Thursday, November 7, 2013

Giải đáp phụng vụ
Giờ chầu Thánh Thể được thực hiện như thế nào?
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.
Hỏi : Trong chủng viện của chúng tôi, mỗi lần chúng tôi tổ chức Giờ chầu Thánh Thể, thì Giờ này thường diễn tiến như sau: 1) Đặt Mình Thánh Chúa, hát bài O Salutaris Hostia, kinh mở đầu, 2) đọc các kinh khác, như Phụng Vụ Các Giờ Kinh, lần chuỗi, thánh ca, 3) hát Tantum Ergo, Lời nguyện Thánh thể, phép lành với Mình Thánh Chúa, cất Mình Thánh Chúa vào nhà chầu, hát bài kết thúc. Một số trong chúng tôi thích có một Giờ chầu đơn giản, thinh lặng vào buổi sáng, không có thêm các kinh nguyện. Liệu làm như thế được không, hoặc liệu đưa thêm vào vài việc đạo đức hay kinh nguyện khác có được không? - S. M. , Canada.

Đáp: Người có công cổ vũ Giờ chầu Thánh Thể hàng ngày là Tôi Tớ Chúa Đức Tổng Giám mục Fulton Sheen. Ngài thực hiện việc này, đôi khi với sự hy sinh cá nhân tuyệt vời, suốt trong hơn 60 năm.

Tuy nhiên, cần phải nhớ rằng phần lớn các giờ chầu Thánh Thể này được thực hiện trước Chúa Kitô ngự trong nhà tạm, chứ không trước Mình Thánh Chúa được đặt trên bàn thờ. Đúng vậy, nhà tạm là nơi tự nhiên cho thời gian dài của việc cầu nguyện trong thinh lặng, trước sự hiện diện của Chúa Kitô.

Đây là một sự thực hành mà nhiều linh mục vẫn tiếp tục làm ngày nay, và nhiều Giám mục khuyến khích các linh mục của mình noi theo gương này.

Giờ chầu trước Mình Thánh Chúa được đặt trên bàn thờ cũng rất được khuyến khích, nhưng các giờ chầu Thánh thể, đặc biệt là trong thời gian tương đối ngắn, là chủ yếu hành vi công khai, mà trong đó sự hiện diện của Chúa Kitô được công bố và tôn vinh.

Một trong các tài liệu đầu tiên trong lĩnh vực này là huấn thị Eucharisticum Mysterium (Mầu nhiệm Thánh thể, ngày 25-5-1967). Về giờ chầu Thánh Thể ngắn, số 62 của Huấn thị nói:

"Nếu giờ chầu Thánh Thể là ngắn, thì Hào quang hoặc Bình thánh được đặt trên bàn thờ. Nếu giờ chầu là trong một khoảng thời gian dài, thì nên dùng một bệ cao, đặt trong một vị trí nổi bật; tuy nhiên, cần lưu ý là không quá cao hoặc quá xa.

"Trong giờ chầu, tất cả cần được sắp xếp để cho tín hữu có thể tham gia chăm chú vào việc cầu nguyện với Chúa Kitô, Chúa chúng ta.

"Để cổ vũ việc cầu nguyện cá nhân, có thể đọc các đoạn trích từ Kinh Thánh, cùng với bài suy niệm hoặc bài diễn giảng Lời Chúa để giúp tín hữu hiểu hơn nữa về Mầu nhiệm Thánh Thể. Cũng cần có các phút thinh lặng thánh vào thời điểm thích hợp.

"Cuối giờ chầu, có phép lành với Mình Thánh Chúa.

"Nếu ngôn ngữ địa phương được sử dụng, thay vì hát Tantum Ergo trước phép lành, có thể hát một thánh ca Thánh Thể, theo qui định của Hội đồng Giám mục".

Ngoại trừ một số chi tiết nhỏ, tài liệu này là cơ sở cho nhiều luật sau đó có liên quan đến giờ chầu Thánh Thể. Chẳng hạn, nghi thức chầu Thánh Thể ngoài Thánh Lễ nói:

"89. Các giờ chầu ngắn nên được sắp xếp như thế nào, để phép lành với Mình Thánh Chúa diễn ra sau một thời gian hợp lý dành cho việc đọc lời Chúa, các bài hát, kinh nguyện, và một khoảng cầu nguyện thinh lặng. Còn việc đặt Mình Thánh Chúa chỉ cốt để ban phép lành là bị cấm”.

Do đó, rõ ràng là về việc chầu ngắn, chẳng hạn Giờ chầu với Mình Thánh Chúa được đặt trên bàn thờ, chủng viện nên đi theo đúng luật phụng vụ.

Về các hoạt động có thể được thực hiện trong giờ chầu, quyển "Compendium Eucharisticum" (Tổng lược Bí tích Thánh Thể), do Thánh Bộ Phượng tự và Kỷ luật Bí tích ấn hành năm 2009, đưa ra nhiều gợi ý cho các bài hát và kinh nguyện, cũng như khả năng khôi phục lại một số tập quán cũ đã bị loại ra khỏi nghi thức.

Ví dụ, Thánh Bộ đã phục hồi câu tung hô "Panem de caelo praestitisti eis. R. Omne delectamentum in se habentem" (Chúa đã ban bánh bởi trời cho nhân loại. Đáp: Bánh có đủ mọi mùi thơm ngon) sau thánh ca Tantum Ergo, hoặc bài hát khác khi ban Phép lành và trước kinh nguyện "Deus qui nobis sub sacramento.., Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã trối lại cho chúng con bí tích Mình và Máu Chúa… "

“Compendium Eucharisticum” cũng cung cấp một số kinh cầu và lời nguyện để sử dụng trong giờ chầu, chẳng hạn như Kinh cầu Thánh Tâm, Kinh cầu Máu Châu Báu, Kinh cầu Chúa Giêsu Kitô Linh Mục và Hy lễ, và Kinh cầu Iesu dulcis Memoria (Thật dịu dàng biết bao khi tưởng nhớ Chúa Giêsu) dựa trên một bài thánh ca cổ. Ngoài ra, còn có ba kinh cầu, được soạn thảo để chuẩn bị cho Đại Năm Thánh 2000: Kinh cầu Chúa Giêsu Kitô; Kinh cầu Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa và con người, và Kinh cầu Chúa Giêsu Đấng Cứu Chuộc chúng ta. Các văn bản này đã được công bố bởi Ủy ban Trung ương chuẩn bị Đại Năm Thánh. Các văn bản này có thể được tìm thấy, trong nhiều nguồn khác, trong tờ báo cơ quan chính thức của Bộ Phượng Tự, Notitiae 32 (1996) (613-618).

