Tuesday, May 20, 2014

Tín Điều Về Mẹ Maria

Cao Tấn Tĩnh

"Những lần Mẹ hiện ra" từ thế kỷ 19 là dấu hiệu thứ nhất chứng tỏ đây là thời của Mẹ Maria. Dấu hiệu thứ hai chứng tỏ đây là thời của Mẹ Maria, đó là, cũng từ thế kỷ 19 trở đi, ba tín điều về Mẹ Maria đã được Giáo Hôi chính thức tuyên tín. Trong khi đó, 18 thế kỷ trước, chỉ có một tín điều duy nhất về Mẹ là tín điều Mẹ Thiên Chúa được Giáo Hội tuyên tín vào năm 431 ở công đồng chung Êphêsô mà thôi.

Vào thời kỳ ấy, thời công đồng Êphêsô, có một vị linh mục tên Anastasiô công khai chối bỏ thiên chức Mẹ Thiên Chúa (Theotokos) của Mẹ, và chỉ công nhận Mẹ là Mẹ của Chúa Kitô (Khristotokos).Chính Nestôriô là thượng phụ Constantinôpôli năm 428 cũng chấp nhận như vậy, tức công nhận Chúa Kitô có hai Ngôi Vị, một thần linh và một nhân loại. Dựa vào bức thư thứ hai trong ba bức thư của thánh Giáo Phụ Cyrilô Alexandria gửi cho Nestôriô, các nghị phụ tham dự công đồng chung này, vào ngày 22-6-431, đã tuyên tín như sau:

“Không phải Ngôi Lời đã từ trời xuống ở với một phàm nhân được Trinh Nữ Thánh sinh ra đầu tiên; mà là, vì nên một với xác thể trong lòng (của Trinh Nữ Thánh), Ngôi Lời đã được sinh ra theo xác thể, như là việc sinh ra theo xác thể của mình... Bởi thế, (các giáo phụ) đã không ngại gọi Trinh Nữ Thánh là 'Mẹ Thiên Chúa' (Theotokos). Điều này không có nghĩa là bản tính của Ngôi Lời hay Thiên Tính của Ngài đã được bắt đầu hiện hữu từ Trinh Nữ Thánh, mà là, vì Thánh Thể được sinh động bởi hồn thiêng, mà Ngôi Lời đã ngôi hiệp (kath'hupostasin) với chính mình, được sinh ra bởi Người, nên Ngôi Lời đã được sinh ra theo xác thể” (TCF:148-149).

Và, cũng bắt đầu từ đó, Giáo Hội đã dạy cho con cái mình cầu nguyện cùng Mẹ:
“Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử. Amen”.

Nguời Tín Hữu Chúa Kitô Phải Có Những Nhân Đức Nào?

Hỏi: Xin cha giải thích các nhân đức mà người Công giáo phải có để sống đức tin trước mặt người khác.

PHẢI CHĂNG NGƯỜI TA có thể TRẢ GIÁ CHO một THÁNH LỄ?

Thánh Lễ Mi-sa là một sự lặp lại Hy Lễ thập giá của Đức Kitô, nên hoàn toàn vô giá, người ta không thể trả giá hay mua bằng tiền bạc được.
---------------------------------------

Bình thường, hầu như tất cả các tín hữu Công Giáo đều đầy lòng tin tưởng khi họ đến xin một vị Linh Mục dâng Thánh Lễ để cầu nguyện cho một ý nguyện nhất định nào đó của họ, như cầu xin ơn bình an cho gia đình, cho con cái hay cầu nguyện cho linh hồn các người thân đã qua đời, v.v…Và những ý nguyện ấy thường được gọi là “ý lễ” (Meßintentionen). Trên thực tế, người tín hữu thường đến văn phòng giáo xứ để gặp cha Quản Xứ hay thư ký giáo xứ và trình bày ý nguyện xin lễ của mình và sau đó dâng một số tiền nào đó theo quy định của Giáo Phận, của Giáo xứ hay tuỳ lòng hảo tâm của đương sự, số tiền này được gọi là "bổng lễ".

Vấn đề tiền xin lễ hay bổng lễ này đã khiến không ít người từng thắc mắc tự hỏi: Phải chăng người ta có thể mua được ơn thánh và sự chúc phúc của Thiên Chúa? Phải chăng con người có thể mặc cả với Thiên Chúa về ân sủng thiêng liêng bằng tiền bạc vật chất? Nói cách khác, phải chăng người ta có thể trả giá cho một Thánh Lễ?

Saturday, May 17, 2014

TÌM HIỂU TỔNG QUAN VỀ BÍ TÍCH XỨC DẦU BỆNH NHÂN

Tác giả: LUDWIG OTT

I. Ý NIỆM VÀ TÍNH BÍ TÍCH CỦA BÍ TÍCH XỨC DẦU BỆNH NHÂN

1. Ý niệm về Bí Tích Xức Dầu Bệnh Nhân

Bí tích xức dầu bệnh nhân là BT, trong đó người tín hữu nhận được hồng ân của Thiên Chúa để được ơn cứu độ siêu nhiên cho linh hồn và cũng thường được nhận ơn cứu độ tự nhiên phần xác, nhờ qua việc xức dầu và lời cầu nguyện của linh mục.

2. Tính Bí tích của việc xức dầu bệnh nhân
a) Tín điều

BÍ TÍCH XỨC DẦU BỆNH NHÂN LÀ MỘT BÍ TÍCH THẬT VÀ CHÍNH ĐÁNG, DO CHÍNH ĐỨC KITÔ THIẾT LẬP. De fide.

Vào thời Trung cổ có nhiều giáo phái xem nhẹ việc xức dầu sau hết như nhóm Catharer, Waldenser, Wiclifiten, Hussiten, và họ không muốn nhận ; tiếp đến giáo phái Tin Lành lại phủ nhận tính Bí Tích của việc xức dầu này. Họ cho đấy chỉ là phong tục do các giáo phụ để lại, không có mệnh lệnh nào của Chúa cả (Apol. Conf. Art. 13 n.6); họ coi đó “tựa như bí tích” (fictitium sacramentum ; Institutio christ.rel. IV 19,18).

Friday, May 16, 2014

NĂM ĐIỀU BẠN CHƯA BIẾT VỀ ĐỨC GIÊSU
Bài viết riêng cho CNN của Lm. James Martin, Dòng Tên, Tổng Biên Tập tạp chí America,tác giả tác phẩm "Đức Giêsu là một cuộc hành hương" (Jesus: A Pilgrimage) nhân mùa Phục Sinh 2014.
Mỗi khi đến mùa Phục Sinh là Đức Giêsu lại được nhắc đến rất nhiều kể cả theo lối tiêu cực do một số người mang nhiều thành kiến là Người chưa bao giờ thực sự hiện hữu. Hầu hết những gì chúng ta biết về Người thì đã được biết đến trong 2.000 năm qua. Nhưng nhờ có những tiến bộ trong sử liệu và ngành khảo cổ, các Kitô hữu nhiệt thành vẫn có những khám phá đầy kinh ngạc và mới mẻ về cuộc đời và thời đại của Người.
Đây là 5 điều có lẽ bạn chưa biết về Người:
1. Đức Giêsu xuất thân từ một làng quê hẻo lánh
Hầu hết các nhà khảo cổ bây giờ đồng ý rằng Nazareth chỉ có từ 200 đến 400 nhân khẩu. Toàn bộ Cựu Ước và sách Talmud không hề nhắc đến Nazareth. Còn trong Tân Ước nó thường được nhắc đến với một sự châm biếm, Tin Mừng theo Thánh Gioan kể rằng khi Nathanael nghe về một Đấng Messiah có tên là “Giêsu Nazareth”, ông đã hoài nghi ngay: “Ở Nazareth thì làm sao có gì hay ho ?”
2. Đức Giêsu không biết tất cả mọi sự
Đây là một nan đề gai góc của thần học. Nếu Người mang thần tính thì Người phải am tường tất cả. Thật vậy, trong nhiều dịp Người đã tiên báo về cái chết và sự trỗi dậy của mình. Tin Mừng theo Thánh Máccô ghi lại thoạt tiên Đức Giêsu thẳng thừng từ chối chữa bệnh theo yêu cầu của một phụ nữ không phải Do Thái: “Không thể lấy bánh của con cái mà ném cho chó được.” Nhưng khi chị ta trả lời rằng chó cũng được ăn mảnh vụn rớt xuống gầm bàn thì Người đã kinh ngạc và chữa lành cho đứa con gái của chị ta. Dường như Người nhận ra sứ vụ của mình không dừng ở nơi người Do Thái.
3. Đức Giêsu đã sống đời dầm mưa giãi nắng
Từ năm 12 đến 30 tuổi, Đức Giêsu làm công việc của một người thợ mộc tại Nazareth. Khi Người bắt đầu rao giảng dân chúng đã ngỡ ngàng: “Đây có phải là anh thợ mộc không ?” Nghề nghiệp của Người theo nguyên gốc Hy Lạp là tekton. Xưa nay vẫn quen dịch là thợ mộc. Nhưng hầu hết các học giả bây giờ đều cho rằng đó là một thứ tạp vụ, một số còn dịch là “người làm công nhật”. Một tekton có thể làm cửa, bàn ghế, giá đèn, lưỡi cầy. Nhưng có lẽ người cũng còn xây tường gạch hay phụ giúp vào việc xây nhà ( thợ hồ – Người thường đưa vào dụ ngôn những vật liệu này ). Đó là một nghề nghiệp cơ cực, phải kéo lê dụng cụ, các thanh gỗ và tảng đá trên toàn miền Galilê.
Đức Giêsu đâu có phải là loại người nổi đình nổi đám, nhảy vào hí trường thế giới sau một cuộc đời nhàn hạ của một bác phó mộc chỉ sống thoải mái tại nhà, hàng ngày chỉ ngắm nghía và trau truốt một vài thanh gỗ đâu. Trong 18 năm, Người đã làm việc cật lực và nặng nề. ( Thánh Luca đã nói về giai đoạn này một cách vắn gọn: "Sau đó, Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Nazareth và hằng vâng phục các ngài. Có lẽ ta cần hiểu rằng Người đã chấp nhận gia cảnh nghèo hèn của cha mẹ, tức là từ khi còn rất trẻ Người đã phải làm lụng quần quật để mưu sinh ).
4. Đức Giêsu cần đến thời gian riêng
Tin Mừng thường nói về nhu cầu của Đức Giêsu tách khỏi đám đông và ngay cả các môn đệ nữa. Nếu có dịp đến thăm khu vực biển Galilê nơi Đức Giêsu thực hiện hầu hết các sứ vụ của Người, các bạn sẽ thấy các thị xã nằm rất san sát nhau. Tìm được một khoảng trống riêng cho mình là điều rất khó. Tại đó vẫn còn một cái hang nằm trên bờ biển gần với Capharnaum, khu vực tập trung các hoạt động của Người. Có lẽ Người đã thường đến đó để cầu nguyện. Hang đó có tên Eremos, nghĩa là hẻo lánh hay cô tịnh, từ đó phát xuất ra từ ẩn sĩ.
Dù là Con Thiên Chúa, Đức Giêsu vẫn cần có thời gian sống một mình để cầu nguyện với Cha của Người.
5. Đức Giêsu không muốn chết
Khi gần đến cuộc thương khó, Người đã xin “cất chén này đi”. Đó là một lời cầu nguyện thống thiết với Cha mà Người gọi một cách trìu mến là Abba. Rõ ràng Người không muốn chết. Một số Kitô Hữu cho rằng Đức Giêsu yêu mến và mong chờ cái chết. Nhưng như tất cả mọi người khác, cái chết là một nỗi kinh hoàng đối với Người. Tâm hồn Thầy buồn đến chết được ( Mt 26, 38 ). Buồn đến chết tức là buồn ghê gớm vì không có gì ghê gớm bằng cái chết. Nhưng khi Người nhận ra đó là ý muốn của Cha thì Người bằng lòng đón nhận cái chết, ngay cả một cái chết trên thập giá.
Người ta thường nói về những khát vọng của họ khi xuyên tạc cuộc đời của Đức Giêsu. Nào là Người lấy Maria Mácđala làm vợ, sinh ra nhiều đứa con, ngao du qua Ấn Độ…
Chung cuộc lại Đức Giêsu không bao giờ là một vấn nạn lịch sử để người ta tìm hiểu, nhưng Người luôn luôn là một huyền nhiệm mời gọi mọi người đào sâu.
-----------------------------------
Lm. JAMES MARTIN, Dòng Tên,


