Wednesday, April 1, 2015

Lên đồi với Chúa 6: 

VIÊN ĐẠI ĐỘI TRƯỞNG

DDT“Viên đại đội trưởng đứng đối diện với Đức Giê-su, thấy Người tắt thở như vậy liền nói: ‘Quả thật, người này là Con Thiên Chúa.’” (Mc 15, 39)
Những ngày đó, tình hình dân Do-thái trở nên phức tạp. Người ta kháo nhau đủ điều về một ông tên Giê-su là người của Thiên Chúa; giới giáo quyền trong dân thì luôn buộc tội ông này phá luật đền thờ. Những ngày đó, chúng tôi được lệnh phải sẵn sàng trước một cuộc bạo động. Theo những gì thu nhận được cho tới giờ, ông Giê-su không phải là một người của phường Quá khích, ông giảng dạy công khai và được dân chúng mến mộ, nhóm của ông độc lập với những thành phần khác trong dân.

Lên Đồi Với Chúa 5: 

HỒI KÝ của SIMON KYRÊNÊ

Có lẽ chẳng5_simonkyrene bao giờ tôi có thể tin rằng, chỉ một buổi chiều thôi mà cuộc đời của tôi đã chuyển sang một trang mới. Chẳng bao giờ tôi có thể tưởng tượng rằng, người làm biến đổi đời mình lại là một phạm nhân sắp phải chịu chết. Ấy vậy mà sự việc dường như không tưởng ấy lại xảy ra cho tôi vào một buổi chiều lễ Vượt qua, với một người tử tù mang tên Giêsu.
Khoảnh khắc ấy đến thật bất ngờ. Không bất ngờ sao được khi một kẻ vốn thờ ơ với tôn giáo như tôi lại bỏ đồng về nhà sớm để chuẩn bị cho lễ Vượt qua. Không bất ngờ sao được khi một người vốn dửng dưng với thế sự, hững hờ với phận người như tôi lại cố chen chân để xem cho biết những kẻ tử tội chiều nay là ai. Nói chung cũng chẳng phải tôi sốt sắng đạo đức hoặc xót thương người đau khổ cho bằng, thấy các nhà nông khác về sớm dọn lễ thì mình cũng phải về, thấy bà con ùa nhau chen chúc thì mình cũng xin một chút bon chen xem sao. Nhưng oái oan thay, vừa chen được vào thì người tử tù Giêsu lại gục ngã ngay trước mặt tôi, thân bị đòn roi tả tơi chẳng còn vác nổi cây thập giá nữa. Thế là tránh vỏ dưa lại gặp ngay vỏ dừa, đã cố né rắc rối thì lại bị rắc rối bám chặc vào người. Mặc cho tôi có viện mọi lý do để từ chối, thì những tên lính Rôma hung tợn vẫn cứ ép buộc tôi phải vác đỡ thập giá cho người tử tù này. Dẫu cho tôi có than van cầu xin đủ điều, thì chúng vẫn cứ đặt thập giá lên vai tôi. Thôi thì để tránh phiền phức, cực chẳng đã tôi mới phải ghé vai vác lấy cái thứ vừa ô nhục vừa chết chóc này.

Lên Đồi Với Chúa 4: 

THƯ PHILATÔ GỬI GIÊSU


Gửi Ông Giêsu,philato
Lịch sử vẫn thường cho rằng Philatô tôi đây là một kẻ tham lam và tàn bạo, thích đàn áp và bóc lột. Tôi biết có nhiều người Do Thái thời đó ghét tôi lắm, thậm chí phẫn nộ, vì tôi khinh bỉ những tập tục của họ. Rồi khối người ngày nay vẫn cho tôi là kẻ trốn trách trách nhiệm khiến Ông – Chúa của họ – phải chết. Họ không chịu hiểu cho tôi: sở dĩ tôi rửa tay là vì không muốn liên can đến những vấn đề mà tôi cho là chuyện nội bộ Do Thái giáo. Dẫu sao, tôi biết Ông là người hiểu rõ tôi nhất, vì chúng ta đã gặp gỡ nhau mặt đối mặt, và vì bây giờ Ông đã về Vương Quốc của Ông.

Lên Đồi Với Chúa 3: 

GỬI CHO NGƯỜI CHỐI CHÚA

Bác Phêrô kính mến,3_phero
Cháu là người luôn ngưỡng mộ và quý mến bác. Ngưỡng mộ vì lòng nhiệt thành đi theo Thầy Giêsu nơi bác; và quý mến vì tinh thần hối lỗi chân thành của bác. Bác đúng là mẫu người lý tưởng để có thể bước theo Giêsu đến hết cuộc đời. Con đường thập giá luôn đòi người theo lòng nhiệt thành để quyết tâm vượt khổ và sự khiêm tốn để hoán cải không ngừng trước sự công phá của Satan. Còn nhớ trong sân của vị thượng tế đêm đó, nếu không hối hận sau ba lần chối Thầy thì cuộc đời của bác chắc không khác gì kẻ bán Chúa. Trước cuộc khổ nạn của Đức Giêsu, cháu muốn gửi đến bác đôi dòng tâm sự. Ước mong với tấm gương của bác, cháu quyết tâm làm chứng cho Chúa trong cuộc sống hằng ngày.