Tiếc thay, cho đến nay bộ sưu tập hữu ích này của các bản văn Thánh Thể vẫn chưa được dịch từ tiếng Latinh ra hầu hết các ngôn ngữ hiện đại.

Cuối cùng, những gì chúng tôi đã nói không loại trừ khả năng thời gian dài cầu nguyện thinh lặng trước Mình Thánh Chúa được đặt trên bàn thờ. Tuy nhiên, các tài liệu chính thức dự đoán khả năng này trước hết, trong bối cảnh của các giờ chầu kéo dài hoặc giờ chầu vĩnh viễn, mà trong đó mọi người thay nhau thờ lạy Chúa Kitô ngự trong Hào quang.
---------------------------------------
Nguyễn Trọng Đa - Vietcatholic News
(Zenit.org 5-11-2013)

Wednesday, November 6, 2013

Nghệ thuật làm chồng

Có lẽ không có ai lập gia đình mà lại nghĩ đến chuyện ly dị và có lẽ cũng không ai bước vào đời sống hôn nhân mà không nghĩ đến hạnh phúc. Thế nhưng tại sao đổ vỡ lại xảy ra như cơm bữa trong các gia đình? Câu trả lời duy nhất chỉ có thể là: Người ta không nắm vững được nghệ thuật làm vợ, làm chồng. Người ta chưa biết yêu. Chính vì không nắm vững được nghệ thuật ấy, cách vô tình, người ta làm khổ nhau.

Với những người chồng trẻ mới chập chững bước vào đời sống hôn nhân, một lần nữa chúng tôi xin được góp thêm một vài ý kiến về nghệ thuật làm chồng.

1. Một tạp chí về đời sống gia đình đã nêu ra bảy đức tính của một người chồng lý tưởng như sau:

a) Sự dịu dàng. Đây chắc chắn phải là đức tính mà người đàn bà quí trọng nhất nơi người đàn ông mà họ yêu thương. Có biết bao nhiêu người đàn bà than phiền rằng: chồng họ không bao giờ biết nói với họ một lời dịu dàng. Có những người chồng hễ mở miệng ra là nói những lời cộc lốc thiếu tế nhị. Dĩ nhiên, sự dịu dàng không đồng nghĩa với yếu nhược. Người đàn bà yêu sự dịu dàng nơi người đàn ông, nhưng lại muốn chồng họ phải là con người cứng rắn. Một người đàn ông lý tưởng đối với một người đàn bà phải là một con người can đảm có ý chí khi giải quyết các vấn đề, nhưng lại dịu dàng và âu yếm đối với người mình yêu.

Xây dựng một gia đình hoà hợp hạnh phúc

1. Lời Chúa: “Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13,7).

2. Cầu Nguyện :
Có hai vợ chồng nhà kia khi mới lấy nhau sống rất hòa thuận, luôn yêu thương và tôn trọng nhường nhịn nhau. Nhưng khi về già, hai người lại thường hay tranh cãi nhau : Ông nói một thì bà nói hai ba, chẳng ai chịu ai. Một hôm vào dịp giáo xứ mở tuần tĩnh tâm Mùa Chay để giúp các tín hữu dọn tâm hồn mừng đại lễ Phục Sinh.
Tháng Các Linh Hồn - Tìm Hiểu

Thiên Đàng—Luyện Ngục & Hỏa Ngục
Lm Ansgar Phạm Tĩnh
Đối với niềm tin vào Thiên Đàng—Luyện Ngục và Hỏa Ngục, người ta thường có ba thái độ:

Thứ nhất là thái độ cứng lòng tin:

  • Chẳng có Thiên Đàng, cũng chẳng có Luyện Ngục hay Hỏa Ngục như Giáo Hội Công Giáo dạy! Có chăng là có Thiên Đàng nơi trần thế này mà thôi! Chết là hết, là kết thúc, xuôi tay nhắm mắt xong là hết đau khổ, hết lo lắng và hết … nợ đời!
Chính vì không tin vào thực tại của Thiên Đàng—Luyện Ngục và Hỏa Ngục ở đời sau, cho nên họ như những con thiêu thân chỉ biết lao đầu vào ăn chơi, hưởng thụ, trác táng, hút sách, phạm pháp, làm những việc vô luân thường đạo lý… Và cuối cùng khi chán ngán cuộc đời này, khi họ chán sống rồi thì … tự tử. Chấm hết!

Thứ hai là thái độ tin vào Chúa nhưng tin một cách lệch lạc:

  • Tin vào Thiên Chúa và chỉ tin có Thiên Đàng mà thôi! Luyện Ngục và Hỏa Ngục không thể có được bởi vì Thiên Chúa là Tình Yêu (1 Ga 4:16), Ngài không bao giờ dựng nên những thứ khủng khiếp ấy để trừng phạt hay hành hạ con cái của Ngài. Luyện Ngục và Hoả Ngục là những thứ mà Giáo Hội dựng nên để hù dọa người ta mà thôi!
Vì không tin có Luyện Ngục và Hoả Ngục cho nên họ chẳng quan tâm gì đến việc đọc kinh xin lễ, và làm việc hy sinh, hãm mình … để cầu nguyện cho những người đã qua đời. “Tất cả những ai tin vào danh Đức Giê-su và chịu phép Rửa Tội thì chắc chắn được cứu rỗi, vậy cầu nguyện, đọc kinh, tham dự Thánh Lễ, hy sinh cho người quá cố để làm gì? Vô ích! Tốn thời giờ” Họ dùng Thánh Kinh để lý luận như vậy!