Monday, May 12, 2014


Tìm ĐỨC MẸ để DÂNG HOA
+ GM JB. Bùi Tuần

----------------------
Những khi muốn dâng hoa lên Đức Mẹ, tôi thấy việc tìm kiếm hoa là việc khá quan trọng.

Nhưng đôi khi tôi có cảm tưởng rằng: TÌM ĐỨC MẸ, để DÂNG HOA, cũng là việc quan trọng không kém.

Photo: Tìm ĐỨC MẸ để DÂNG HOA
+ GM JB. Bùi Tuần
----------------------
Những khi muốn dâng hoa lên Đức Mẹ, tôi thấy việc tìm kiếm hoa là việc khá quan trọng.

Nhưng đôi khi tôi có cảm tưởng rằng: TÌM ĐỨC MẸ, để DÂNG HOA, cũng là việc quan trọng không kém. 

Tất nhiên, chỉ có một Đức Mẹ Maria. Nhưng Đức Mẹ Maria duy nhất của chúng ta vốn được gọi bằng nhiều tước hiệu, như Đức Mẹ Vô nhiễm, Đức Mẹ Mân côi, Đức Mẹ Fatima, Đức Mẹ Nữ vương v.v...

Thiết tưởng mỗi người sẽ gọi Mẹ bằng tước hiệu nào, mà mình ưa thích nhất. Phần tôi, tôi quen gọi Mẹ Maria của tôi bằng những tước hiệu không mấy sang trọng. Như: Mẹ là nơi ẩn náu của kẻ tội lỗi. Mẹ là Đấng an ủi kẻ âu lo. Mẹ là hy vọng của kẻ thất vọng.

Riêng những lần dâng hoa, tôi thường đặt hoa của tôi trước ảnh “Đức Mẹ Trái tim”. Tức là ảnh Đức Mẹ mở trái tim mình bốc lửa. Tôi hiểu lửa đó là tình yêu đau khổ.

Tôi dám chắc việc làm đó của tôi sẽ đẹp lòng Mẹ. Bởi vì tôi nhìn Đức Mẹ có rất nhiều đau khổ vì yêu mến Chúa và xót thương nhân loại.

Đức Mẹ đau khổ được nói trong Kinh Thánh.

Phúc Âm thánh Luca thuật lại: Khi thánh Giuse và Đức Mẹ Maria đem hài nhi Giêsu lên đền thờ, để tiến dâng cho Thiên Chúa theo Luật dạy, thì tiên tri Simeon đã nói với Đức Mẹ rằng: “Thiên Chúa đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Israel phải vấp ngã hay được chỗi dậy. Cháu còn là dấu hiệu bị người đời chống báng. Còn chính bà, thì một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà, ngõ hầu những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người phải lộ ra” (Lc 2, 34)

Ngay liền đó, thánh Luca đã ghi một chi tiết ứng nghiệm lời tiên tri Simeon. Chi tiết đó là biến cố Đức Mẹ và thánh Giuse phải đau đớn đi tìm con mình trong ba ngày. Khi gặp được Chúa Giêsu trong đền thờ, Đức Mẹ đã không giấu nổi nỗi đau. Mẹ nói: “Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con” (Lc 2, 48).

Phúc Âm cho thấy: Đức Mẹ đã phải cực lòng, không phải chỉ lần đó, mà phải cực lòng trong suốt cuộc đời cộng tác vào chương trình cứu chuộc của Đức Kitô. Dấu ấn cực lòng nhất là cảnh Đức Mẹ chứng kiến cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Thánh Gioan chỉ tả lại vắn tắt: “Đứng gần thập giá Đức Kitô, có thân mẫu Người...” (Ga 19, 25).

Như vậy, Mẹ đã đau khổ, vì chia sẻ trọn vẹn những đớn đau của Chúa Giêsu. Đó là một sự thực không thể thiếu được trong nhận thức của chúng ta.

Hơn nữa, Mẹ đã đau đớn, còn vì chia sẻ trọn vẹn những xót xa vô vàn của Chúa trước cảnh bao người tự huỷ mình trong mọi thời. Họ tự do chọn con đường tội lỗi dẫn xuống hoả ngục. Đó cũng là một sự thực ta không nên coi thường. 

Đức Mẹ đau khổ trong lịch sử hiện nay.

Tâm tình khổ đau của Mẹ đã được chính Mẹ tỏ lộ trong những lần Mẹ hiện ra. Khi hiện ra tại La Salette, tại Lộ Đức, tại Fatima, Đức Mẹ đã chỉ nhắc đi nhắc lại lời khuyên nhủ: Hãy ăn năn sám hối, hãy năng cầu nguyện và hy sinh, hãy trở về với Chúa. Mẹ nhắn nhủ bấy nhiêu đều với nét mặt buồn sầu.

Hơn nữa, Đức Mẹ không buồn sầu sao được khi nhìn vào một nền văn hoá biến chất đang chuyên chở một phần nhân loại. Nền văn hoá này đang có những khủng hoảng trầm trọng.

Khủng hoảng về thiếu chiều cao. Càng ngày càng bớt đi tình hiếu thảo đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Càng ngày bổn phận tôn thờ Đấng Tạo Hoá càng bị quên lãng hoặc chối bỏ.

Khủng hoảng về thiếu chiều sâu. Rất nhiều người không hề tìm hiểu ý nghĩa đời mình, hướng đi đời mình, trách nhiệm đời mình. Mặc kệ đời sống mình trôi giạt trong khoảng trống mịt mù.

Khủng hoảng vì thiếu chiều ngang. Liên đới giữa người với người rất hẹp và căng. Cái tôi trở thành trung tâm. Xung quanh là bầu khí dửng dưng, thiên kiến, thù hận, sợ hãi, ganh tị, ghen ghét.

Khủng hoảng vì thiếu chiều kích nội tâm. Không quen, không thích và không có khả năng suy nghĩ, đào sâu tư tưởng, gạn lọc ước muốn, đối diện với các sự thực, nhất là sự thực về chính mình.

Khủng hoảng vì thiếu chiều kích tu thân. Thả lỏng nguồn khát vọng. Quên đi lời Kinh Thánh:
“Tuổi thọ đáng kính,
không phải bởi sống lâu, cũng không do số tuổi.
Đối với con người, sự khôn ngoan còn quí hơn tóc bạc.
Sống không tì ố đã là sống thọ” (Kn 4, 8-9).

Nền văn hoá với những khủng hoảng kể trên đang dần dần ảnh hưởng xấu đến tôn giáo.

Chúng ta còn nhìn thấy điều đó. Phương chi Đức Mẹ càng thấy rõ hơn. Đức Mẹ thấy, Đức Mẹ buồn, Đức Mẹ muốn cứu, nếu chúng ta có thiện chí, biết vâng lời Đức Mẹ.

Đức Mẹ khổ đau trong khát khao cứu độ.

Tuy khổ đau vì tội lỗi chúng ta, nhưng Đức Mẹ với trái tim bốc lửa vẫn mãi là nguồn hy vọng của chúng ta. Tôi tin vững vàng điều đó. Bởi vì Đức Mẹ rất thương chúng ta. 

Ngoài ra, Đức Mẹ là Đấng đầy ơn Chúa Thánh Thần. Ngày truyền tin, thiên sứ đã nói với Đức Mẹ: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên Bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên Bà... Đối với Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1, 35-37).

Với những lời bảo đảm trên đây của thiên sứ, chúng ta tin tưởng, khi dâng hoa và đời ta lên Đức Mẹ.

Phần tôi, Đức Mẹ mở trái tim bốc lửa vẫn là hình ảnh gợi ý. Không những gợi ý, mà còn như cần thiết. Nhất là những lúc thân phận yếu đuối của tôi cảm thấy mình cần được gần gũi một tình mẹ đầy xót thương, giàu sức cứu độ. Đặc biệt là những khi trí khôn tôi đã quá mệt mỏi, hầu như không còn khả năng tập trung suy nghĩ, thì sự nhìn một hình ảnh tình thương đẹp như hình ảnh Đức Mẹ Trái Tim sẽ được coi như rất hữu ích, để giúp tôi cầu nguyện với niềm tin vào lòng thương xót Chúa.

Hình ảnh Đức Mẹ Trái Tim không ở đâu xa. Tôi nhìn thấy gần tôi, hầu như ngay trong chính tim tôi.
----------------------------------------
Tất nhiên, chỉ có một Đức Mẹ Maria. Nhưng Đức Mẹ Maria duy nhất của chúng ta vốn được gọi bằng nhiều tước hiệu, như Đức Mẹ Vô nhiễm, Đức Mẹ Mân côi, Đức Mẹ Fatima, Đức Mẹ Nữ vương v.v...

Thiết tưởng mỗi người sẽ gọi Mẹ bằng tước hiệu nào, mà mình ưa thích nhất. Phần tôi, tôi quen gọi Mẹ Maria của tôi bằng những tước hiệu không mấy sang trọng. Như: Mẹ là nơi ẩn náu của kẻ tội lỗi. Mẹ là Đấng an ủi kẻ âu lo. Mẹ là hy vọng của kẻ thất vọng.

