Các Giáo Xứ: Lịch Sử Và Thần Học
Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.
-------------------------------------------
Nội Dung
Nhập đề: Từ ngữ
1/ Tiếng Việt: xứ, họ.
2/ Tiếng Latinh: paroecia (Pháp paroisse, Anh parish), gốc bởi paroikia tiếng Hy-lạp.
I. Lịch sử
A. Những thế kỷ đầu tiên: từ ekklesia đến paroikia
B. Thời Trung cổ: sự thành hình các giáo xứ
C. Công đồng Trentô: quy tắc về cha xứ và giáo xứ
D. Công đồng Vaticanô II: giáo xứ với giáo-hội-học.
II. Thần học
A. Khái niệm về giáo xứ trong các văn kiện Tòa Thánh
1/ Những văn kiện công đồng Vaticanô II
2/ Bộ giáo luật 1983 và các văn kiện gần đây
B. Những khuôn mặt thần học của giáo xứ
1/ Nhìn từ khía cạnh cộng đoàn
2/ Nhìn từ các yếu tố cấu thành sứ vụ: martyria, leiturgia, koinonia, diakonia
III. Vài hệ luận: những mô hình giáo xứ
A. Dưới góc độ xã hội học: những cách xếp loại giáo xứ, và những biến chuyển xã hội
B. Dưới góc độ thần học mục vụ: chân dung cha xứ
***
Nhập đề
Để tiếp tục kế hoạch mục vụ của năm 2014 dành cho việc “Phúc âm hoá đời sống gia đình”, Hội đồng giám mục Việt Nam đã chọn cho năm 2015 đề tài “Tân phúc-âm-hóa đời sống các giáo xứ và các cộng đoàn sống đời thánh hiến”. Giáo xứ được giới thiệu như một “gia đình rộng lớn hơn”: “giáo xứ là gia đình của những người con cái Thiên Chúa, trong đó tất cả là anh chị em với nhau. Gia đình giáo xứ cần được Phúc-Âm-hóa, nghĩa là thấm đẫm tinh thần Phúc Âm và làm chiếu tỏa ánh sáng Phúc Âm ra chung quanh, đến với muôn dân”.
Chúng tôimuốn đóng góp vào kế hoạch này qua việc nghiên cứu hai điểm “thời sự” và “thần học” của giáo xứ. Bài này gồm có ba phần. 1/ Trong phần đầu, chúng ta sẽ ôn lại sự tiến triển của giáo xứ trải qua lịch sử, với những vấn đề giáo luật và mục vụ kèm theo. 2/ Trong phần thứ hai, chúng ta sẽ tìm hiểu những quan niệm thần học về giáo xứ dựa theo các văn kiện của Giáo hội. 3/ Từ đó, chúng ta sẽ rút ra vài hệ luận.
Trước khi đi vào vấn đề, chúng tôi muốn đưa ra vài nhận xét về từ ngữ.




Trong tiếng Hán Việt, chữ khấn
tự nó chỉ có nghĩa là cầu xin (khấn nguyền, khấn cầu). Có người cho
rằng nó bắt nguồn bởi tiếng “khẩn” là thành thật. Khấn thường đi kém với
hứa. Hứa thì thêm tư tưởng “hẹn” (hứa hẹn). Khấn hứa
vừa bao gồm việc cầu xin, vừa hẹn sẽ tạ ơn nữa. Thiết tưởng nên ghi
nhận là việc khấn hứa được dành riêng cho thế giới thần linh (cầu Trời
khấn Phật) chứ không áp dụng cho xã hội loài người. Chúng ta có thể lấy
một thí dụ từ đời sống hàng ngày, khi một người phải đương đầu với một
khó khăn nào đó (thí dụ: sinh viên sắp đi thi, bệnh nhân sắp bị mổ,
thương gia sắp lên đường kinh doanh), thì họ đến cầu khấn Chúa, (hay đức
Mẹ, hay một vị thánh nào đó) giúp đỡ và hứa rằng nếu vượt qua được thì
sẽ tạ ơn. Quan điểm này khá gần gũi với quan điểm “votum” trong tiếng
La-tinh cổ điển. Động từ vovere có nghĩa là bày tỏ ước nguyện
lên các đấng thần linh, kèm theo lời hứa sẽ thực hiện một công việc gì
đó. Ta thấy hàm chứa một tương quan khế ước trong đó: nếu thần linh ban
cho tôi được ơn này, thì tôi sẽ tạ lễ như thế này; dĩ nhiên là nếu thần
linh không ban ơn thì tôi cũng không bị ràng buộc gì hết. Thế nhưng, đến
khi thánh Tôma Aquinô suy luận về bản chất của lời khấn thì ngài đã sửa
lại quan điểm khế ước về lời khấn, nghĩa là chỉ giữ lại khái niệm về lời hứa
sẽ thực hiện điều gì đó, chứ không đặt điều kiện là phải nhận được ơn
lành. Quan điểm thần học của thánh Tôma được bộ giáo luật lặp lại ở điều
1191: “khấn (votum) là hứa với Thiên Chúa sẽ thực hiện một điều tốt”.
Mình hứa với Thiên Chúa sẽ thực hiện một điều tốt bởi vì mình muốn bày
tỏ lòng kính mến Chúa, muốn tiến trên con đường trọn lành, chứ không
phải chỉ vì muốn đút lót để xin Ngài làm ơn cho mình. Dù sao, đó là nói
trên nguyên tắc trừu tượng. Trên thực tế, có nhiều cấp độ mà chúng ta
khấn hứa với Thiên Chúa. Chúng ta có thể hứa sẽ làm một công tác nào cụ
thể (thí dụ kiêng hút thuốc, kiêng xem tivi, ngày thứ sáu; hứa sẽ đi lễ
hàng ngày); nhất là chúng ta có thể hứa sẽ dâng trót mình phụng sự Chúa.