Bữa Ăn Thiên Ðàng Và Hỏa Ngục
Một ký giả kia được phép xuống hỏa ngục và lên thiên đàng để làm một bản phóng sự về đời sống của nhân dân tại đó. 
Sau một cuộc hành trình gay go, ký giả trên lọt được vào địa ngục đúng vào giờ ăn. Nhìn vào bàn ăn, anh ta không khỏi lấy làm lạ khi thấy trưng bày toàn sơn hào hải vị đang bốc khói hương ngào ngạt làm anh ta không khỏi nuốt nước bọt.
Nhưng lúc các kiều dân địa ngục tiến vào phòng ăn, chàng ta lại càng ngạc nhiên hơn khi thấy họ ốm o gầy mòn, chỉ còn da bọc xương, vài người đi không muốn nổi. Sự kinh ngạc tan biến khi chàng phóng viên chứng kiến cảnh họ dùng bữa. Vì muỗng nĩa rất dài buộc dính vào đôi tay không cho phép họ đưa thức ăn vào miệng, nên dù họ có cố gắng thế nào đi nữa, thức ăn chỉ đổ tháo ra đầy bàn hay rơi tung tóe xuống mặt đất. Tệ hại hơn là cảnh họ tranh giành nhau: vài người dùng muỗng nĩa để thay vì đưa thức ăn vào miệng, lại biến chúng thành những khí giới đập đánh nhau. Thật là một bãi chiến trường. Khi chuông báo giờ ăn đã mãn, họ buồn phiền rời phòng ăn, dạ dày vẫn trống rỗng.
CẦU CHO KẺ... CHẾT.
Tháng 11, Giáo hội dành riêng cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời, hay đã chết. Thế thì chết nghĩa là gì?

CHẾT SINH HỌC
Người chết là một người mà trong họ, từ khối não trung ương đến các bộ phận: hô hấp, tuần hoàn, tiêu hóa, bài tiết… cùng tất cả các “ban ngành đoàn thể” đều đồng loạt đứng im, không hoạt động nữa. Thế là họ hết sống, và ta gọi đó là cái xác chết. Và chỉ mấy giờ đồng hồ sau, các vi sinh vật sẽ hoạt động làm cho xác chết ấy dần dần thối rữa ra. Còn hồn của họ, theo niềm tin Kitô giáo, ngay khi vừa lìa khỏi xác, đã phải hay được diện kiến tôn nhan Thiên Chúa, để chịu xét xử về tất cả cuộc đời trần gian của họ. Họ sẽ được gặp Chúa, hưởng vĩnh phúc với Chúa, nếu như suốt đời họ đã băn khoăn thao thức đi tìm Người, và trung thành phụng thờ Người.

SỐNG CHO CHÚA

“Chúng ta sống là sống cho Chúa” (Rm 14,8)

Chúng ta đã đi đến phần cuối cùng của thư Rôma. Bài này cũng là bài kết thúc một loạt các đề tài suy niệm rút ra từ lá thư quan trọng này của Phaolô. Vì những bài trên khai triển đã khá dài, nên bài này xin được vắn tắt hơn.

 Trong phần cuối thư Rôma, Phaolô viết: “Không ai trong chúng ta sống cho chính mình, cũng như không ai chết cho chính mình. Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy, dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa.Vì Đức Kitô đã chết và sống lại, chính là để làm Chúa kẻ sống cũng như kẻ chết” (Rm 14,7-9).


Theo văn mạch, thánh Tông đồ đang đưa ra những lời khuyên thực tế về một vấn đề đặc biệt, liên hệ đến nố lương tâm về kiêng cữ trong ăn uống. Đột nhiên, ngài đổi giọng, nói lên những lời lẽ khác hẳn, những lời lẽ trịnh trọng, làm chúng ta liên tưởng đến một loại tuyên tín khi chịu phép Rửa Tội, hoặc như một thánh thi ca ngợi Đức Kitô, ứng khẩu đột xuất. Những lời này vượt quá vấn đề bình thường của cộng đồng tín hữu Rôma, mang một ý nghĩa phổ quát, bao trùm tất cả đời sống kitô giáo.

Tuesday, November 5, 2013

Tại sao sợ Hỏa ngục?  

Chúng ta biết ơn về ánh sáng chói ngời của Thiên Chúa đã soi đường cho chúng ta theo hướng dẫn tâm linh của Giáo hội.

Trong cuốn “The Fulfillment of All Disire” của tác giả Ralph Martin đã cung cấp một kho tàng vô giá cho những người khao khát đào sâu mối quan hệ với Thiên Chúa. GS Ralph Martin là trưởng tổ chức Renewal Ministries, một tổ chức có mục đích canh tân Giáo hội và loan truyền Tin Mừng qua nhiều hoạt động ở hơn 30 quốc gia. Ông cũng là Giám đốc Chương trình Bồi dưỡng Thần học trong việc truyền bá Tin Mừng kiêm giáo sư Thần học tại Đại chủng viện Thánh Tâm của TGP Detroit. Ông có bằng tiến sĩ thần học của ĐH Angelicum tại Rôma.  

 Tháng 12-2011, ĐGH Biển Đức XVI đã bổ nhiệm GS Ralph Martin làm cố vấn cho Hội đồng Giáo hoàng về việc “Loan báo Tin Mừng cách mới” (New Evangelization), nhiệm kỳ 5 năm. Ông cũng đã được bổ nhiệm làm chuyên viên trợ giúp các giám mục trong Công nghị năm 2012 về Tân Phúc Âm hóa. Ông cũng đã viết nhiều bài và nhiều sách, chẳng hạn là cuốn “The Urgency of the New Evangelization: Answering the Call” (2013), “Will Many Be Saved? What Vatican II Actually Teaches and Its Implications for the New Evangelization” (2012) và “The Fulfillment of All Desire: A Guidebook for the Journey to God Based on the Wisdom of the Saints” (2006). Hiện nay, ông và vợ, bà Anne, sống tại Ann Arbor, Michigan, USA.