Riêng những lần dâng hoa, tôi thường đặt hoa của tôi trước ảnh “Đức Mẹ Trái tim”. Tức là ảnh Đức Mẹ mở trái tim mình bốc lửa. Tôi hiểu lửa đó là tình yêu đau khổ.

Tôi dám chắc việc làm đó của tôi sẽ đẹp lòng Mẹ. Bởi vì tôi nhìn Đức Mẹ có rất nhiều đau khổ vì yêu mến Chúa và xót thương nhân loại.

Có luyện ngục và "lâm-bô" như Giáo hội Công giáo quan niệm?

Giáo hội Công giáo quan niệm rằng sau khi chết ai còn mắc các tội nhẹ, thì phải đến ở trong luyện ngục, bị lửa thiêu trong một thời gian không ai biết được. Vì thế những người còn sống phải xin lễ mi-sa cho họ, để họ chóng lên thiên đàng. Nhưng Kinh thánh không dạy một điều nào như thế cả!? Kinh thánh cũng không nói gì tới ngục "lâm-bô" dành cho các trẻ em!

Những Khái Niệm Căn Bản Về Ơn Gọi


LM. JBM. Phương Anh, CSJB

Ơn Gọi là gì?

Ðể trả lời cho vấn đề, trước hết, chúng ta cần nói qua khái niệm về hai chữ “Ơn gọi”.
on goi
Ơn gọi là một tiếng gọi yêu thương của Chúa cho con người từ muôn thuở. Có một bài thánh ca chúng ta thường hát: “Từ muôn đời Chúa đã yêu con, và còn yêu con mãi mãi…” Ðã gọi là tiếng gọi từ muôn thuở, chúng ta không có thể nói rằng, Chúa gọi tôi cách đây mấy năm, hay Chúa vừa gọi tôi, hay tôi chờ xem Chúa có gọi tôi hay không…, nhưng phải nói rằng, Nếu Ngài gọi, Ngài đã gọi tôi từ lâu rồi, từ khi tôi chưa được sinh ra, từ khi chưa có loài người sống trên mặt đất, từ khi chưa có sao trời, rừng sâu và biển cả… Tiếng gọi của Ngài dành cho tôi đã phát xuất từ chính Ngài, vang vọng vào không gian, vào vũ trụ vô hình bằng những làn sóng mắt thường không trông thấy, và Ngài mong một ngày nào đó tôi nghe được tiếng gọi đó.
ƠN GỌI THỨ NHẤT: LÀM CON THIÊN CHÚA
Thời điểm ơn gọi thứ nhất đến với mỗi người chúng ta có thể mỗi khác: người được rửa tội từ khi mới sinh, người lúc lên mười, hai mươi, có người mãi đến lúc về chiều mới lần đầu tiên gặp được Chúa… Nhưng chung quy, tất cả chúng ta, những người Kitô hữu đều có ơn gọi này ơn gọi làm con Thiên Chúa. Ðây là một ơn Chúa ban cho chúng ta cách nhưng không, là một món quà vô giá mà không phải ai cũng có – Chúa ban cho ai, người ấy được. Người ta có thể tốn cả triệu đôla mà chưa chắc đã mua được món quà này. Ðây chính là ơn gọi thứ nhất trong cuộc đời của một con người, chúng ta gọi là ơn gọi căn bản và phổ quát, căn bản vì là ơn gọi đầu tiên, phổ quát vì chung cho mọi người Kitô hữu.
Qua phép Rửa, Thiên Chúa thông ban ơn cứu độ cho chúng ta trong Ðức Giêsu Kitô. Việc gia đình ông Noê được cứu thoát khỏi nước lụt đại hồng thủy được kể lại trong Cựu Ước là hình ảnh tiên báo cho Bí Tích Rửa Tội sau này trong thời Tân Ước. Trong Phép Thanh Tẩy, Thiên Chúa giơ tay Ngài ra để cứu thoát chúng ta khỏi những trận lụt của khốn khổ, khỏi sự nhận chìm trong những vũng bùn sâu của tội lỗi. Hơn nữa, sau khi Chúa cứu thoát ông Noê khỏi bị lụt, Ngài đã tạo nên chiếc cầu vồng như dấu chỉ của Tình yêu và lòng thương xót của Ngài. Cầu vồng là một dấu hiệu cho biết rằng, lụt lội và nguy hiểm đã qua rồi. PHÉP RỬA TỘI là CHIẾC CẦU VỒNG CỦA NGƯỜI KITÔ HỮU. Ngay cả sau khi chúng ta lãnh nhận Bí tích Rửa tội, chúng ta sẽ vẫn còn thấy những đám mây ác thần vây phủ chúng ta; chúng ta sẽ vẫn còn thấy những tiếng sấm gầm vọng từ xa của thù địch chỉ muốn tiêu diệt chúng ta. Nhưng Bí tích Rửa tội luôn làm cho chúng ta ý thức rằng, chúng ta không phải sợ hãi những thứ sấm sét bão tố đó đang đe dọa cuộc sống chúng ta. Bí tích Rửa tội vẫn luôn luôn là dấu chỉ của lòng thương xót và Tình yêu Thiên Chúa, qua đó, Ngài không cho phép nước lụt của thù địch và của sự dữ tiêu diệt chúng ta.
Trong Ðêm Phục sinh, chúng ta được mời gọi để lập lại lời hứa Rửa tội. Vấn đề của chúng ta là, chúng ta có ý thức những gì chúng ta tuyên xưng trong lời hứa đó không? Chúng ta cần nhớ lại chúng ta đã hứa những gì qua cha mẹ đỡ đầu, hoặc do chính chúng ta hứa nếu chúng ta chịu phép rửa tội khi đã khôn lớn? Thánh Phêrô cho rằng, điểm cốt yếu trong lời hứa Rửa tội đó là “một lương tâm thiện hảo” (I Pr 3:21). Bí tích Rửa tội là một khế ước, một thỏa thuận giữa chúng ta và Thiên Chúa: Thiên Chúa hứa ban cho chúng ta Tình yêu và lòng thương xót của Ngài, và chúng ta hứa sẽ sống trung thành với Ngài. Ngài trở thành Chúa chúng ta và chúng ta trở thành dân của Ngài.
Việc lập lại lời hứa rửa tội phải được tiếp nối cách sống động trong đời sống hằng ngày của chúng ta, nghĩa là chúng ta phải luôn nghiêm chỉnh ý thức sống ơn gọi thứ nhất này. Sau ơn gọi thứ nhất này, chúng ta có bổn phận đi tìm thánh ý Chúa cho ơn gọi thứ hai của mình, ơn gọi có “ơn làm con Thiên Chúa” làm nền tảng.
ƠN GỌI THỨ HAI: ƠN GỌI TU TRÌ HOẶC ƠN GỌI HÔN NHÂN
Trong ơn gọi thứ nhất, chúng ta trở thành người con Thiên Chúa và người môn đệ của Chúa Giêsu. Với tư cách là môn đệ, chúng ta mãi mãi được mời gọi bước theo Thầy Chí Thánh của mình. Những lời mời gọi của Chúa Giêsu luôn theo đuổi cuộc đời chúng ta: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mà theo Ta”.
Vì thế, dù chúng ta chịu phép rửa tội vào lứa tuổi nào chăng nữa, đức tin vẫn luôn đòi hỏi chúng ta phải mãi mãi trung thành với lời chúng ta hứa khi chịu phép rửa tội: “Từ bỏ tội lỗi, từ bỏ những quyến rũ bất chính, từ bỏ ma quỷ; Tin Thiên Chúa là Cha, là Ðấng tạo thành trời đất, tin Ðức Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa, Chúa chúng ta, sinh bởi Ðức Trinh Nữ Maria, đã chịu khổ hình và mai táng, đã sống lại từ cõi chết và đang ngự bên hữu Chúa Cha, tin kính Ðức Chúa Thánh Thần, tin Hội Thánh Công giáo, tin các thánh thông công, tin phép tha tội, tin xác sống lại và sự sống đời đời…”
Sau khi nhận bí tích đầu tiên đó, chúng ta tiếp tục lãnh nhận các bí tích khác để giúp chúng ta kiên trì và thăng tiến trong đời sống ơn gọi căn bản của mình. Ðặc biệt, sau ơn gọi thứ nhất đó, Chúa còn mời gọi chúng ta bước theo Ngài trong ơn gọi thứ hai trên hành trình đức tin: Hoặc là ơn gọi đời sống hôn nhân, hoặc là ơn gọi sống đời sống tu trì.
Không sớm thì muộn, ai trong chúng ta cũng đều phải chọn lựa một trong hai ơn gọi đó: Ði tu hay lập gia đình?
“ÐÀN ÔNG Ở MỘT MÌNH KHÔNG TỐT”:
gia dinhÐây là câu nói trong sách Sáng thế ký, cuốn đầu tiên của Cựu Ước, đoạn 2 câu 18 (Tiếng Anh: “It is not right that the man should be alone”).
Câu Lời Chúa này gợi cho chúng ta hai vấn đề:
1) Từ khởi nguyên, Chúa tỏ ý rằng, Ngài muốn con người sống có đôi. Nhiều người dùng câu nói Kinh Thánh này để biện luận khi họ không muốn đi tu – “Ðàn ông ở một mình không tốt” như vậy phải lấy vợ… – Cũng có lý, nhưng cần phải hiểu rằng, Chúa, nhất là trong Tân Ước, đồng thời cũng mời gọi chúng ta bước một bước xa hơn nữa trên con đường hẹp của Tin Mừng, để sống hiến dâng trọn vẹn cho Thiên Chúa bằng một tình yêu không chia sẻ. “Ðức Giêsu kêu gọi một số người đi theo Ngài cách gần gũi hơn để Giáo Hội trở thành một dấu hiệu hùng hồn của ơn vinh thắng” (Trích từ Sứ Ðiệp được truyền đi từ Thượng Hội Ðồng Giám Mục, tháng 10/94 tại Roma).
2) Ðàn bà ở một mình có tốt không? Có người nói: Ðàn ông ở một mình không tốt, đàn bà ở một mình thì tốt. Không biết chắc chắn ý Chúa thế nào đối với người phụ nữ, nhưng tôi thiển nghĩ, Nếu “đàn ông ở một mình không tốt”, thì đàn bà ở một mình càng không tốt hơn!… – Dường như con rắn đã khôn ngoan tìm lúc không có người nào bên cạnh người phụ nữ để cám dỗ…
Tắt một lời, dù đồng ý rằng sống độc thân ở giữa đời cũng là một ơn gọi, nhưng cách chung, dựa theo Lời Chúa, tôi không “recommend” các bạn trẻ, nam cũng như nữ, sống độc thân giữa đời.
Như vậy, chúng ta tạm để qua một bên cái “choice” thứ ba này.
HAI ƠN GỌI, HAI BẬC SỐNG
Như vừa nói trên, chúng ta sẽ phải chọn lựa một trong hai ơn gọi: một là đi tu, hai là lập gia đình, chứ không ai “bắt cá hai tay” được cả! Ðó là người sống tích cực. Hai ơn gọi này dẫn đến hai bậc sống khác nhau: bậc sống tu trì và bậc sống gia đình.
Hai bậc sống này có những điểm giống nhau, như: họ đều phải nỗ lực để nên thánh, xây dựng Giáo Hội, truyền giáo… Nhưng cũng có những điểm khác nhau, như: đời sống gia đình lo việc truyền sinh về thể lý, mặc dù có góp phần về đời sống tinh thần, còn đời sống tu trì chuyên lo việc truyền sinh về đời sống thiêng liêng; Mọi người đều thuộc về dân Thiên Chúa, nhưng các tu sĩ, linh mục, nhất là Giám mục là những người ở “cấp lãnh đạo” dân của Người, mặc dù họ cũng là một phần tử trong dân của Người; tình yêu trong đời sống gia đình tuyệt đẹp, nhưng trong đời sống tu trì, xét theo bản chất còn đẹp hơn nhiều!… Mong các bạn khôn ngoan chọn lựa!…
Chúng ta sẽ bàn về những điểm tương dị của hai ơn gọi này ở hai bài chia sẻ khác.
YẾU TỐ TÌNH YÊU TRONG MỌI ƠN GỌI
Như chúng ta vừa nói ở trên, có hai ơn gọi, vấn đề là chúng ta có thực sự sống ơn gọi của mình hay không. Ðể hiểu và sống ơn gọi, chúng ta cần phải hiểu yếu tố quan trọng của ơn gọi: TÌNH YÊU.
Trong phần này, tôi xin nhường lời cho Mẹ Têrêxa Calcutta. Mẹ nói:
“Một cách đơn giản, ơn gọi là một tiếng gọi để tôi hoàn toàn lệ thuộc vào Ðức Kitô, với ý thức rằng, không gì có thể tách tôi ra khỏi Tình yêu của Người.
“Ơn gọi là một lời mời gọi để sống trong tình yêu với Thiên Chúa và để minh chứng tình yêu đó.
“Tôi yêu mến Chúa thế nào? Tôi minh chứng tình yêu của tôi cho Thiên Chúa thế nào?
“Thưa, bằng cách làm thật tốt đẹp công việc được trao phó, bằng cách thực hiện một cách đơn sơ những gì Chúa ủy thác cho tôi dưới bất kỳ dạng thức nào.
“Chẳng hạn như cuộc sống của các chị em đã tuyên khấn – đúng như trên thực tế, họ đã trở thành hiền thê của Chúa Giêsu chịu đóng đinh – đó là ơn gọi của họ: yêu Chúa Giêsu bằng một tình yêu không chia sẻ, qua đức khiết tịnh, qua sự tự ý sống thanh bần, qua việc hoàn toàn từ bỏ mình trong đức vâng phục, và qua việc tự ý hết lòng phục vụ những người nghèo nhất của những người nghèo. Họ minh chứng tình yêu của họ đối với Thiên Chúa bằng việc đặt tình yêu đó trong những hành vi sinh động.