Lên Đồi Với Chúa 2: 

NGƯỜI ĐẦY TỚ CỦA VỊ THƯỢNG TẾ

(Lc 22,50-51)[1]2_nguoidayto
Tôi làm việc cho một vị thượng tế trong đền thờ của dân Do-thái: đầy tớ. Phục dịch ông chủ đã khá lâu, tôi được liệt vào danh sách những đầy tớ trung thành, hiểu ông và làm ông hài lòng.
Dạo nọ, gần đến ngày lễ Bánh Không Men, cũng gọi là lễ Vượt Qua, ông chủ tôi trở nên bận bịu hơn. Ông dễ bực bội, gương mặt ông căng thẳng hơn ngày thường rất nhiều, nhất là khi có ai đó nhắc đến cái tên ‘Giêsu’ đang “nổi đình nổi đám” trước mặt dân chúng. “Tay đó” là kẻ chuyên phá luật vì ỷ lại vào chút tài lẻ trong việc ăn nói và chữa bệnh cho người khác, ông chủ tôi nói vậy. Mà quả thực, theo tôi thấy, ông Giêsu kia cũng “không phải dạng vừa đâu”, tuy chỉ là con của một người thợ mộc thôi, nhưng nhiều lần ông ta đã khiến ông chủ tôi phải ngậm miệng không đối đáp lại được lời nào, dù trước đó, ông chủ cùng với mấy ông bạn kinh sư đã trưng Lề Luật ra để “phủ đầu”.

Lên Đồi Với Chúa 1: 

