập tục và số lượng ngọn nến là không phổ quát.

Mãi cho đến cuối thế kỷ XIII, tập tục sử dụng bảy ngọn nến trên bàn thờ trong thánh lễ đại triều Giám mục được phục hồi cho phụng vụ Rôma. Nó đã được thiết định vững chắc trong một sách Nghi lễ, được viết bởi Đức Hồng Y Giacomo Stefaneschi (1270-1343), khi ngài viết: "Khi Đức Giáo Hoàng cử hành lễ đại triều, bảy ngọn nến phải được đặt trên bàn thờ".

Tập tục này vẫn tiếp tục ngày nay. Đối với hình thức ngoại thường, các chỉ dẫn của sách Nghi Thức Giám Mục về thánh lễ đại triều Giám mục nói là đặt bảy đèn trụ (candelabras) trên bàn thờ. Thánh giá được đặt phía trước của cây nến cao nằm ở trung tâm.

Tập tục cho hình thức thông thường là ít chính xác hơn. Điều này là bởi vì người ta được phép đặt nến gần bàn thờ, chứ không chỉ trên bàn thờ. Các số 125 và 128 của Nghi Thức Giám Mục tiên liệu khả năng có từ hai đến bảy người giúp lễ cầm ngọn nến sáng tham gia đoàn rước vào thánh lễ. Các ngọn nến sau đó có thể được đặt gần hoặc trên bàn thờ .

Mặc dù sách phụng vụ không quy định rõ ràng, và phù hợp với tập tục thánh lễ Giáo hoàng, người ta có thể đặt bảy ngọn nến trên hoặc gần bàn thờ, trước khi Thánh Lễ bắt đầu. Vể việc rước trước thánh lễ, hai người cầm nến sáng đi hai bên người cầm thánh giá, và đi sau đó có thể là sáu người cầm đuốc sáng. Trong trường hợp này, các ngọn nến được sử dụng trong đám rước được đặt kín đáo sang một bên, khi cuộc rước kết thúc. Hai ngọn nến được sử dụng trong lúc công bố Tin Mừng và vào cuối Thánh Lễ. Sáu người cầm sáu ngọn đuốc đi theo người cầm bình hương ra trước bàn thờ trong phần Kinh Nguyện Thánh Thể.
------------------------
Nguyễn Trọng Đa

Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma. 

(Zenit.org 25-2-2014)