“Như thế, dù bạn được trao phó cho bất kỳ công việc gì, với tư cách một tu sĩ, hay một giáo dân – đó là phương tiện cho bạn để bạn dành tình yêu của bạn cho Thiên Chúa trong một hành vi sinh động, trong một hành vi của tình yêu… Bất kỳ khi nào bạn mỉm cười với một người nào đó, nụ cười đó là một hành vi của tình yêu, là một món quà cho người đó, một cái gì thật đẹp…
“Do đó, nếu tôi biết làm thế nào để yêu mến Ðức Kitô, nếu tôi muốn biết tôi có thực sự ở trong tình yêu với Thiên Chúa không, tôi chỉ cần nhìn xem tôi đã làm công việc Ngài đã trao phó cho tôi như thế nào – Có bao nhiêu tình yêu tôi đã đặt vào trong công việc của tôi.
“Bạn thấy đó, Vấn đề của ơn không hệ tại ở chính công việc – ơn gọi của chúng ta là trọn thuộc về Ðức Giêsu với ý thức rằng, không gì có thể tách lìa chúng ta ra khỏi tình yêu của Người.
“Ơn gọi không phải là những gì chúng ta đang làm, hay chúng ta làm được bao nhiêu việc, mà là bao nhiêu tình yêu tôi đã đặt vào công việc tôi đã được trao phó.
“Những gì bạn đang làm, có thể tôi không làm được… Những gì tôi đang làm, có thể bạn không làm được, nhưng tất cả chúng ta đều có thể làm cái gì đó thật đẹp cho Thiên Chúa”. 

(Trích dịch từ “The best Gift is Love / Meditations by Mother Teresa”, tr.113-116).



GIÁO HỘI CẦN THIẾT ra sao
Cho Những Ai MUỐN ĐƯỢC CỨU ĐỘ?
-----------------------------------------------
Hỏi: Có thể sống đức tin và được cứu độ KHÔNG cần đến Giáo Hội?

Trả lời: Chúa Kitô đã thiết lập Giáo Hội của Người trên nền tảng cácTông Đồ khi Chúa nói với Phêrô: “Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy,và quyền lực tử thần sẽ không thắng nỗi.” (Mt 16:18)

Chúa lập Giáo Hội như phương tiện hữu hiệu cần thiết để chuyên chở ơn cứu độ của Người đến cho muôn dân không phân biệt màu da, chủng tộc, ngôn ngữ và văn hóa.

Bởi vì “Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý.” (1Tm 2:4).

Sunday, May 4, 2014

Khiêm-Nhường và Kiêu-Ngạo

Trong tiếng Việt, có một sự trùng hợp thú vị giữa hai tánh hoàn toàn đối lập: Khiêm Nhường và Kiêu Ngạo đều viết tắt là K.N. Ai ai cũng mến người khiêm nhường và ghét người kiêu ngạo, nhưng đào luyện được tánh khiêm cho chính mình không phải dễ, vì kiêu căng hình như là bản tánh của loài người. Tác giả truyện “Tây Du Ký” muốn nêu lên tâm lý con người giống con khỉ Tôn Ngộ Không trước khi bị bắt phục là muốn bằng trời (nên tự xưng là Tề Thiên Đại Thánh). Thánh Kinh cho biết con người tuy là con cái của Thượng Đế mà lại học đòi nết xấu của Satan. Theo sách Isaia (14,12-15), Satan chính là thiên sứ Lucifer phản nghịch muốn dành quyền tể trị của Đức Chúa Trời, đã cám dỗ bà Êva ăn trái cấm mà phạm tội bất tuân.

Friday, May 2, 2014

Nguồn gốc tháng Hoa kính Đức Mẹ

Là người Công giáo tại Việt Nam, nhất là những ai đã lớn lên trong một xứ đạo miền Bắc, Trung hoặc Nam, có lẽ họ không lạ gì sinh hoạt tôn giáo trong tháng Năm, tháng Hoa Đức Mẹ.
Khi ngàn hoa xanh, đỏ, trắng, tím, vàng nở rộ trong cánh đồng, thì con cái Mẹ cũng chuẩn bị cho những đội dâng hoa, những cuộc rước kiệu, để tôn vinh Mẹ trên trời. Những điệu ca quen thuộc trìu mến bỗng nổi dậy trong tâm hồn cách thân thương, nhất là bài "Đây Tháng Hoa" của nhạc sĩ Duy Tân với điệu 2/4 nhịp nhàng:
ĐK. Đây tháng hoa, chúng con trung thành thật thà. Dâng tiến hoa lòng mến dâng lời cung chúc. Hương sắc bay tỏa ngát nhan Mẹ diễm phúc. Muôn tháng qua lòng mến yêu Mẹ không nhòa.
1. Đây muôn hoa đẹp còn tươi thắm xinh vô ngần. Đây muôn tâm hồn bay theo lời ca tiến dâng. Ôi Maria, Mẹ tung xuống muôn hoa trời. Để đời chúng con đẹp vui, nhớ quê xa vời.
2. Muôn dân trên trần mừng vui đón tháng hoa về. Vang ca tưng bừng ngợi khen tạ ơn khắp nơi. Ánh hồng sắc hương càng tô thắm xinh nhan Mẹ. Sóng nhạc reo vang tràn lan đến muôn muôn đời.

Wednesday, April 30, 2014

BẢNG LIỆT KÊ ÂN XÁ

The Enchiridion of Indulgences
(Issued by the Sacred Apostolic Penitentiary, 1968
+ Joseph Cardinal Ferretto, Titular Bishop of the Suburban Church of Sabina and Poggio Mirteto,
Originally published by Liberia Editrice Vatican, Vatican City, 1968 )
---------------------------------------------------
Tìm hiểu
ÐẠI CƯƠNG về ÂN XÁ trong GHCG
Người Công Giáo ngày nay không để ý mấy đến Ân Xá. Nhiều người, nhất là người trẻ còn tránh né đề cập đến Ân Xá vì những hiểu lầm do những tuyên truyền và chống đối của các giáo phái Tin Lành gây ra. Trong phạm vi bài này chúng tôi xin tóm lược những giáo huấn của Hội Thánh về Ân Xá để giúp chúng ta tận dụng kho tàng ơn phúc quý trọng và châu báu này.

Tuesday, April 29, 2014

SỰ TIỀN ĐỊNH CỦA THIÊN CHÚA 

TỘI LỖI CỦA CON NGƯỜI

VẤN NẠN: Tin có Thiên Chúa sẽ làm cho con người trở nên ỷ nại, chấp nhận hoàn cảnh hiện tại vì tin mọi sự xảy ra đều do Chúa định, mà không cố gắng vượt qua số phận để đạt tới một cuộc sống ấm no hạnh phúc hơn???

Kiêu ngạo – Khiêm tốn

Kiêu ngạo được cho là “ông tổ”của các loại tội. Adam và Eva phạm tội cũng chính vì kiêu ngạo muốn bắng Chúa như lời dụ dỗ của ma quỉ. Mối đại họa của kiêu ngạo chính là “không cần ai, không cần Chúa,” từ đó hậu quả nguy hại nhất của kiêu ngạo là sự cô đơn và tự tách mình ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, ra khỏi sự đùm bọc của cộng đoàn và người thân.