Khi dạy học về việc “Tân Phúc Âm hóa”, GS Ralph Martin cho biết: “Tôi bị hút vào cách Chúa Giêsu và các tông đồ thường đưa ra sứ điệp không chỉ tích cực loan báo Tin Mừng bằng cách hy sinh mà còn tìm cách được ơn cứu độ cho cả thế giới, nhưng cũng có những hậu quả xấu của sự kinh suất – tức là hỏa ngục. Nhưng tại sao chúng ta sợ nói tới hỏa ngục?”.
Hộ giáo
Thiên Đàng và Hỏa Ngục
Bên cạnh ý niệm Thiên Chúa, thì ý niệm thiên đàng là một ý niệm lớn nhất đi vào trong tâm tưởng nhân loại. Nếu thời nay nó bị chối từ và bị công kích hơn trong quá khứ, thì các người hộ giáo ngày nay cần phải giải thích và bảo vệ ý niệm này tốt hơn thời xưa và chắc chắn không để nó trôi đi hay phớt lờ nó.

Thậm chí có một điều khó để bảo vệ hơn là ý niệm thiên đàng là ý niệm hỏa ngục. Thực vậy, hỏa ngục là một học thuyết Kitô giáo khó bảo vệ nhất, một gánh nặng nhất để tin và là điều đầu tiên đáng loại bỏ. Sự phê phán chống lại nó dường như rất mạnh, và những người tin nó dường như không thể chịu nổi.

Trọng tâm của chương này là giải đáp những công kích của những người vô tín chống lại thiên đàng và hỏa ngục.

Thiên đàng
Chúng tôi liệt kê dưới đây mười bảy vấn nạn về ý niệm thiên đàng. Ý định của chúng tôi là không cung cấp một thần học về thiên đàng, cũng không cho thấy một bức tranh thiên đàng hướng đến những khát vọng hay những soi sáng mang tính cá nhân. Còn rất nhiều điều cần phải nói sau khi trả lời những câu hỏi này

Monday, November 4, 2013


Trao, phong, truyền?
Lm. Stêphanô Huỳnh Trụ

Khi kết thúc khoá huấn luyện ở các đại chủng viện, thường có những đợt truyền chức phó tế và linh mục. Nghi thức truyền chức thánh thường được cử hành trong thánh lễ, nên lễ ấy được gọi là thánh lễ truyền chức. Đề cập đến các thánh lễ này, chúng ta thấy có nhiều cách nói khác nhau: Lễ truyền chức, lễ phong chức, lễ trao thừa tác vụ. Vậy giữa 3 động từ: truyền, phong và trao, từ nào phù hợp hơn?

Chúng tôi tìm thấy những thông tin này: “Thánh lễ phong chức linh mục tại Giáo phận Phan Thiết ngày 25-4-2013”[1]; “Nghi thức trao thừa tác vụ linh mục” trong bài “Chút gì đọng lại sau ngày lễ trao tác vụ phó tế và linh mục”[2]; “Thánh lễ trao thừa tác vụ linh mục” trong bài “Thánh lễ phong chức phó tế và linh mục tại Dòng Tên Việt Nam”[3]; Ngày 23-2-2013 “Thánh lễ trao thừa tác vụ phó tế cho 14 tu sĩ Dòng Đa Minh và 5 tu sĩ Tu hội Truyền giáo Thánh Vinh Sơn”[4]...

Sunday, November 3, 2013


NHỮNG CÂU CHUYỆN CỦA ĐGM BÙI TUẦN

ÁNH SÁNG và BÓNG TỐI

Tôi đi chợ. Chợ có nhiều chỗ buôn bán lớn nhỏ, bày bán đủ loại hàng, với đủ thứ giá. Tôi phải biết lựa chọn. Sao cho đúng nhu cầu. Sao cho đúng khả năng. Sao cho hợp với khu xóm, địa phương.
Tôi sống giữa đời. Đời ví như cái chợ bao la. Tôi phải biết chọn người để tin, biết chọn nghề để sống, biết chọn những nơi để xây dựng liên quan, biết chọn lời để nói, biết chọn thời để làm. Chọn lựa nào cũng đòi phải đắn đo.
Để biết đắn đo, tôi phải có một trí óc biết suy nghĩ trên những dữ kiện cần thiết.
Từ cuộc sống đời thường đến cuộc sống đạo, và cuộc sống tu trì, mục vụ, truyền giáo, việc biết chọn lựa phải tiến cao hơn mãi về thông minh và hợp thánh ý Chúa.
Trên đường tiến về thông minh và hợp thánh ý Chúa cho các lựa chọn, tôi rất cần một yếu tố. Yếu tố đó là ánh sáng của Chúa. Hay nói một cách chặt chẽ hơn, ánh sáng đó chính là Chúa Giêsu.
Người đã phán: "Thầy là ánh sáng đến trong thế gian. Bất cứ ai tin vào Thầy, thì sẽ không ở lại không bóng tối" (Ga 12,46).
Cuộc đời của tôi được soi sáng bởi Lời Chúa phán trên đây. Nhưng không phải vì thế mà tôi đã luôn tránh được những bóng tối. Trái lại, bóng tối vẫn chen vào cuộc đời tôi. Xung đột giữa ánh sáng và bóng tối diễn ra thường xuyên gay gắt.
Ở đây, tôi chỉ xin chia sẻ đôi chút về các thứ bóng tối mà tôi phải đối phó.
Chia sẻ của tôi dựa vào kinh nghiệm bản thân nhiều hơn là lý thuyết.
Có ba loại bóng tối đáng để ý thường ảnh hưởng đến đời sống đạo.