VIẾT CHO KẺ BÁN CHÚA

Anh Giuđa thân mến,1_giuda
Câu tục ngữ “gieo gió thì gặt bão” thường được dùng để nói rằng những ai làm điều ác thì ắt có ngày phải chịu hậu quả ê chề. Tuy không dám xét đoán, nhưng tôi thấy cái chết của anh quả thực rơi vào cơn bão bi thương ấy. Sau khi bán Thầy Giêsu, thay vì hối hận ăn năn, anh đã thả trôi cuộc đời theo cơn giông tố đến chỗ tự vẫn trong vô vọng. Anh chết trong tất tưởi của kẻ mang tiếng là phản Thầy bán Chúa. Tưởng nhớ đến cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, tôi bỗng nhớ đến anh, và thấy sức mạnh kinh hoàng của sự dữ là cái gây cho con người biết bao khổ đau và chết chóc.
Còn nhớ buổi sáng trên bờ hồ năm xưa, anh sung sướng reo mừng khi nghe Giêsu gọi chọn anh vào hàng ngũ các tông đồ. Ai ai cũng chăm chú hướng mắt vào anh với chút ngỡ ngàng: “Tại sao Thầy Giêsu lại chọn anh ta?” Thực ra dân chúng có lý do, vì tiểu sử của anh không mấy thanh sạch, tâm địa của anh còn nhiều hoen ố. Nhưng dù sao Giêsu đã ưu ái gọi chọn anh tham gia vào sứ mạng loan báo Tin Mừng Nước Trời. Anh có một vị trí trong ánh mắt của Giêsu và khi được Giêsu “bảo lãnh”, anh cũng được người đời nhìn với một con mắt khác. Anh biết đấy, Thầy Giêsu không chấp nhất quá khứ của ai, cho dù có xấu xa đến dường nào; Người chỉ nhìn về tương lai với ước mong họ sẽ nên người môn đệ tốt lành thánh đức. Bởi lẽ “không thánh nhân nào không có quá khứ, không tội nhân nào không có tương lai” (Augustinô).
Trong nhóm, anh làm thủ quỹ. Công việc ấy là dịp tốt để anh phục vụ Giêsu và anh em của mình. Nhưng uy lực của đồng tiền đã khiến anh lạc lối. Thay vì để tiền bạc trở nên đầy tớ tốt phục vụ cho sứ mạng, anh lại để nó trở nên ông chủ tồi lèo lái anh vào đường tội lỗi. Một tuần trước Lễ Vượt Qua, chị Maria xức dầu thơm lên chân Thầy Giêsu, anh đã tiếc rẻ và càm ràm trách móc. Anh đề cao vị thế của đồng tiền lên trên tất cả mà quên đi những giá trị cao siêu khác. Hóa ra, đồng tiền có sức quyến rũ mãnh liệt đến nỗi anh bất chấp luân thường đạo lý, mặc kệ tình nghĩa thâm giao.
Thực ra tiền bạc chỉ là biểu hiện bên ngoài để phản ánh thời điểm Satan nhập vào anh. Từ đó, anh tự cô lập mình khỏi nhóm, phất lờ cảnh báo và hướng dẫn của Thầy Giêsu. Anh lén lút gặp các thượng tế để ngả giá bán Thầy. Ba mươi đồng bạc để đổi lấy một mạng người! Từ lúc đó, “Anh cố tìm dịp thuận tiện để nộp Đức Giêsu.” (Mt 26, 14-16). Anh nhớ lại xem, Thầy Giêsu đã nhiều lần nhắc anh hãy tỉnh thức kẻo sa trước cám dỗ. Người dùng tình thương và lòng kiên nhẫn để đợi anh trở về. Tiếc thay lời Giêsu không còn hấp dẫn với anh, bởi lúc nào lòng anh cũng ngập tràn ý đồ nộp Thầy bán Chúa!
Còn nhớ đêm cuối cùng Thầy trò hàn huyên tâm sự. Đích thân Thầy rửa chân cho cả anh nữa. Vậy mà anh lại cấu kết với nhóm Quân Dữ để lên kế hoạch bắt Thầy. Sức mạnh của Ma Quỷ lúc này càng gia tăng gấp bội, vì có anh cộng tác làm nội gián cho nó. Thù trong giặc ngoài đã đưa một Người vô tội đến cái chết đau thương trên thập tự!
Còn nhớ ánh mắt lệ nhòa của Giêsu khi phải thốt lên: “Thầy bảo thật anh em, một người trong anh em sẽ nộp Thầy” (Mt 26, 21). Lúc ấy anh nghĩ gì: sợ hay đau? Chắc là đau lắm khi nghe Thầy nói thêm: “Khốn cho người nào nộp Con Người: thà người đó đừng sinh ra thì hơn!” (Mt 26, 25). Anh đừng tưởng Thầy căm ghét rồi nguyền rủa anh. Thực ra bất kỳ ai chống lại Thiên Chúa đã tự chuộc lấy án phạt khốn cùng rồi. Tuy lòng anh đầy lo lắng và sợ hãi trước lời trách cứ của Thầy, nhưng anh vẫn cho phép sự dữ chiếm hết tâm trí mình.    
Còn nhớ trong vườn Cây Dầu đêm ấy, anh là kẻ chỉ điểm khéo léo và thâm độc. Khéo léo vì anh biết được chỗ của Thầy thường xuyên lui tới; và thâm độc vì anh đã dùng nụ hôn phản bội để nộp Thầy. “Tôi hôn ai thì chính là người đó. Các anh bắt lấy!” (Mt 26, 48). Nụ hôn ấy càng khoét sâu vào nỗi đau của người Thầy vốn hết mực yêu thương anh!
Còn nhớ, lời hối hận thú tội muộn màng khi anh lớn tiếng với các thượng tế và kỳ mục: “Tôi đã phạm tội nộp người vô tội, khiến Người phải chết oan” (Mt 27, 3). Giá như lúc ấy anh trở về với anh em hay hối lỗi van nài xin Chúa thứ tha, cuộc đời anh sẽ khác. Đàng này anh lui ra và đi thắt cổ (Mt 27, 5). Sự Dữ đã hạ bệ được anh!
Hồi tưởng lại hành trình anh đi theo và nộp Thầy bán Chúa như thế, tôi có dịp nhắc nhớ mình phải cẩn trọng nhiều hơn. Cẩn trọng vì không khéo mình cũng nộp Chúa khi bất tín nơi Người, lạnh lùng với tha nhân; cẩn trọng kẻo tội lỗi kéo lê tôi đến chỗ chẳng cần Chúa nữa hay dửng dưng trước lời dạy của Người. Từ đó, tôi biết điểm tựa chắc nhất cho mình là tình yêu và sức mạnh của Thầy Chí Thánh; và quảng đại bước theo con đường Người mời gọi. “Can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian” (Ga17, 33). Có như thế, tôi hy vọng không đi lại vết xe đổ thê lương của anh. Anh biết đấy, gương xấu của anh chẳng ai ưa thích, không ai chấp nhận. Để không là kẻ bán Chúa, ước mong mỗi ngày tôi hiểu Chúa hơn, yêu Chúa hơn và đi theo Người sát hơn.
Chắc là nhiều người cũng muốn viết cho anh những dòng tâm sự, gửi đến anh ý kiến của mình, nhất là trong mùa Chay này, anh nhỉ?
Thân chào anh, kẻ bán Chúa!
Giuse Phạm Đình Ngọc, S.J.
Source: dongten.net
Giải đáp phụng vụ: 

Việc đọc bài Thương Khó có được diễn như kịch không?

Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.

Hỏi: Tại giáo xứ chúng con, có yêu cầu diễn tuồng Thương Khó, nhằm thay thế hoặc như một phần của bài Thương Khó thứ Sáu Tuần Thánh. Linh mục có thể đọc phần của Chúa Giêsu, nhưng mỗi nhân vật khác nhau trong bài Thương Khó sẽ được đại diện và thực sự được diễn bởi một "diễn viên" khác nhau trong bài. Thưa cha, việc này có được phép trong ngày thứ Sáu Tuần Thánh không? Cha xứ chúng con không tìm thấy bất cứ điều gì để hỗ trợ hoặc từ chối việc này, và các chức sắc giáo phận cũng không rõ ràng trong việc cho phép hoặc từ chối cho việc này diễn ra. - J. Z., Columbia, South Carolina, Mỹ.

Wednesday, March 25, 2015

Linh Mục - Người Là Ai?