Kiêu ngạo – quay mặt xa Thiên Chúa
Thánh Augustine gọi tội kêu ngạo là cội rễ của mọi loại tội, vì “Kiêu ngạo làm con người xa rời Thiên Chúa, Đấng là nguồn sống mà con người phải lệ thuộc thay vì tự cho mình là nguồn sống.”[1] 

Theo thánh Thomas Aquinas, khi không muốn đặt mình dưới Thiên Chúa và trật tự mà Ngài đã tiền định cho mình, con người muốn tự quyết định và làm chủ lấy vận mệnh mình và nghĩ rằng tự mình có thể đạt tới viên mãn, hạnh phúc mà không cần Thiên Chúa. Như thế, Kiêu ngạo là những ước muốn trái với trật tự do Thiên Chúa tiền định. Tóm lại, “Kiêu ngạo chính là không muốn phục tùng thánh ý Thiên Chúa.”[2]

Sunday, April 27, 2014

ĐỐI THOẠI về ĐỨC TIN

THIÊN CHÚA CÔNG BẰNG NHÂN TỪ và HÌNH PHẠT HỎA NGỤC  

HỎI: Thiên Chúa công bằng nghĩa là gì? Nói rằng Thiên Chúa là Đấng công bằng và nhân từ vô cùng. Vậy tại sao Ngài lại nhẫn tâm phạt những người chỉ phạm một tội trọng trong giây lát, phải chịu hình khổ hỏa ngục đến muôn đời?

Friday, April 18, 2014

Tại sao gọi là Tuần Thương Khó?

Chúa nhật lễ lá, bắt đầu Tuần thánh. Lịch Phụng vụ cũng ghi là Chúa nhật tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa. Trước đây, mùa thương khó bắt đầu hai tuần trước lễ Chúa Phục sinh, tại sao bây giờ rút còn một tuần?

  

Trước cuộc cải tổ lịch phụng vụ năm 1969, thì mùa thương khó bắt đầu từ Chúa nhật thứ năm mùa chay, và như vậy kéo dài hai tuần. Mùa thương khó gây một ấn tượng khá lớn cho các tín hữu. Tất cả các tượng ảnh trong nhà thờ đều bị phủ bởi màn tím cho đến lễ Vọng Phục sinh. Nhiều nhà thờ còn căng một bức màn lớn che khuất tất cả gian thánh.

Có người giải thích là Chúa Giêsu đi trốn, bởi vì dựa trên bài Phúc âm thuật lại việc Chúa lánh mình khi dân chúng mưu toan ném đá Người. Thế nhưng với cuộc canh tân sau công đồng Vaticanô II, thì lịch phụng vụ không còn nói đến mùa thương khó nữa, mà chỉ còn Mùa Chay kéo dài cho tới lễ Phục sinh. Tuần lễ trước Phục sinh không phải là tuần Thương khó, nhưng từ ngữ “tưởng niệm cuộc Thương khó của Chúa” chỉ còn được gắn cho hai ngày: Chúa nhật lễ lá (Dominica in Palmis de Passione Domini) và thứ sáu tuần thánh (Feria VI in passione Domini). Vào hai dịp đó, phụng vụ đọc bài Thương khó: ngày Chúa nhật thì dựa theo Phúc âm nhất lãm thay đổi tùy theo chu kỳ ABC; còn ngày thứ Sáu thì luôn luôn đọc Phúc âm theo thánh Gioan.

Wednesday, April 16, 2014

BẢY DI NGÔN 

TRÊN THÁNH GIÁ CỦA CHÚA GIÊSU


Mỗi Mùa Chay Thánh đến, trong Giáo hội Công giáo có vô số những cuộc tĩnh tâm, vô số những bài viết, bài suy niệm về Mầu nhiệm Khổ Nạn. Tất cả giục lòng tín hữu sống tâm tình CẦU NGUYỆN - ĂN CHAY - CHIA SẺ.

Ở các giáo xứ trên hầu khắp nước Việt Nam, còn có những buổi Ngắm Thương Khó, những Chặng Đàng Thánh Giá, giúp cho tín hữu đi sâu vào cuộc khổ nạn của Đấng Cứu Độ đã vì yêu thương chúng ta mà chết tức tưởi đau đớn trên thập giá. BẢY LỜI NÓI TRÊN THẬP GIÁ của Chúa Giêsu Kitô vì thế được coi như di chúc thiêng liêng Người để lại cho Giáo Hội và cho mỗi môn đệ. Mỗi tín hữu đều đã nghe, suy niệm nhiều lần những lời này, nhưng đi sâu phân tích mỗi lời và tổng hợp lại, thì Paul Regard đã làm hết sức tốt, để người đọc thêm hiều biết và yêu mến, cũng như đem áp dụng vào đời sống của mỗi người. 

1. Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng đang làm (Lc 23,34)
2. Quả thật, Ta bảo với anh: Hôm nay anh sẽ được ở với Ta trong thiên đàng (Lc 23,43)
3. Thưa Bà, đó là con Bà - Đó là Mẹ của con (Ga 19,26-27)
4. Lạy Thiên Chúa tôi, lạy Thiên Chúa tôi, sao Người đã bỏ con? (Mt 27,46; Mc 15,34)
5. Ta khát (Ga 19,28)
6. Mọi sự đã được hoàn tất (Ga 19,30)
7. Cha ơi, Con phó tâm hồn của con trong tay Cha (Lc 23,46)

GIẢI ĐÁP PHỤNG VỤ

Dầu nào có thể được sử dụng lúc xức dầu khẩn cấp?

 
Hỏi:

Liệu một linh mục có thể dùng dầu parafin tại bệnh viện để rửa tội khẩn cấp, làm phép Thêm sức khẩn cấp và Xức dầu khẩn cấp cho bệnh nhân không? Đây là loại dầu không động vật thường được tìm thấy trong các bệnh viện một cách dễ dàng. Tôi tin rằng nó được chưng cất từ dầu mỏ. Liệu ba bí tích trên có thành sự khi được ban bởi dầu này không, bởi vì dầu đúng cách là không có sẵn trong trường hợp khẩn cấp?

Câu hỏi thứ hai là, nếu việc làm phép dầu là đơn giản với kinh “nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”, vì các công thức làm phép dầu không có sẵn khi khẩn cấp, thì việc ban bí tích cho người bệnh nặng có thành sự không? - J.T., Đài Loan

Wednesday, April 9, 2014


GIẢI ĐÁP THẮC MẮC
Lm. Fx. Ngô Tôn Huấn
-------------------------------------------
1- Thế nào là “bị treo chén”và “bị rút năng quyền”của một linh mục?
2- Người tân tòng có buộc phải “xưng tội”trước khi được rửa tội không?
3- Có lễ nào chỉ dành riêng cho một người xin hay không, và linh mục có được phép soạn kinh riêng cho giáo dân đọc hay không?
------------------------------------------ 

Photo: GIẢI ĐÁP THẮC MẮC  
Lm. Fx. Ngô Tôn Huấn
------------------------------------------- 
1- Thế nào là “bị treo chén”và  “bị rút năng quyền”của một linh mục?
2- Người tân tòng có buộc phải “xưng tội”trước khi được rửa tội không?
3- Có lễ nào chỉ dành riêng cho một người xin hay không, và linh mục có được phép soạn kinh riêng cho giáo dân đọc hay không?
------------------------------------------ 
Trả lời:
1- Về câu hỏi thứ nhất, xin được giải thích như sau:
Mọi linh mục giáo phận (diocesan priests)-  hay còn gọi là linh mục triều, sau khi được chịu chức, thường được giám mục của mình trao cho một thư bổ nhiệm (letter of  appointment) hay còn gọi là “bài sai”trong đó có liệt kê những năng quyền (priestly faculties) được làm như:
-  Cử hành Thánh lễ Tạ ơn (Eucharist)
-  Cử hành các bí tích rửa tội, thêm sức, hòa giải, sức dầu bệnh nhân và chứng hôn.
-  Giảng dạy giáo lý và Tin Mừng. (Gospels)

Như vậy, nếu không có thư bổ nhiệm trên, thì linh mục  không thể công khai ( publictly) cử hành các bí tích trên, dù mình có chức linh mục. Lại nữa, khi linh mục đang có năng quyền ở một giáo phận, đến chơi và lưu trú hơn một  tuần lễ  ở lãnh thổ thuộc giáo phận khác, thì cũng buộc phải xin năng quyền của Bản quyền địa phương, nếu  muốn thi hành sứ vụ linh mục như làm lễ cho bổn đạo, giải tội,  xức dầu v.v. Nghĩa là không phải cứ là linh mục thì đi đâu cũng đương nhiên được thì hành các tác vụ linh mục, dù mình có chức linh mục thực thụ., trừ trường hợp khẩn cấp  nguy tử  thì linh mục nào cũng được phép giải tội hay xức dầu cho bệnh nhân (x giáo luật 987, triệt 2)

Khi một linh mục phạm lỗi gì, khiến Giám mục của mình tạm rút hay rút vĩnh viễn  năng quyền (thí dụ  linh mục có tội về sách  nhiễu tình dục trẻ em), thì linh mục tạm thời hay vĩnh  viễn không được thi hành  mọi tác vụ linh mục ở bất cứ nơi nào trong  hay  ngoài giáo hội địa phương (giáo phận). Tuy nhiên, trong trường hợp khẩn cấp, nguy tử, thì dù bị rút hết năng quyền, linh mục vẫn được phép giải tội và xức dầu bệnh nhân như nói  ở trên..
 
Giáo dân Viêt Nam vẫn quen nghe nói linh mục bị “treo chén” nhưng đúng hơn phải nói theo giáo luật là “bị rút năng quyền.”

Treo chén hay rút năng quyền (suspension of faculties) hay nói theo giáo luật là  bị vạ huyền chức = suspension of faculties. (giáo luật số 1333) đều có nghĩa là linh mục tạm thời hay vinh viễn không được thi hành tác vụ linh mục (priestly  ministries) như giảng dạy, làm lễ, rửa tội,thêm sức, giải tội, xức dầu bệnh nhân và chứng hôn công khai ở đâu, trừ trường hợp khẳn cấp nguy tử của bệnh nhân thì linh muc vẫn phải làm nhiệm vụ, dù đang bị “rút năng quyền”.

Riêng các linh mục Dòng, nếu muốn thi hành tác vụ linh mục  trong phạm vi một giáo phận thì, ngoài năng quyền do Bề Trên Dòng  trao cho, cũng phải xin năng quyền nơi Bản quyền địa phương (giáo phận) nếu muốn làm mục vụ ở địa phương đó, theo đề nghị  của Bề Trên Dòng liên hệ.Khi năng quyền  này bị rút thì cũng không được phép thi hành năng quyền nơi cấp phát nữa.
 
2- Người Tân Tòng (catechumens) có cần phải xưng tội trước khi được rửa tội hay không?
Tôi đã có lần trả lời câu hỏi này rồi. Nay xin nhắc lại là theo giáo lý  thì người tân tòng có nghĩa là những người trên 18 tuổi, chưa từng được rửa tội,  muốn gia nhập Giáo Hội Công Giáo qua chương trình huấn luyện đặc biệt gọi là RCIA (Rites of Christian Initiation for Aduts). Người tân tòng  sẽ  được dạy giáo lý để được rửa tội, thêm sức và rước Mình Thánh Chúa lần đầu trong lễ Vọng Phục Sinh (Easter Vigil) đêm thứ bảy Tuần Thánh.