Cậu bé “cả gan” ngồi vào ghế Giáo hoàng

Một cậu bé đã “đánh cắp” diễn đàn của Giáo hoàng Francis khi ngài đang phát biểu tại Vatican vào tuần này. Cậu bé đã chạy lên sân khấu ôm riết lấy chân ngài và có lúc còn “cả gan” ngồi cả vào ghế của ngài.

 Cậu bé “cả gan” ngồi vào ghế Giáo hoàng 
Sự việc diễn ra vào tuần này, khi Giáo hoàng đang phát biểu trước các gia đình Công giáo từ trên khắp thế giới tề tựu về Vatican.
THA NHÂN LÀ HỎA NGỤC: 
LÀM SAO HÓA GIẢI?

 Từ “NGƯỜI KHÁC LÀ HỎA NGỤC”... 

“Tha nhân là hỏa ngục” là câu nói nổi tiếng của triết gia hiện sinh Jean-Paul Sartre người Pháp thế kỷ 20. 
Đôi khi tôi cũng tức giận vợ con, đồng nghiệp, đồng đạo. Lúc ấy thấy họ dễ ghét nhường bao. Tức họ quá, tôi phạm tội chửi thề. Có khi tức khí cành hông, tôi xuất chưởng ra chiêu "thượng cẳng chân hạ cẳng tay".  Nặng hơn thì chia tay, ly thân, ly dị vợ. Ở cơ quan thì tố cáo người ấy hoặc đâm sau lưng cho nó thân bại danh liệt. Ở nhóm đạo thì tôi sẽ bỏ nhóm để khỏi nhìn thấy cái mặt mẹt. Ở dòng tu, chịu không thấu cái hỏa ngục ấy thì về với thế gian. 
Báo Tuổi Trẻ số ra ngày 1/8/2013 đưa tin: Bác sĩ CŨNG đánh nhau (trong bệnh viện). 
Ở Vatican, người phục vụ Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI từng gây nỗi đau lớn lao cho Ngài. 
Chiến tranh khắp nơi trên thế giới, chiến tranh liên miên.
Bất công tràn lan. 
Làm người Việt Nam lúc này, là phải thấy và phải chịu đau khổ vì có rất nhiều "hỏa ngục" trong kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, pháp luật (?). 
Khi lòng ta xốn xang coi người khác là hỏa ngục thì chính ta một ngày nào đó cũng trở thành hỏa ngục! (vì ta cũng là “tha nhân” với người khác). 
Vậy, phải tập coi người khác là ngôi vị để tránh được ma quỉ trong lòng ta.

đến... “NGƯỜI KHÁC LÀ NGÔI VỊ” 
Thời xưa Vua là “ngôi” vua cao nhất của quyền lực và danh vọng.
Con người là một “ngôi” cao quý nhất vì: "Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa" (St 1, 27). 
Sách Tóm lược Học thuyết Xã hội Giáo hội Công giáo số 109 khẳng định: "Con người là một ngôi vị do Chúa tạo dựng để liên hệ với Ngài, chỉ trong mối liên hệ này, con người mới tìm được sự sống, mới thể hiện chính mình và hướng về Thiên Chúa một cách tự nhiên". 
Linh mục John A. Hardon trong Tự điển Công Giáo cho ta thấy người "ngôi vị" là người có lý trí, trí khôn, cá tính, trách nhiệm và quyền hạn đặc biệt. 
Tổng Giám mục Jean-Louis Bruguès trong Tự điển Luân lý Công giáo nhấn mạnh rằng, người "ngôi vị" có hai khả năng: khả năng đón nhận Thiên Chúa và khả năng hiểu biết và yêu thương. 
Vậy phải xử sự thế nào khi thấy người khác tạo "hỏa ngục" cho mình? 

 Vũ khí phản công: CÔNG BẰNG - LIÊN ĐỚI - YÊU THƯƠNG 
Có khi dường như ta thấy họ tạo hỏa ngục cho xã hội, giáo hội, cộng đoàn, nhóm.
Giáo huấn Xã hội dạy ta phải dám "tố cáo, đề nghị, dấn thân" (Sđd, 6) khi thấy có vi phạm công bằng và tình yêu. Ta là ngôi vị mà, ta có trách nhiệm. "Nhân loại phải cùng nhau gánh lấy trách nhiệm".
Sách Tóm lược học thuyết Xã hội Giáo hội Công giáo số 201 mời gọi ta "tôn trọng những hình thức cổ điển nhất của công bằng: công bằng giao hoán, công bằng phân phối, công bằng pháp lý. Càng ngày người ta càng coi trọng công bằng xã hội". 
Vậy để phá cái vòng lẩn quẩn oan nghiệt “tha nhân là hỏa ngục với ta, ta là hỏa ngục với tha nhân” đang tràn lan trong lòng người và tàn phá xã hội, chúng ta phải thực hành khẩn cấp nhân đức công bằng, liên đới và yêu thương (vì kẻ gây hỏa ngục cũng là các ngôi vị có lý trí, trách nhiệm, tự do, có khả năng yêu thương và hiểu biết). 
Giống như ba anh em vườn Đào kết nghĩa, công bằng cũng cần liên thủ bộ ba: "Tự một mình, công bằng không thôi thì chưa đủ, phải mở ra cho công bằng chân trời mới về liên đới và yêu thương" (Sđd, 203). 
Vậy những người ưu tư công lý phải ứng phó, hóa giải với hỏa ngục (trước nhất ở trong lòng mình “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng!”) bằng bộ ba công bằng, liên đới và yêu thương:
       ·Lấy công bằng hóa giải bất công;       
       ·Tạo dựng các “cơ cấu liên đới” để ứng phó với các “cơ cấu của tội”;
       ·Và đem yêu thương vào nơi oán thù. 
Đức Giáo hoàng Gioan XXIII nói: “Tôi phải sửa nơi tôi tật xấu mà tôi thấy khó chịu nơi người khác”. Ngài là mẫu gương hàng ngày cho tôi noi theo.
 -----------------------------------------------------
Tác giả:  Minh Hiền
(Trích tập san GHXH tập 10) 

Saturday, November 2, 2013

LỜI CHA DẶN CON GÁI
----------------------------
(Riêng tặng GL,TK, DN và MH)

Có ai khen con đẹp. Con hãy cảm ơn và quên đi lời khen ấy. Có ai bảo con ngoan. Hãy cảm ơn và nhớ ngoan hiền hơn nữa. ***...
 