LTS: Bài viết "Linh mục - người là ai?" xin chỉ giới hạn vào vấn đề bản tính của chức linh mục (hoặc căn cước: identitas), chứ không bàn đến các khía cạnh tu đức, mục vụ.

A. NHẬP ĐỀ
Từ công đồng Vaticano II đến nay, vấn đề “can cước” của linh mục đã được bàn cãi không những trong các tác phẩm thần học, mà còn trở thành mối quan tâm của các nhà lãnh đạo Giáo hội, điển hình là hai phiên họp của Thượng hội đồng Giám mục năm 1971 và 1990, và văn kiện của Bộ Giáo lý đức tin năm 1983. Đó là chưa nói tới vấn đề tryền chức linh mục cho nữ giới.
Trọng tâm của vấn đề có thể tóm lại như sau. Từ công đồng Trentô đến nay, căn cước của linh mục thường được mô tả qua chức vụ tư tế (sacerdos): linh mục thay mặt Đức Kitô để dâng thánh lễ, giải tội và ban bí tích. Vào thời họp công đồng Vaticano II, hình ảnh đó đã bị chỉ trích vì hai lý do. Lý do thứ nhất, bởi vì chức vụ linh mục ra như chỉ giới hạn vào việc phụng tự, với nguy cơ trở thành ông thầy cúng! Linh mục còn có sứ mạng rao giảng lời Chúa, phục vụ cộng đoàn Dân Chúa nữa chứ! Lý do thứ hai là không những các linh mục mà cả các tín hữu cũng được thông dự vào chức tư tế của Đức Kitô nữa. Đó là điều quen được gọi là chức tư tế phổ quát (sacerdotium commune). Làm thế nào giải thích được hai cách thức tham dự vào cùng một chức tư tế của Đức Kitô?

Saturday, March 21, 2015

VỊ TRÍ NHÀ TẠM TRONG THÁNH ĐƯỜNG


Khi bước vào thánh đường, nhiều người có thể thắc mắc: tại sao vị trí nhà tạm ở nhà thờ này lại khác ở nhà thờ kia như thể không có một sự thống nhất nào cả; có nhà thờ đặt nhà tạm ở chính giữa bức tường phía đầu cung thánh; những nhà thờ khác cũng đặt nhà tạm ở bức tường phía đầu cung thánh nhưng lại dịch sang một bên, phía bên kia hoặc không có gì hoặc có một tòa nhỏ tôn vinh Sách Thánh nằm đối xứng với nhà tạm; có nơi nhà tạm được đặt ở xa bức tường phía đầu cung thánh hoặc xa hẳn cung thánh; thậm chí có những nhà thờ, khách lạ chẳng biết nhà tạm ở đâu... Chắc chắn, những ai chịu trách nhiệm xây mới hay sửa chữa nhà thờ, vì bàn thờ và nhà tạm vẫn còn là tiêu điểm kiến trúc của thánh đường, cho nên thường tự hỏi: vị trí của Nhà tạm ở đâu là thích hợp nhất? Để giải đáp những vấn nạn ở trên, bài viết sau đây sẽ giới thiệu đôi nét lịch sử và thần học về nhà tạm, từ đó, cùng với những tài liệu hướng dẫn của Giáo Hội, rút ra những thực hành cần thiết và thích hợp liên quan đến vị trí của nhà tạm.


Sunday, March 15, 2015

Các Giáo Xứ: Lịch Sử Và Thần Học

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.

 -------------------------------------------
Nội Dung
Nhập đề: Từ ngữ
1/ Tiếng Việt: xứ, họ.
2/ Tiếng Latinh: paroecia (Pháp paroisse, Anh parish), gốc bởi paroikia tiếng Hy-lạp.
I. Lịch sử
A. Những thế kỷ đầu tiên: từ ekklesia đến paroikia
B. Thời Trung cổ: sự thành hình các giáo xứ
C. Công đồng Trentô: quy tắc về cha xứ và giáo xứ
D. Công đồng Vaticanô II: giáo xứ với giáo-hội-học.
II. Thần học
A. Khái niệm về giáo xứ trong các văn kiện Tòa Thánh
1/ Những văn kiện công đồng Vaticanô II
2/ Bộ giáo luật 1983 và các văn kiện gần đây
B. Những khuôn mặt thần học của giáo xứ
1/ Nhìn từ khía cạnh cộng đoàn
2/ Nhìn từ các yếu tố cấu thành sứ vụ: martyria, leiturgia, koinonia, diakonia
III. Vài hệ luận: những mô hình giáo xứ
A. Dưới góc độ xã hội học: những cách xếp loại giáo xứ, và những biến chuyển xã hội
B. Dưới góc độ thần học mục vụ: chân dung cha xứ
***
Nhập đề
Để tiếp tục kế hoạch mục vụ của năm 2014 dành cho việc “Phúc âm hoá đời sống gia đình”, Hội đồng giám mục Việt Nam đã chọn cho năm 2015 đề tài “Tân phúc-âm-hóa đời sống các giáo xứ và các cộng đoàn sống đời thánh hiến”. Giáo xứ được giới thiệu như một “gia đình rộng lớn hơn”: “giáo xứ là gia đình của những người con cái Thiên Chúa, trong đó tất cả là anh chị em với nhau. Gia đình giáo xứ cần được Phúc-Âm-hóa, nghĩa là thấm đẫm tinh thần Phúc Âm và làm chiếu tỏa ánh sáng Phúc Âm ra chung quanh, đến với muôn dân”.
Chúng tôimuốn đóng góp vào kế hoạch này qua việc nghiên cứu hai điểm “thời sự” và “thần học” của giáo xứ. Bài này gồm có ba phần. 1/ Trong phần đầu, chúng ta sẽ ôn lại sự tiến triển của giáo xứ trải qua lịch sử, với những vấn đề giáo luật và mục vụ kèm theo. 2/ Trong phần thứ hai, chúng ta sẽ tìm hiểu những quan niệm thần học về giáo xứ dựa theo các văn kiện của Giáo hội. 3/ Từ đó, chúng ta sẽ rút ra vài hệ luận.
Trước khi đi vào vấn đề, chúng tôi muốn đưa ra vài nhận xét về từ ngữ.