Khi được rửa tội, thì mọi tội cá nhân và tội nguyên tổ (original sin) cùng với hậu quả của tội  đều  được tha hết một lượt (x SGLGHCG số 1263). Do đó, người tân tòng không phải xưng tội cá nhân trước khi được rửa tội. Vả lại, không bí tích nào được ban thành sự  cho ai chưa được rửa tội, là cửa ngõ đi vào các bí tích khác như Thánh Thể, hòa giải, xức dầu bệnh nhân và Truyền Chức Thánh. Nghĩa là muốn lãnh nhận thành sự (validly) các bí tích trên, buộc  phải được rửa tội trước. Do đó, không bao giờ linh muc nào được trao Mình Thánh Chúa hay giải tội  cho trẻ em hay người lớn  nào chưa được rửa tội. 

Trong trường hợp nguy tử, nếu bệnh nhân muốn nhập Đạo Công Giáo để  lãnh nhận ơn cứu độ của Chúa Kitô, thì phải  dạy  những điều cần yếu về giáo lý trước khi  rửa tội cho người ấy  và  không cần bắt họ xưng tội vì phép Rửa cũng tha  mọi tội cá nhân và hậu  quả của Tội nguyên tổ như đã nới ở trên.

Như thế, ai đòi người tân tòng phải xưng tội trước khi rửa tội là không đúng theo giáo lý và  thần học bí tích (sacramental theology).

Có chăng, trong khi dạy giáo lý,  cần  giải thích rõ cho người tân tòng biết là với bí tích Rửa tội thì mọi tội cá nhân người ấy đã phạm cùng với hậu quả của tội nguyên tổ cho đến lúc được rửa tội,  thì  đều được tẩy sạch một lần khỏi mọi vết nhơ của tội. Và chiếc áo hay khăn trắng được trao cho sau khi rửa tội là dấu chỉ sự đổi mới hoàn toàn trong tâm hồn người tân tòng sau khi được tái sinh qua phép  rửa và mặc lấy Chúa Kitô là Ánh Sáng  của cây nến cầm trên tay và khăn trắng hay  áo trắng mặc trên mình.

Đây là những điều cần thiết phải dạy cho người tân tòng biết trước  khi họ được lãnh nhận ba bí tích quan trong là Rửa tội, thêm sức và Thánh Thể trong lễ Vọng Phục Sinh, hay trong dịp riêng nào đó.
 
3- Có lễ nào được dành riêng cho một người xin hay  không?
Thánh lễ Tạ Ơn (Eucharst) là  hành động phụng vụ  quan trọng nhất  diễn lại cách bí tích  trên Bàn thờ ngày nay Bữa ăn sau hết của Chúa Kitô với 12 Tông Đồ và Hy tế  đền tội mà Chúa dâng lên Chúa Cha  trên Thập giá ngày hôm sau   để một lần xin tha mọi tội   cho cả nhân loại đáng bị phạt vì tội lỗi.Chính nhờ  Hy tế đền tội này mà con người có hy vọng được cứu rỗi nhờ công nghiệp cứu chuộc vô gía của Chúa Kitô, Đấng  “đã hiến dâng mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người,” (Mt 20:28)

Vì thế, Thánh lễ Tạ ơn là đỉnh cao và là nguồn mạch  của đời sống Giáo Hội và của mọi Kitô hữu, vì  mỗi khi cử hành Thánh Lễ, Giáo hội lại một lần hiệp thông cùng Chúa Kitô dâng lời ngợi khen, cảm tạ lên Chúa Cha và xin ơn tha tội cho chúng ta ngày nay cùng thể thức mà Hy Tế đền tội xưa Chúa Kitô dâng trên thập giá để xin ơn tha tội cho toàn thể  con người.

Như vậy, mọi Thánh lễ đều là việc ca ngượi và cảm tạ Chúa Cha nhờ Chúa Kitô và trong Chúa Thánh Thần.Trong Thánh lễ có lời cầu xin của Giáo Hội cho Đức Giáo Hoàng, cho Giám mục giáo phận, cho các tín hữu còn sống (Kinh nguyện Tạ Ơn I) hay đã qua đời dù không có ai xin lễ cầu riêng..

Khi có người xin lễ cầu cho một hay nhiều linh hồn đã qua đời thì chủ tế đọc thêm tên thánh của người muốn xin cầu cho, hoặc nhớ  đến ý lễ của người  xin, như xin  ơn bình an, xin có công ăn việc làm,  hay xin khỏi bệnh tật v.v.  Nhưng không có Thánh lễ nào chỉ dành để cầu cho một ý lễ của người xin bao giờ. Vì như đã nói ở trên, dù có ai xin lễ với ý lễ riêng thì vẫn có lời cầu chung cho Đức Thánh Cha, cho giám mục giáo phận, cho  người còn sống  và cho những linh hồn cha mẹ tổ tiên và thân bằng quyến thuộc  đã qua đời.
Chỉ có sự khác bệt là dù cầu cho nhiều người nhưng linh mục chủ tế chỉ được lấy bổng lễ (mas stipend) của một ý lễ thôi. Nếu vì lý do mục vụ mà phải gom nhiều ý lễ trong một thánh lễ,  thì sau đó linh mục phải làm lễ bù cho đủ, nếu muốn hưởng trọn số bổng lễ của người xin. (x giáo luật số 948)

Tóm lại, Thánh lễ là việc thờ phượng, ngượi khen và cảm tạ Thiên Chúa mà Giáo Hội  hiệp  dâng trên bàn thờ  cùng với Chúa Kitô để xin ơn tha thứ cho người còn sống cũng như cho người đã chết trong ơn nghĩa Chúa nhưng còn đang được thanh luyện trong Luyện tội (Purgatory). Thánh lễ   là  bí tích cao trọng nhất  qua đó Chúa Kitô  lại hiện diện cách bí tích qua thừa tác viên con người là linh mục và giám mục  để diễn lại Bữa tiệc ly và Hy tế thập giá của Người để  ban ơn cứu độ cho chúng ta ngày nay cùng thể thức và mục đích  của Hy tế thập giá  trên núi Sọ xưa kia.

Do đó, không có Thánh Lễ nào chỉ dành cầu riêng  cho ai còn sống hay đã ly trần, cho dù người xin lễ có bỏ ra bao nhiêu tiền thì cũng không thể có lễ riêng cho một mình ai được.

Về cẩu hỏi chót liên quan đến việc linh mục có được phép  soạn kinh riêng cho giáo dân đọc hay không, xin trả lời ngay là mọi kinh nguyện kể cả các bài thánh ca của ai soan hay  sáng tác phải được giáo quyền địa phương duyệt xét và quyết định có cho đọc hay không  trước khi phổ biến cho giáo dân đọc chung trong nhà thờ hay ở tư gia. Các bài thánh ca cũng  vậy. Nghĩa là không ai được tự ý soan kinh và soan nhạc cho giáo dân đọc và hát trong nhà thờ  mà không có phép của bản quyền địa phương, tức Tòa Giám mục sở tại.

Đây là kỷ luật bí tích và phụng vụ mà mọi cha sở phải thi hành nghiêm chinh, vì việc thờ phượng phải tuân  theo kỷ luật chung của Giáo Hội, chứ không theo sở thích của cá nhân nào.

Cũng xin nói thêm là linh mục không nên ôm cây đàn  để  hát và kể chuyện tếu trong những dịp tiệc cưới hay gây qũy  từ thiện. Lại càng không nên làm quảng cáo thương mại cho ai như một linh mục kia đã nằm dài trên ghế để quảng cáo cho loại ghế xoa bóp này. Làm như vậy là đã tự đánh mất tư  cách của linh mục, một Đức Kitô thứ hai (Alter christus) trong  sứ vụ (ministry) và trước mắt người đời.

Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn những câu hỏi đặt ra
----------------------------------------------Trả lời:
1- Về câu hỏi thứ nhất, xin được giải thích như sau:
Mọi linh mục giáo phận (diocesan priests)- hay còn gọi là linh mục triều, sau khi được chịu chức, thường được giám mục của mình trao cho một thư bổ nhiệm (letter of appointment) hay còn gọi là “bài sai”trong đó có liệt kê những năng quyền (priestly faculties) được làm như:
- Cử hành Thánh lễ Tạ ơn (Eucharist)
- Cử hành các bí tích rửa tội, thêm sức, hòa giải, sức dầu bệnh nhân và chứng hôn.
- Giảng dạy giáo lý và Tin Mừng. (Gospels)

Như vậy, nếu không có thư bổ nhiệm trên, thì linh mục không thể công khai ( publictly) cử hành các bí tích trên, dù mình có chức linh mục. Lại nữa, khi linh mục đang có năng quyền ở một giáo phận, đến chơi và lưu trú hơn một tuần lễ ở lãnh thổ thuộc giáo phận khác, thì cũng buộc phải xin năng quyền của Bản quyền địa phương, nếu muốn thi hành sứ vụ linh mục như làm lễ cho bổn đạo, giải tội, xức dầu v.v. Nghĩa là không phải cứ là linh mục thì đi đâu cũng đương nhiên được thì hành các tác vụ linh mục, dù mình có chức linh mục thực thụ., trừ trường hợp khẩn cấp nguy tử thì linh mục nào cũng được phép giải tội hay xức dầu cho bệnh nhân (x giáo luật 987, triệt 2)

Sunday, April 6, 2014

SỐNG ĐẠO TÌM HIỂU
--------------------------
LUẬT DỰ LỄ NGÀY CHÚA NHẬT VÀ CÁC NGÀY LỄ BUỘC
ĐƯỢC QUY ĐỊNH NHƯ THẾ NÀO?
----------------------------------------
Điều răn thứ nhất trong “Sáu điều răn Hội Thánh” đã quy định: “Xem lễ ngày chúa nhật cùng các ngày lễ buộc”.

1. CÁC NGÀY CHÚA NHẬT VÀ CÁC NGÀY LỄ BUỘC CHÍNH YẾU KHÁC

Bộ giáo luật hiện hành đã ấn định các ngày lễ buộc (dies festus de precepto) như sau (Điều 1246 §1):

- Tất cả các ngày Chúa nhật là ngày cử hành Mầu nhiệm Vượt Qua theo truyền thống Tông đồ, ngày đó phải được giữ như là ngày lễ buộc chính yếu trong Giáo Hội toàn cầu.1
- Bốn lễ kính mầu nhiệm của Đức Kitô: lễ Sinh Nhật Đức Giêsu Kitô, lễ Hiển Linh, lễ Thăng Thiên, lễ Mình và Máu Rất Thánh Đức Kitô;
- Ba lễ kính Đức Maria: lễ Thánh Maria Mẹ Thiên Chúa, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm và lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời;
- Ba lễ dành cho các Thánh: lễ Thánh Giuse, lễ hai Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô, lễ Các Thánh.