Photo: LỜI CHA DẶN CON GÁI
----------------------------
(Riêng tặng GL,TK, DN và MH)
Có ai khen con đẹp. Con hãy cảm ơn và quên đi lời khen ấy. Có ai bảo con ngoan. Hãy cảm ơn và nhớ ngoan hiền hơn nữa. ***...
Với người òa khóc vì nỗi đau mà họ đang mang. Con hãy để bờ vai của mình thấm những giọt nước mắt ấy.
Với người đang oằn lưng vì nỗi khổ. Con hãy đến bên và kề vai gánh giúp.
Người chìa tay và xin con một đồng. Lần thứ nhất con hãy tặng họ hai đồng. Lần thứ hai hãy biếu họ một đồng. Lần thứ ba con phải biết lắc đầu. Và đến lần thứ tư con hãy im lặng, bước đi.
Con hãy biết khen. Nhưng đừng vung vãi lời khen như những cậu ấm cô chiêu vung tiền qua cửa sổ.
Lời chê bai con hãy giữ riêng mình.
Nụ cười cho người. Con hãy học cách hào phóng của mặt trời khi tỏa nắng ấm,.
Nỗi đau. Con hãy nén vào trong.
Nỗi buồn. Hãy biết chia cho những người đồng cảm.
Đừng khóc than - quỵ lỵ - van nài. Khi con biết ngày mai rồi sẽ đến - có bầu trời, gió lộng thênh thang.
Con hãy đưa tay. Khi thấy người vấp ngã.
Cần lánh xa. Kẻ thích quan quyền.
Bạn. Là người biết đau hơn nỗi đau mà con đang có.
Thù. Là người quặn đau với niềm vui mà con đang có.
Chọn bạn sai. Cả đời trả giá.
Bạn hóa thù. Tai họa một đời.

Con hãy cho. Và quên ngay.
Đừng bao giờ mượn. Dù chỉ một que tăm, sợi chỉ.
Chớ thấy vui khi mình thanh thản trước điều cần nghĩ. Sự thanh thản chỉ có ở người vô tâm.
Đừng sợ bóng đêm. Đêm cũng là ngày của những người thiếu đi đôi mắt.
Đừng vui quá. Sẽ đến lúc buồn.
Đừng quá buồn. Sẽ có lúc vui.
Tiến bước mà đánh mất mình. Con ơi, dừng lại.
Lùi bước để hiểu mình. Con cứ lùi thêm nhiều bước nữa. Chẳng sao.
Hãy ngước nhìn lên cao để thấy mình còn thấp.
Nhìn xuống thấp. Để biết mình chưa cao.

Con hãy nghĩ về tương lai. Nhưng đừng quên quá khứ.
Hy vọng vào ngày mai. Nhưng đừng buông xuôi hôm nay.
May rủi là chuyện cuộc đời. Nhưng cuộc đời nào chỉ chuyện rủi may.
Hãy nói thật ít. Để làm được nhiều - những điều có nghĩa của trái tim.
Nếu cần, con hãy đi thật xa. Để mang về những hạt giống mới. Rồi dâng tặng cho đời. Dù chẳng được trả công.
Những điều cha viết cho con - được lấy từ trái tim chân thật. Từ những tháng năm lao khổ cuộc đời. Từ bao đêm chơi vơi giữa sóng cồn. Từ bao ngày vất vưởng long đong.
Cha viết cho con từ chính cuộc đời cha. Những bài học một đời cay đắng.
Cha gởi cho con chút nắng. Hãy giữ giữa lòng con. Để khi con cất bước vào cuộc hành trình đầy gai và cạm bẫy. Con sẽ bớt thấy đau và đỡ phải tủi hờn.

Đừng hơn thua làm gì với cuộc đời, con ạ.
Hãy để chị, để anh giành lấy phần họ muốn.
Con hãy chậm bước dù là người đến muộn.
Dù phần con chẳng ai nhớ để dành !
Hãy vui lên trước điều nhân nghĩa.
-----------------------------
-AT-
PHS chuyểnVới người òa khóc vì nỗi đau mà họ đang mang. Con hãy để bờ vai của mình thấm những giọt nước mắt ấy.
Với người đang oằn lưng vì nỗi khổ. Con hãy đến bên và kề vai gánh giúp.
 
Người chìa tay và xin con một đồng. Lần thứ nhất con hãy tặng họ hai đồng. Lần thứ hai hãy biếu họ một đồng. Lần thứ ba con phải biết lắc đầu. Và đến lần thứ tư con hãy im lặng, bước đi.
 
Con hãy biết khen. Nhưng đừng vung vãi lời khen như những cậu ấm cô chiêu vung tiền qua cửa sổ.
Lời chê bai con hãy giữ riêng mình.
Nụ cười cho người. Con hãy học cách hào phóng của mặt trời khi tỏa nắng ấm,.
 