Saturday, March 14, 2015

MẪU XÉT MÌNH TRƯỚC KHI XƯNG TỘI

(Dịch theo nguyên bản tiếng Ý do Phòng đặc trách các Buổi cử hành do Đức Thánh Cha chủ sự, ngày 11-03-2015.)



Wednesday, March 4, 2015

CHUẨN BỊ BÀI GIẢNG VÀ GIẢNG TRONG PHỤNG VỤ

THEO TÔNG HUẤN Evangelii gaudium

Quý Cha kính mến,

Năm 2014 vừa qua, linh mục đoàn Cần Thơ đã tìm hiểu và chia sẻ rất sôi động trong các khoá Bồi Dưỡng Tông Huấn đầu tiên của Đức giáo hoàng Phanxicô, Evangelii gaudium (Niềm vui Tin Mừng). Sau một thời gian “nghỉ ngơi”, “tiêu hoá”, và “lắng động”, bài viết này xin tóm lược ba ý chính: (1) đặc tính của bài giảng (homélie), (2) chuẩn bị bài giảng và (3) trong lúc giảng được rút ra trong số 135-159 của Tông Huấn, như “món ăn đặc sản” của Đức Phanxicô gửi tặng Quý Cha, những người rao giảng Tin Mừng.


I. Đặc tính của Bài Giảng (Homélie)

(1) Bài giảng là một chia sẻ kinh nghiệm mãnh liệt và hạnh phúc về Chúa Thánh Thần, về một cuộc gặp gỡ an ủi với Lời Chúa, một nguồn mạch không ngừng đưa đến việc canh tân và tăng trưởng.

(2) Bài giảng có một giá trị đặc biệt vì phát sinh từ trong bối cảnh phụng vụ Thánh Thể, do đó, nó là một cuộc đối thoại tuyệt vời nhất giữa Thiên Chúa và dân Ngài. Lời Chúa trước hết là một hồng ân hơn là một đòi hỏi.

(3) Bài giảng không phải là lúc để suy niệm hay dạy giáo lý. Nó không phải là một bài diễn văn hoặc một bài thuyết trình, nó cũng không là một bài học chú giải về Kinh Thánh, và không chỉ giới hạn vào việc khuyên răn luân lý. Nó càng không phải là một công việc quảng cáo hay một hình thức trình diễn để giải trí.

(4) Bài giảng phải đốt cháy lòng người, phải đem lại sự nhiệt thành và ý nghĩa cho buổi lễ.

(5) Một bài giảng hay phải có một ý tưởng, một tâm tình và một hình ảnh.


II. Chuẩn bị trước khi giảng

(1) Các mục tử nên dành nhiều thì giờ để học hỏi, cầu nguyện, suy niệm và sáng tạo mục vụ. Do đó, cần phải bớt một số công việc, cho dù quan trọng, để chuẩn bị bài giảng.

(2) Không chấp nhận bất cứ lý do nào, kể cả bận quá nhiều công việc, để không dọn bài giảng cho kỹ. Một mục tử mà không dọn bài giảng cho kỹ lưỡng thì không “thuộc linh”, không làm việc dưới sự soi sáng của Chúa Thánh Thần, và “thiếu trách nhiệm đối với những hồng ân mà mình đã nhận được”.

(3) Phương pháp soạn giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô:

+ Trước tiên, Cầu khẩn Chúa Thánh Thần,
+ Tiếp đến, phải tập trung vào bản văn, đặt nó trong mối quan hệ với toàn bộ Thánh Kinh. Phải chắc chắn hiểu đúng ý nghĩa và sứ điệp chính yếu mà tác giả muốn thông truyền. Đây là nguyên tắc quan trọng trong việc giải thích Thánh Kinh.
+ Chú ý đến các từ ngữ được lặp đi lặp lại hoặc nổi bât, nhận ra cấu trúc và sự thống nhất của nó,
+ Xem xét vai trò của các nhân vật...

(4) Người giảng phải tiếp cận Lời Chúa, lắng nghe Lời Chúa với tâm hồn cầu nguyện, ngõ hầu Lời Chúa thấm sâu vào những suy nghĩ và cảm xúc để cho Lời ấy chạm đến cuộc sống, khuyên nhủ và lay chuyển mình. Việc rao giảng sẽ đạt được hiệu quả khi người giàng truyền đạt cho người khác điều mà mình đã chiêm niệm.