Tuy nhiên, Hội Đồng Giám Mục có thể xin Tông Toà huỷ bỏ hoặc chuyển một số lễ buộc sang ngày Chúa Nhật (điều 1246 §2)

Tại Việt Nam, các Đức Giám Mục, theo Điều 2 và 1246 §, duy trì các đặc ân vẫn có đối với các lễ buộc, nghĩa là:

- Tại Giáo tỉnh Hà Nội, ngoài các ngày Chúa Nhật, chỉ buộc giữ “Tứ Quý”, tức là 4 ngày lễ trọng: lễ Giáng Sinh, lễ Chúa Thăng Thiên, lễ Đức Mẹ Lên Trời và lễ các Thánh Nam Nữ.
- Tại các Giáo tỉnh Huế và Giáo tỉnh Thành Phố Hồ Chí Minh, ngoài các ngày Chúa nhật, chỉ buộc giữ lễ Chúa Giáng Sinh.2
Ngoài ra, Giáo luật còn cho phép các Giám Mục giáo phận cũng có thể ấn định các ngày lễ buộc cho giáo phận hay một vài nơi trong giáo phận, nhưng chỉ từng lần mà thôi (Điều 1244 §2)

Saturday, April 5, 2014

Con cái ước muốn điều gì nơi cha mẹ?

Đề tài Gia trưởng tháng 1/2014: Con cái ước muốn điều gì nơi cha mẹ?
Kính thưa quý vị gia trưởng,
Chủ đề Mục vụ giáo phận Xuân Lộc năm nay, là gia đình Sống và Loan báo tin mừng với 4 trụ chính:

-  Gia đình là cộng đoàn cầu nguyện.
-  Gia đình là cộng đoàn yêu thương
-  Gia đình là cộng đoàn phục vụ sự sống.
-  Gia đình là cộng đoàn tham gia vào sứ vụ Phúc âm hóa.

Trước khi khi bước vào những chủ đề chính của giáo phận, chúng tôi mời gọi quý vị Phụ huynh dừng lại một chút để lắng nghe những ước muốn của con cái ước muốn chúng ta điều gì. Đây mới chỉ là ý kiến của con cái dựa trên khía cạnh của nhân bản mà thôi, chứ chưa đề cập tới đời sống tâm linh...

Sau đây, dựa trên các tài liệu đã tham khảo về cuộc khảo sát tiến hành ở 100.000 đứa trẻ, chúng tôi xin giới thiệu với quý vị gia trưởng 10 câu trả lời rất đáng cho các bậc sinh thành suy nghĩ trong năm sống chủ đề này.

Friday, April 4, 2014

Bài học từ các phụ nữ vô danh

Có vài phụ nữ vô danh trong Phúc Âm, và vài phụ nữ xuất hiện vài lần như Ma-ri-a (Mẹ của Chúa Giê-su), Ê-li-da-bét (chị họ của Đức Ma-ri-a, mẹ của Thánh Gio-an Tẩy Giả), Mác-ta (bạn của Chúa Giêsu), Ma-ri-a (em gái của cô Mác-ta, có thể hoặc không thể là Ma-ri-a Ma-đa-lê-na, cũng được nhắc tới vài lần).

Wednesday, April 2, 2014

GIÁO LÝ CÔNG GIÁO

Hôn nhân khác tôn giáo

Nếu anh em nào có vợ ngoại mà người đó thuận ở với mình, thì chớ rẫy vợ. Và người vợ nào có chồng ngoại mà người đó thuận ở với mình, thì đừng bỏ chồng.
Vì chồng ngoại được thánh hóa nhờ vợ, và vợ ngoại được thánh hóa nhờ người chồng có đạo
(1 Cr 7, 12-14).
Thế giới ngày nay được đánh dấu bằng những mối giao lưu nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, nhất là trong lãnh vực truyền thông đại chúng. Con số những cuộc hôn nhân giữa những người khác đạo càng ngày càng gia tăng. Đây là một trong những ưu tư đặc biệt của Hội Thánh Công giáo đối với đời sống hôn nhân và gia đình của con cái mình, vì những cuộc hôn nhân này thường gặp nhiều khó khăn do những khác biệt về niềm tin.

Sunday, March 30, 2014

Những thắc mắc và đáp án về Nước Trời

Phàm điều gì hoặc cái gì được biết rõ thì người ta mới mơ ước, khao khát. Thế nhưng không ai biết gì về Nước Trời, vậy mà ai cũng mơ ước cháy lòng. Lạ thật!

Chỉ có ba môn đệ được “nếm thử” hạnh phúc Nước Trời khi Chúa Giêsu cho họ thấy Ngài biến hình, rồi đàm đạo với ông Mô-sê và ông Ê-li-a (Mt 17: 1-8; Mc 9:2-8; Lc 9:28-36), và một vài vị thánh cũng được thị kiến về Thiên Đàng. Còn chúng ta hoàn toàn mù tịt.

Kinh thánh giúp chúng ta nhận biết Nước Trời.

Trên Nước Trời, chúng ta có kết hôn?
Chúa Giêsu nói: “Trong ngày sống lại, người ta chẳng lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời” (Mt 22:30). Mối liên kết hôn nhân là “hình bóng” của Chúa Giêsu và Giáo hội lữ hành. Trên trời không còn hôn nhân như phàm nhân nữa.

Trên Nước Trời, chúng ta có thân xác?
Thánh Phaolô nói: “Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giê-su Ki-tô từ trời đến cứu chúng ta. Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3:20-21).

Trên Nước Trời, có âm nhạc?
Có loại âm nhạc khác, không giống như nhạc thế gian. Kinh thánh có những chỗ nói tới âm nhạc. Khi Chúa Giêsu giáng sinh, các thiên thần đồng ca: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (Lc 2:14). Sách Khải Huyền cũng cho biết rằng người ta đồng ca “Bài Ca Mới” (x. Kh 5:9-13).

Thursday, March 27, 2014

GIỜ KINH TỐI trong GIA ĐÌNH (III)


Chúng ta đã tìm hiểu về những khuyết điểm của giờ kinh tối trong gia đình. Và từ những khuyết điểm ấy chúng ta phải canh tân, phải đổi mới như thế nào?



VỀ HÌNH THỨC
Trước hết chương trình phải sinh động và đầy đủ những điểm chính yếu như: cầu nguyện chung bằng kinh đọc, cầu nguyện riêng bằng những lời tự phát. Nghe và suy niệm lời Chúa, để rồi áp dụng trong đời sống cụ thể hằng ngày. Lần hạt mân côi.

Tiếp đến, thời gian phải thuận tiện để mọi người có thể tham dự đầy đủ, đừng quá sớm vì nhiều người còn vắng mặt và cũng đừng quá muộm để tránh tình trạng uể oải buồn ngủ. Đồng thời, đừng quá lâu, đừng quá kéo dài vì không thích hợp với tâm lý tuổi trẻ.

Thời gian thuận tiện nhất, đó là vào khoảng từ tám đến chín giờ tối. Và kéo từ mười lăm đến hai mươi phút là cùng. Kế đó, người lớn có thể đọc thêm, một cách riêng tư, bao lâu tùy ý.

Sau cùng là địa điểm. Nên tổ chức đọc kinh tối trước bàn thờ trong gia đình cho thật ấm cúng.

Tới đây chúng ta hãy thử nhìn lại chiếc bàn thờ trong gia đình, xem nó như thế nào?

GIỜ KINH TỐI trong GIA ĐÌNH (II)

VÀO ĐỀ
Lần trước, chúng ta đã nói tới bầu khí đạo đức trong gia đình và những ưu điểm của giờ kinh tối nơi người tín hữu Việt Nam. Lần này, chúng ta sẽ nói đến những khuyết điểm. Thế nhưng, trước khi đề cập tới những khuyết điểm, tôi xin kể lại một câu chuyện để vào đề.

Có một ông bố vợ, trong ngày cưới đã gặp chàng rể, trao cho anh ta một phong thư và nói: Đây là tiền hồi môn của con gái tôi.

Chàng rể về nhà, hớn hở mở phong thư, thế nhưng trong đó chỉ có một tờ giấy ghi những hàng chữ như sau:

- Chịu khó làm việc trị giá 100.000 đồng
- Sạch sẽ và làm bếp giỏi trị giá 100.000 đồng
- Không ăn quà vặt và không chạy theo thời trang trị giá 100.000 đồng.
- Tế nhị, dịu hiền và không bép xép chuyện của người khác trị giá 100.000 đồng.
- Đạo đức và sốt sắng trị giá 500.000 đồng.
- Cùng với số tiền mặt 100.000 đồng
- Tổng cộng hết thảy là một triệu đồng.

Ông bố vợ đã có một cái nhìn sâu sắc và đánh giá đúng mức khi cho rằng: tinh thần đạo đức là điều quan trọng trong công việc xây dựng hạnh phúc gia đình.

GIỜ KINH TỐI trong GIA ĐÌNH (I)


BẦU KHÍ ĐẠO ĐỨC
Tôi xin bắt đầu bằng một mẩu chuyện như sau. Có một anh chàng đến hỏi ý kiến cha sở về người yêu của mình. Cha sở bảo anh ta kê khai lý lịch:
- Cô ấy là người như thế nào?
Anh ta thưa lại:
- Nàng là con một ông trùm trong giáo xứ.

Cha sở lấy miếng giấy ghi một con số không vào đó.

Anh ta nói tiếp:
- Nàng ăn nói rất là có duyên cứ ngọt như mía lùi.
Lại một con số không trên mảnh giấy trắng. Anh ta vẫn không thất vọng và nói:
- Nàng đẹp ghê lắm… đẹp quỉ khóc thần sầu luôn.

Lại một con số không trên mảnh giấy trắng. Anh vẫn không thất vọng và nói:
- Nàng làm món nhậu thì thật tuyện vời, khỏi chê …

Lại một con số không nữa trên mảnh giấy trắng. Anh ta vội vã nói tiếp:
- Nàng hát rất hay, hình như có một dạo ở trong ca đoàn xứ.

Lại một con số không nữa trên mảnh giấy trắng. Anh ta suy nghĩ một lúc rôi ngâp ngừng thưa:
-Nàng đi buôn hết sẩy, chuyến nào trót lọt chuyến ấy.

Lại một con số không trên mảnh giấy trắng. Yêu lặng một lúc chàng khẽ nói:
- Suýt nữa thì con quên, nàng còn là một người đạo đức.