(5) Cùng với việc lắng nghe Lời Chúa, người giảng phải lắng nghe giáo dân để biết được họ đang mong được nghe điều gì, để liên kết bản văn Thánh Kinh với cuộc sống họ. Cần phải có một sự nhạy cảm để nhận ra những gì thực sự ảnh hưởng đến đời sống của họ. Đây là cách nối kết sứ điệp của bản văn Thánh Kinh chiếu rọi vào hoàn cảnh sống cụ thể của dân Chúa.


III. Trong khi giảng

(1) Giảng như người mẹ nói chuyện với con mình, như người mẹ chuẩn bị bữa cơm cho gia đình.
(2) Giảng với thái độ gần gũi, giọng nói ấm áp, cách nói dịu dàng, cử chỉ diễn tả niềm vui.
(3) Giảng ngắn gọn.
(4) Trình bày sứ điệp cách đơn giản, theo chủ đề rõ ràng, nối kết các ý tưởng mạch lạc để người nghe có thể tiếp thu. Đơn giản trong cách sử dụng ngôn ngữ, giúp người nghe có thể hiểu dễ dàng. Tránh sử dụng ngôn từ chuyên môn trong nghiên cứu, nhưng sử dụng ngôn ngữ chung của người nghe.
(5) Sau cùng, giảng với cung giọng tích cực hơn là tiêu cực, nghĩa là nhấn mạnh đến những gì nên làm hơn là nói nhiều đến những cấm đoán. Một bài giảng tích cực sẽ khơi lên niềm hy vọng, hướng đến tương lai tốt đẹp.
-----------------------------------
Lm Giuse Lê Ngọc Ngà
http://gpcantho.com/ArticlesDetails.aspx?ArticlesID=7058

MẨU ĐỐI THỌAI với Thánh Giuse 

-------------------------------------
Một tâm hồn có lòng kính mến Thánh Giuse đến trước tượng ngài trong thánh đường và tâm sự với ngài về những thắc mắc tò mò của mình như sau:
1. Con xin chào Thánh cả Giuse. Ông Bà Cha Mẹ con thường nói với con về Thánh cả, nhưng chẳng ai rõ về Thánh cả bao nhiêu, ngoài hình tượng của Thánh cả trong hang đá ngày lễ Chúa Giêsu giáng sinh và tượng trong nhà thờ…Con Thấy người ta làm hình tượng Thánh cả sao có nhiều râu ria và chống gậy già quá vậy?
Thánh Giuse: Phải chính là ta đây. Và đúng như vậy, không có sử sách nào ghi lại cuộc đời của ta cả. Trong phúc âm có ghi lại vài dòng như quê quán nơi sinh ở Bethlehem, nơi Chúa Giêsu Giáng sinh trên cánh đồng; rồi sống lưu lạc với Đức Mẹ Maria và Chúa Giêsu bên Ai-cập sau cùng trở về sinh sống nơi làng quê miền Na-da-rét đất nước Do Thái.
Về nghề nghiệp ta làm nghề thợ mộc đóng bàn ghề, tủ đựng thức ăn chén bát, xây nhà cửa có khi lát gạch cả lối đi ngoài cổng nữa, làm kế sinh sống nuôi gia đình. Và trẻ Giêsu cũng học làm nghề này với ta cả.
Có lẽ vì thế mà xưa nay người ta tạc khắc vẽ hình tượng ta với cái cưa, cái đục, cái búa, cái bay thợ nề. Điều đó không có gì sai cả. Trái lại tốt thôi. Ta vui mùng vì người ta đã biết quý trọng công việc làm ăn tay chân.

Friday, February 27, 2015

ĂN CHAY 

--------------------------------
Có người ăn chay nhưng không hãm mình.
Có người hãm mình nhưng không ăn chay.
Có người vừa ăn chay vừa hãm mình.
Có người không chay cũng chẳng hãm.
---------------------------------------------------- 

Ăn chay và hãm mình thuộc về tâm hồn, nội tâm. Thực tâm đến mức nào chỉ mình mình biết, mình mình hay. Ăn chay hãm mình thật phải là việc làm tự nguyện, thành tâm và làm với lòng mến. Ăn chay thực cần đi đôi với hãm mình. Thiếu hãm mình không thể nào là ăn chay vì bản chất của chay tịnh là tự chế, tự chủ. Tuy nhiên không phải tất cả các tự chế, tự chủ đều là ăn chay. Do vậy người ta có thể hãm mình nhưng không cần ăn chay. Ăn chay thiếu hãm mình là ngoài mặt ăn chay nhưng tâm nghĩ mặn.

Thursday, February 26, 2015

(daminhvn.net) 18/02/2015
Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.
Thỉnh thoảng ở Việt Nam, người ta nghe nói đến Dòng khổ tu, tựa như “Dòng Phước sơn”. Tại sao gọi là Dòng khổ tu? Phải chăng để đối lại với các Dòng “sướng tu”?
Nguyên ý niệm “đi tu” đã gợi lên trong đầu óc một nếp sống khắc khổ rồi. Vì thế nếu có ai mong muốn “tu sướng” thì ắt là sẽ sớm thất vọng. Thú thực rằng tôi không hiểu ai đã đặt ra từ “Dòng khổ tu”, bởi vì tôi không thấy có từ ngữ nào tương đương trong tiếng La-tinh.
Nhưng hiểu thế nào là tu trì khắc khổ? Người ta có cảm tưởng rằng những người đi tu ăn sang mặc đẹp hơn là người ở ngoài đời.
16312938337_e9295f08de_o Tôi không dám phê bình những nhà tu hành ăn sang mặc đẹp. Rất có thể là họ nghĩ rằng còn có những cái khác còn khổ hơn chuyện ăn mặc, chẳng hạn như khổ vì không lập gia đình. Nhưng nếu nhìn lại lịch sử đời tu Kitô giáo, chúng ta thấy rằng nếp sống tu trì rất khắc khổ, theo nghĩa là họ sống rất đạm bạc nếu chưa nói là man rợ. Đừng kể việc họ đã từ bỏ gia đình, tài sản, chấp nhận sống nghèo, họ còn bày ra nhiều cực hình khác để hành hạ thân xác: từ chuyện kiêng khem trong việc ăn uống, đến chuyện đứng phơi mưa phơi nắng giữa trời, bất kể thời tiết ra sao. Dĩ nhiên, đó là vài thái cực được thực hành bên Syria chứ không phải khắp mọi nơi.

Saturday, January 31, 2015

Tại sao phải sạch tội trọng mới được rước Mình Máu Chúa?

 

Hỏi: Xin Cha giải thích thắc mắc sau đây: Xưa Chúa Giêsu thường đến ăn uống với những người tội lỗi như bọn thu thuế. Trong Bữa Tiệc Ly cuối cùng, Chúa đã cho Phêrô và Giuđa "ăn và uống" Mình Máu Chúa như tất cả các Tông Đồ khác hiện diện. Vậy tại sao bây giờ Giáo Hội dạy phải sạch tội trọng mới được rước Mình Máu Thánh Chúa Kitô.?
 Trả lời:
I- Trước hết, xin tự hỏi : tại sao Chúa Giêsu giao du với những người bị xã hội Do Thái coi là tội lỗi?

   Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta cần đọc lại lời Chúa Giêsu nói với nhóm biệt phái xưa kia: “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần.” ( Mt 9:12)  Thật vậy, Chúa Kitô đến để tìm những người tội lỗi và kêu gọi họ ăn năn sám hối để được tha thứ và cứu rỗi. Do đó, Chúa tự ví mình như thầy thuốc đi tìm bệnh nhân để cứu chữa chứ không tìm người mạnh khoẻ để săn sóc.

Tuesday, January 27, 2015

LINH MỤC CÓ ĐƯỢC PHÉP DẠY “GIÁO LÝ” VÀ CỬ HÀNH CÁC BÍ TÍCH THEO Ý RIÊNG MÌNH KHÔNG ?

Hỏi: xin cha giải thích vài thắc mắc  sau đây liên can đến việc dạy dỗ và cử hành bí tích của linh mục:
1. Có linh mục kia, khi dâng lễ ở tư gia, đã mời mọi người có mặt tham dự lên rước Mình Thánh Chúa, vì cho rằng Chúa đã tha hết mọi tội cho con người rồi nên không cần phải xưng tội trước khi rước Mình Thánh Chúa!
2. Có linh mục khác đã vào nhà thương và chứng hôn cho đôi vợ chồng đang “rối” về hôn phối, theo lời  yêu cầu của bà mẹ đang nằm nhà thương nhân lúc linh mục đến thăm bà này.Như vậy hôn phối kia có thành sự hay không?

Saturday, January 24, 2015

VIỆC HÌNH THÀNH KINH TIN KÍNH

Bốn công đồng chung đầu tiên

I. Đức Giêsu, Thánh Linh là Thiên Chúa?
1. Ario
2. Công đồng Nicêa (325)
3. Nửa thế kỷ xáo trộn
4. Công đồng Constantinopoli (381)

II. Đức Giêsu nhập thể thế nào?
1. Hai trường phái Alexandria – Antiokia
2. Công đồng Êphêso (431)
3. Công đồng Calcêdonia (451)

III. Liên hệ giữa các Giáo Hội
Toát yếu - Câu hỏi

------------------------------------------------------------------------------

Kinh Tin Kính

 KINH TIN KÍNH CÁC TÔNG ÐỒ
KINH TIN KÍNH CÔNG ÐỒNG NIXÊ CON-TAN-TI-NÔ-PÔ-LI
* Tôi tin kính Ðức Chúa Trời
Tôi tin kính một Thiên Chúa duy nhất
* Là Cha phép tắc vô cùng
Là Chúa Cha toàn năng,
* dựng nên trời đất
 Ðấng tạo thành trời đất muôn vật hữu hình và vô hình
* Tôi tin kính Ðức Giê-su Ki-tô
Tôi tin kính một Chúa duy nhất
* là Con Một Ðức Chúa Cha
là Ðức Giê-su Ki-tô,
* cùng là Chúa chúng tôi
Con Một Thiên Chúa,

Sinh bởi Chúa Cha từ trước muôn đời :

Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa;

Ánh sáng bởi ánh sáng;

Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật

được sinh ra mà không phải được tạo thành.