Cha sở bèn ghi thêm con số một vào trước những con số không và nói:
- Hãy cưới cô ấy mau lên, vì với tinh thần đạo đức, cô ấy sẽ là một tấm vé số độc đắc đấy.
--------------------------------------
Cha sở đã có một cái nhìn sâu sắc và đánh giá đúng mức khi cho rằng tinh thần đạo đức nơi mỗi cá nhân là một điều kiện quan trọng trong việc xây dựng hạnh phúc gia đình.

Wednesday, March 12, 2014

ĐỨC THÁNH GIUSE LÌA TRẦN

Đoạn văn sau đây trích nguyên văn lời Đức Mẹ mạc khải cho Thánh Nữ Agreda trong “Thần Đô Huyền Nhiệm”. Sách đã nhiều lần được Tòa Thánh công nhận. (Trích từ trang 108-113).

 Cuộc đời Mẹ cũng gương mẫu cho cuộc đời chúng con, cũng vương vấn buồn sầu. Thánh Cả Giuse tuổi chưa cao, nhưng đời vất vả. Khó nhọc đã làm Người suy kiệt sớm. Mẹ xin Thánh Cả nghỉ, hưu dưỡng để Mẹ làm việc thay mà nuôi Gia Đình. Thánh Giuse phải hàng phục lời xin và đem đồ nghề tặng cho các bạn thợ nghèo.

Trong suốt 8 năm đằng đẵng, Thánh Cả bị đóng đanh vì nhiều bịnh tật hành hạ, nào là nóng lạnh cao độ, nhức đầu như búa giáng, phong thấp cấp tính, đau buốt khắp thân mình. . .một đau khổ ngọt ngào nhưng kịch liệt là lòng Kính Mến Chúa thiêu đốt tâm hồn Người.

Mẹ bắt đầu làm việc nhiều hơn trước, đôi khi thức trắng đêm. (Suốt đời Mẹ vẫn thức từ 0 giờ đến nửa đêm cầu nguyện đến sáng). Mẹ chuyên về kéo sợi và len. Mẹ thích sống âm thầm nên nhờ người láng giềng đạo đức đem sợi đi bán và mua những thứ cần thiết về giúp Mẹ. Thiên Chúa muốn treo gương cần lao của Thánh Gia và cũng không muốn Mẹ mất công phúc giữa đời sống vật chất.

Thánh Giuse,
Vị thánh khiêm nhường và bác ái



 Thánh Frances de Sales viết rằng: “Thật không cần thiết để luôn luôn lúc nào cũng chăm chú đến tất cả mọi nhân đức để diễn tập; có thể làm gãy gập và lúng túng ý tưởng và cảm giác của bạn rất nhiều. Khiêm tốn và bác ái là những sợi dây chủ chốt; tất cả các nhân đức khác đều gắn liền vào. Chúng ta chỉ cần nắm giữ hai sợi dây này: một ở dưới đáy và một ở trên đỉnh. Sự đứng vững của tòa nhà tùy thuộc vào móng và mái của nó. Chỉ cần tập trung tâm hồn để diễn tập hai nhân đức này chúng ta sẽ không bị khó khăn đối với các nhân đức khác. Đây là những nhân đức mẹ và những nhân đức khác theo sau giống như gà con theo gà mẹ”. Dường như hầu hết các thánh của Giáo hội đều chuyển tải hai nhân đức chủ chốt này, nhưng vượt trội hơn cả phải nói đến vị đại thánh đáng kính và đáng yêu của chúng ta là thánh cả Giuse.

ÔNG THÁNH DISMAS, 

người TRỘM LÀNH

Có lẽ ít người biết ngày 25-3 là lễ Thánh Dismas (cũng viết là Dimas), trùng với lễ Truyền Tin. Thánh Dismas là ai? Đó là tướng cướp cùng bị đóng đinh với Chúa Giêsu trên Đồi Sọ, người được nhắc tới trong Phúc Âm theo Thánh Luca, và là người đã xin Chúa Giêsu nhớ đến mình khi Ngài về Nước của Ngài (Thiên đàng), trái ngược với tên trộm cùng bị đóng đinh nhưng không ăn năn sám hối, tên này lại còn cả gan thách thức Chúa Giêsu nữa. Gọi là tên trộm cho “dễ nghe” thôi, thật ra phải nói là tên cướp mới đúng.

Có hai người cùng bị đóng đinh với Chúa Giêsu, một bên phải và một bên trái (Mt 27:38, Mc 15:27-28, 32, Lc 23:33, Ga 19:18), điều mà Thánh sử Mác-cô nói là ứng nghiệm lời của ngôn sứ Isaia (Is 53:12). Theo Thánh sử Mát-thêu và Mác-cô, cả hai tên trộm đều mỉa mai Chúa Giêsu (Mt 27:44, Mc 15:32).


.

Noi gương Thánh Giuse

SỐNG NĂM NHÂN ĐỨC

Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín
Chúng ta đang ở trong tháng Thánh Giuse. Thánh Giuse là quan thày của Giáo Hội Hoàn Vũ, của Giáo Hội Việt Nam và của Giáo Xứ chúng ta. Tôi muốn cùng quý độc giả tìm học những nhân đức sống đạo trong gia đình của Ngài. Mà vì, chúng ta thuộc gia đình Việt Nam, sống đạo lý tam cương ngũ thường, nên tôi ước mong chúng ta nhìn ngắm Thánh Giuse qua các nhân đức Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, tức là những nhân đức thuộc Ngũ Thường trong nền đạo lý và luân lý cổ truyền của Việt Nam. Chúng ta lần lượt trình bày vắn gọn về mỗi nhân đức

THƯ GỞI THÁNH GIUSE

Cha Thánh Giuse kính mến,

Con mới đọc được câu chuyện này trên mạng, thấy hay hay, con kể lại cho cha nghe nhé.
Cha Gioan Tauler, là một linh mục đạo đức luôn cầu xin để gặp được người chỉ cho biết thiên đàng ở đâu. Một ngày kia, có tiếng lương tâm giục ngài ra trước cửa nhà thờ để gặp vị quân sư đó. Nhìn trước nhìn sau, cha chẳng thấy ai, ngoại trừ một người ăn mày, quần áo rách rưới, mặt mũi bẩn thỉu, hôi thối.

Cha đến gần chào người hành khất:”Chào ông, chúc ông may mắn.”

Người ăn mày thản nhiên trả lời:”Chào cha, tôi có bị rủi ro bao giờ đâu!”
- Vậy thì xin Thiên Chúa ban cho ông mọi điều sung sướng.
- Ồ, thưa cha, đời tôi chưa bao giờ thấy khổ cả!

Rất ngạc nhiên về cách nói năng của người này, cha Tauler hỏi tiếp:”Nếu Chúa bắt ông xuống hỏa ngục, ông có buồn khổ không?”

Người hành khất trả lời không cần suy nghĩ:”Nếu Chúa làm như vậy thì tôi sẽ ôm ghì lấy Chúa và đưa Chúa xuống hỏa ngục luôn. Tôi thà ở hỏa ngục với Chúa còn hơn ở Thiên Đàng mà không có Ngài”.

Monday, March 10, 2014

Phép lạ Thánh Thể Lanciano



Thánh Tích Phép Lạ Thánh Thể tại Lanciano

XEM YOUTUBE
https://www.youtube.com/watch?v=6PJ8BORx1p8

Saturday, March 8, 2014

Mùa Chay - Tuần Thánh - Những tập tục và truyền thống

Mùa Chay là mùa “nhập hạ”, mùa tịnh tâm của Giáo Hội. Mùa Chay bắt đầu khoảng một tháng rưỡi sau Mùa Giáng Sinh. Đây là một cuộc tĩnh tâm thường niên, cuộc canh tân tinh thần để đón mừng mầu nhiệm nền tảng nhất của Kitô giáo: Chúa Giêsu được Phục Sinh từ cõi chết và hôm nay Ngài đang là Đấng Kitô, Chúa chúng ta. Vì thế, nếu không hướng tới Lễ Phục Sinh, tới cuộc sống mới, Mùa Chay sẽ mất ý nghĩa. Từ những thế kỷ đầu, Kitô giáo đã hình thành nhiều tập tục, truyền thống sống động về Mùa Chay để thể hiện những ý nghĩa chính yếu này:
1. Mầu nhiệm Khổ Nạn của Chúa Giêsu.
2. Mầu nhiệm Khổ Nạn và Phục Sinh đối với người sửa soạn lãnh Phép Rửa.
3. Cuộc hoán cải trong đức tin.

Tuesday, March 4, 2014

Xé tâm hồn

(Thứ Tư Lễ Tro)
 
Lời Chúa hôm nay dùng cho cả chu kỳ phụng vụ: năm A, năm B và năm C, nghĩa là chúng ta đã từng nghe nhiều lần, ít nhất mỗi năm một lần, tức là gần bằng tuổi đời mỗi người. Ví dụ: Nếu bạn 40 tuổi thì bạn đã nghe khoảng 35 lần, trừ 5 năm còn nhỏ. Quả thật, tỷ lệ số lần được nhắc nhở “hãy xé lòng” và “đừng giả hình” không hề nhỏ so với số tuổi – dù ở bất kỳ độ tuổi nào.

Đó là hai dạng mệnh lệnh cách. Một là mệnh-lệnh-cách-xác-định và một là mệnh-lệnh-cách-phủ-định.

Sunday, March 2, 2014


LỊCH SỬ TÔN KÍNH THÁNH GIUSE

1. Thời kỳ phôi thai
Sự tôn kính Thánh Giuse có căn bản trong Phúc Âm, nhưng đã phát triển từ từ, khác nào hạt giống lâu năm mới thành cây cao bóng cả, che rợp cảnh vườn Giáo Hội.

Giêsu-Maria-Giuse, ba Ðấng liên kết chặt chẽ với nhau theo mối quan hệ gia đình hết sức tự nhiên. Không thể nghĩ tới Con, tới Mẹ mà lại không nghĩ tới Cha được.

Ngay từ những thế kỷ đầu, Giáo Hội đã công khai thờ kính Chúa Giêsu, Ðức Mẹ và các Thánh Tử Ðạo, còn Thánh Giuse, cứ theo các di tích sử, thì xem ra ít được chú trọng. Là vì ban sơ, Giáo Hội đang cần củng cố Thiên tính của Chúa Giêsu và sự đồng trinh của Mẹ Ngài. Lại cũng cần khuyến khích đức tin giáo hữu trong cơn bắt bớ bằng việc tôn kính các anh hùng tử đạo.

Bởi thế, về địa vị Thánh Giuse, Chúa Quan Phòng còn muốn để lu mờ, cho các tín điều kia được nổi bật và in sâu trước đã. Tuy nhiên, có nhiều Giáo phụ thời đó như Gioan Kim Khẩu, Giêrônimô, Augustinô đã nhiệt liệt ca ngợi quyền cao chức trọng của Thánh Giuse trong bài giảng và văn phẩm của các ngài.