Ðồng bản tính với Chúa Cha:

Nhờ Người mà muôn vật được tạo thành.

Vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi

Người đã từ trời xuống thế;
* Bởi phép Ðức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai
Bởi phép Chúa Thánh Thần
* Sinh bởi bà Ma-ri-a đồng trinh,
Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Ma-ri-a và đã làm người.
* Chịu nạn đời quan Phong-Xi-ô Phi-la-tô
Vì chúng tôi Người chịu đóng đinh vào thập giá dưới thời Phong-xi-ô Phi-la-tô
* Chịu đóng đinh trên cây Thánh Giá, chết và táng xác,
Người chịu khổ hình và mai táng 
* Xuống ngục tổ tông.

* Ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại,
Ngày thứ ba Người sống lại đúng như lời Thánh Kinh,
* lên trời,
Người lên trời
* ngự bên hữu Ðức Chúa Cha phép tắc vô cùng
ngự bên hữu Chúa Cha
* Ngày sau bởi trời lại xuống
và Người sẽ lại đến trong vinh quang
* phán xét kẻ sống và kẻ chết
để phán xét kẻ sống và kẻ chết

triều đại Người sẽ vô cùng vô tận.
* Tôi tin kính Ðức Chúa Thánh Thần,
Tôi tin kính Chúa Thánh Thần

Người là Chúa và là Ðấng ban sự sống;

Người phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con.

Người cùng được phụng thờ và tôn vinh với Chúa Cha và Chúa Con

Người đã dùng các ngôn sứ mà phán dạy.
* Tôi tin có Hội Thánh hằng có ở khắp thế này,
Tôi tin có một Hội Thánh duy nhất thánh thiện, công giáo và tông truyền
* Các thánh thông công

* Tôi tin phép tha tội
Tôi tuyên xưng có một phép rửa duy nhất để tha tội
* Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại
Tôi đợi trông ngày kẻ chết sống lại
* tôi tin hằng sống vậy
 sự sống đời sau.
* A-men
 A-men


 ++++++++++++++++++++++++++++++++++++

Thursday, January 22, 2015

GIÁO HỘI VÀ ƠN CỨU ĐỘ
Để có thể nhận định cách trung thực nguyên tắc “Ngoài Giáo Hội không có Ơn Cứu độ” (Extra Ecclesiam nulla salus – Hors de l'Église, pas de salut) của Thánh Giám Mục Cypriano (210 – 258). Chúng ta cần nhận ra tính chất hiệp nhất của Giáo Hội. Theo ngài, Giáo Hội từ nền tảng là mầu nhiệm hiệp nhất. Giáo Hội có ơn gọi hiệp nhất. Giáo hội phải thực là sự hiệp nhất các tâm hồn (một lòng) các tâm trí (một dạ). Một dân được hiệp nhất bằng chính sự hiệp nhất của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

Tuesday, January 20, 2015

40 câu hỏi & đáp về Tông huấn Familiaris Consortio
CÂU HỎI 1: Đâu là những mặt tích cực và tiêu cực liên quan đến đời sống hôn nhân gia đình trong thế giới hôm nay? (x. FC 6)
• Hoàn cảnh trong đó các gia đình đang sống hiện có cả những khía cạnh tích cực và tiêu cực: một số khía cạnh là dấu cho thấy ơn cứu độ của Đức Ki-tô đang tác động trong thế gian, một số khía cạnh khác là dấu cho thấy sự chối từ của con người đang chống lại tình thương của Thiên Chúa.
Một đàng, người ta thấy có một ý thức sống động hơn về tự do cá nhân và một sự chú ý nhiều hơn đến phẩm chất của các tương quan liên vị trong hôn nhân, đến sự nâng cao phẩm giá phụ nữ, đến sự sinh sản có trách nhiệm, đến việc giáo dục trẻ em; thêm vào đó là ý thức về nhu cầu phải phát triển những liên hệ giữa các gia đình để giúp đỡ lẫn nhau về mặt tinh thần và vật chất, cũng như khám phá lại sứ mạng Hội Thánh riêng biệt của gia đình và trách nhiệm của gia đình trong việc xây dựng một xã hội công bình hơn. Nhưng đàng khác, cũng không thiếu những dấu hiệu cho thấy một sự thoái hoá đáng lo ngại về một số giá trị căn bản: một quan niệm sai lầm trên lý thuyết và thực hành về sự độc lập giữa hai vợ chồng, những mập mờ rất trầm trọng về tương quan uy quyền của cha mẹ đối với con cái, những khó khăn cụ thể trong việc lưu truyền các giá trị như nhiều gia đình đã cảm nghiệm, con số các vụ ly dị gia tăng, vết thương về sự phá thai, việc dùng các phương pháp tuyệt sản ngày càng nhiều, việc hình thành một não trạng đích thị là não trạng chống thụ thai.