Nỗi đau. Con hãy nén vào trong.
Nỗi buồn. Hãy biết chia cho những người đồng cảm.
Đừng khóc than - quỵ lỵ - van nài. Khi con biết ngày mai rồi sẽ đến - có bầu trời, gió lộng thênh thang.
ĐỐI THOẠI TRONG VĂN HÓA VIỆT NAM
1. Ý Nghĩa Về Tính Người
Đặc biệt, trong văn hóa Việt Nam, chữ  “Nhân” với nghĩa là “Tính Người.”  Bao gồm chữ “Nhị” và bộ “Nhân đứng”.  Tính người bộc lộ trong quan hệ giữa hai người. 
L. Pheurbach từng viết: “Con người cá thể không chứa bản chất con người ở trong mình…  Bản chất con người chỉ bộc lộ trong giao tiếp, trong thể thống nhất giữa con người với con người.  Con người để cho mình chỉ là con người theo nghĩa thông thường; còn con người trong giao tiếp với đồng loại, trong sự thống nhất giữa Tôi với Anh mới chính là Thượng Đế.”[1]
Đối thoại làm con người trở nên giống Thượng Đế. 

Tính người và tính Thượng Đế được tăng cường, khi tính cộng đồng lại là một trong những đặc trưng văn hóa của Người Việt.  Do tính cộng đồng, người Việt Nam rất thích đối thoại.  Năng lực ăn nói được người Việt xem là tiêu chuẩn hàng đầu để đánh giá con người:

“Vàng thì thử lửa, thử than; chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời.”
KINH CẦU CÁC THÁNH CHẲNG HỀ ĐƯỢC PHONG

Lễ các Thánh nam nữ 1/11/05, nhà thờ Ba Chuông chật cứng người là người.
Trong Thánh lễ, cha giảng La Vinh đã chia sẻ với cộng đoàn một kinh cầu các Thánh "kiểu mới" do cha Giuse Tiến Lộc, DCCT, gửi tặng.


-------------------------------------------------
"…Các thánh không hề chấp nhất ai – Cầu cho chúng con.
Các thánh không hề nói xấu ai – Cầu cho chúng con.
Các thánh không hề nghĩ xấu cho bất cứ ai – Cầu cho chúng con.
Các thánh không giận dữ oán hờn ai – Cầu cho chúng con.
Các thánh không hề nói tục chửi thề – Cầu cho chúng con.

Thursday, October 31, 2013

GẶP GỠ ơn CỨU ĐỘ
(Luca 19: 1-10 – CN XXXI TN - C)
1.- Ngữ cảnh                  
Phần thứ tư (phần cuối của hành trình lên Giêrusalem) được tác giả Luca trình bày trong phân đoạn 18,15–19,28: phần này tương ứng với bài tường thuật về hành trình của các Tin Mừng Nhất Lãm. Nhưng trong khối chất liệu này, ngài thêm vào câu truyện cuộc gặp gỡ của Đức Giêsu với ông Dakêu, thủ lãnh người thu thế ở Giêrikhô. Ngài thấy khối người bị đẩy ra bên lề xã hội Paléttina này cũng là “cái đã mất” mà Đức Giêsu đến để cứu. 
2.- Bố cục             
Bản văn có thể chia thành năm đơn vị:
1) Ghi chú về chuyến đi của Đức Giêsu (19,1);
2) Giới thiệu Dakêu trong quan hệ với Đức Giêsu (19,2-4);
3) Đức Giêsu chủ động gặp Dakêu (19,5-7):
- Đề nghị của Đức Giêsu (cc. 5-6),
- Phản ứng của dân chúng (phản đối Đức Giêsu) ( c. 7);
4) Dakêu chủ động hoán cải (19,8-9):
- Đề nghị của Dakêu (c. 8),
- Phản ứng của Đức Giêsu (trả lời cho dân chúng) (c. 9);
5) Ghi chú về sứ mạng của Đức Giêsu (việc Ngài “đến”) (19,10).
3.- Vài điểm chú giải
- Giêrikhô (1): Giêrikhô là chặng cuối trước khi “lên” Giêrusalem. Thành này nằm kề ranh giới miền Pêrê, dọc theo một tuyến đường giao thông quan trọng, là một điểm chiến lược mà đế quốc Rôma quan tâm trong việc cai trị Giuđê. Tại đây người ta dễ gặp các nhân viên của đế quốc hoăc các sĩ quan, binh lính Rôma.
- Dakêu (2): Tiếng Híp-ri là zakkai, có nghĩa là “trong sạch và vô tội” (x. Er 2,9; Nkm 7,14).
- người thu thuế (2): x. 3,12. Tên gọi này dịch từ tiếng Hy Lạp telônês (do từ telos có nghĩa là “thuế”); La-tinh: publicanus (*); pháp: collecteur d’impôts, Anh: tax collector. Nền hành chánh Rôma qui định nhiều loại thuế: thuế thổ trạch, thuế động sản, thuế gián thu, đặc biệt đánh trên việc nhập cảng muối. Những “người thu thuế” thường được giao cho nhiệm vụ thu khoản thuế cuối cùng này. Vì thế họ thường có mặt tại các trạm quan thuế (Caphácnaum: Mc 2,14; Giêrikhô: Lc 19,2). Vì do nghề nghiệp, họ phải tiếp xúc thường xuyên với mọi hạng người, kể cả người ngoại giáo, nên họ bị coi là những người ô uế. Quy định mức thuế là quyền của chính quyền, nhưng thường được người thu thuế áp dụng cách võ đoán, nên họ bị dân chúng khinh bỉ, và danh từ “người thu thuế” tương đương với “hạng tội lỗi” công khai (x. Mt 9,10-11; Mc 2,16; Lc 5,30; 7,34; 15,1; 19,2-7), hạng ngoại đạo (x. Mt 18,17; 21,31), và hạng trộm cướp (x. Lc 3,2t). Một người Do Thái đạo đức tuân giữ lề luật thì chẳng có gì phải giao dịch với người thu thuế. Dakêu “đứng đầu những người thu thuế” (architelônês), tức là ông phụ trách cả vùng. Như thế, Dakêu càng ở bên lề cộng đồng Do Thái hơn nữa.
- tìm cách để xem cho biết...(3): Dakêu là người giàu có và có địa vị cao, nhưng trong lòng ông vẫn không cảm thấy thỏa mãn. Hai động từ “tìm” (HL: zêtein) và “xem” (HL: idein) cho dù không có tầm mức quan trọng như trong TM Gioan, vẫn cho thấy là Dakêu không chỉ tò mò muốn “xem cho biết” (như kiểu nói của chúng ta). Đây là một “cuộc điều tra mang tính Kitô học” của một người tội lỗi công khai đối lại với thái độ lãnh đạm và thù nghịch của giới lãnh đạo dân Chúa.
- cây sung (4), tiếng Hy Lạp là sykomorea. Đây là loại cây có thân thấp, các cành ngang cứng chắc.
- phải ở lại (5): Câu này dịch sát là “hôm nay điều cần thiết đối với tôi là ở lại nhà ông”. Động từ Hy Lạp dei diễn tả một điều nằm trong chương trình, ý muốn của Thiên Chúa, nằm trong sứ mạng của Đức Giêsu (x. 2,49; 4,43; 12,12; 13,33; 15,32; 22,37; 24,44).
- mừng rỡ (6): do động từ Hy Lạp chairein. Lc là Tin Mừng về niềm vui (Dacaria: 1,14; Đức Maria: 1,28; bà con Gioan Tẩy Giả: 1,58; Đức Giêsu chào đời: 2,10; Đức Giêsu: 10,20; đám đông: 13,17...). Đây là niềm vui do Đấng Mêsia mang đến.
- nhà người tội lỗi (7): Luật luân lý cấm vào nhà kẻ tội lỗi. 
- phân nửa tài sản của tôi (8): Mức bồi thường này vượt qua mức Luật đòi hỏi (x. Xh 21,37; Ds 5,5-7; Lv 5,21-24: trả lại món tài sản đã lấy cộng với 1/5 giá trị món đó).
- Đức Giêsu nói về ông (9), có nghĩa là Đức Giêsu nói với những người khác. Tập tục Đông phương cho phép người ta tự do ra vào nhà một người và vây quanh bàn ăn của những khách được mời (x. 7,37).
- Hôm nay (9, cả c. 5; HL: sêmeron, x. 2,11; 4,21; 13,32.33; 23,43): Đây là từ ngữ quan trọng của TM Lc, có nghĩa là: Sau một thời gian dài chờ đợi và hy vọng, lịch sử cứu độ đã tới đỉnh cao hoàn tất. Tất cả những gì các ngôn sứ nói đã thành sự trong các hành động và các lời nói của Đức Giêsu (x. 4,18.19; 5,26).
Giải đáp phụng vụ
Tại sao gọi là Thánh Pius thay vì Thánh Pio?

Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.

Hỏi: Với ý tưởng nào mà ấn bản mới của Sách Lễ Rôma gọi Thánh Pio thành Pietrelcina là "Pius" thay vì “Pio”? Đúng là khi tên thánh Theresa Bông Hoa Nhỏ được khôi phục là Thérèse, chúng ta đang đi theo hướng ngược lại trong trường hợp Thánh Pio. - N. W., Costa Mesa, California, Mỹ.

Wednesday, October 30, 2013

PHÚT SUY NIỆM 
NGOÀI NGHĨA TRANG

Nghĩa trang là chính ngôi làng
Ông bà cha mẹ người thân sống nhờ
Gửi xác thân hạt bụi mờ
Chờ ngày Chúa đến vào giờ vinh quang


Xác thân sống lại huy hoàng
Hiển vinh qua khỏi cánh chung thế trần
Tháng mười một sống thật gần
Ân tình đáp trả người thân nhiều đường


Lại còn liên hệ yêu thương
Mồ côi cô độc nén hương cậy nhờ
Bao nhiêu hy lễ cầu cho
Linh hồn người chết đến bờ bình an

Thiên đàng hạnh phúc ngút ngàn
Hiển vinh chói sáng hưởng nhan Chúa TrờI
-----------------------
Ngô xuân Tịnh
SAO KHÔNG NÓI KHI EM CÒN SỐNG?


Thông thường khi sống bên nhau chúng ta ít đối đãi ân cần với nhau. Chúng ta ít dám nói những lời ngọt ngào chân thành dành cho nhau. Tất cả như đang bị chôn tận đáy lòng khiến chúng ta ngại ngùng khi bày tỏ tình yêu thương đối với người thân. Nhưng đáng tiếc, chúng ta lại thay vào đó là những đối xử vô tâm, những lời nói vô tình làm buồn lòng nhau. Để đến khi ta mất đi người thân, vĩnh viễn không còn thấy nhau nữa thì cảm xúc yêu thương được xuất phát từ trái tim mới biểu lộ. Buồn thay, người đã chết rồi không còn nghe được nữa!

Có thể những lời yêu thương, ngọt ngào như thế, lúc còn sống người thân chúng ta khao khát muốn được nghe biết bao nhiêu! Thế mà chúng ta chỉ biết cho nhau những lời chì chiết, lạt lẽo, vô tình.

Có một bài hát có câu: “… sao anh không nói khi em còn sống…”. Một câu trách thật là nhẹ nhàng nhưng cứ xoáy vào tim… Sao anh không nói khi em còn sống, bây giờ khi em không còn nữa, anh muốn nói thì đã muộn, những lời nói mà nếu lúc còn sống được nghe anh nói, em sẽ hạnh phúc biết dường nào.
THƯ GỞI CÁC THÁNH
Lm. Giuse Trần Đình Long, Dòng Thánh Thể

Kính thưa chư thánh,

Trong tình “hiệp thông giữa các thánh”, mà “các thánh” đây gồm tất cả những người mang danh Kitô hữu, kẻ còn sống cũng như kẻ đã qua đời, chứ không phải chỉ là những vị đã được Giáo Hội tuyên phong. Con xin kể cho chư vị nghe những câu chuyện thế gian đối xử với nhau khi còn sống và lúc qua đời nhé.

Trong một xóm nọ, có anh chàng “ba trợn” phá làng phá xóm, trộm cắp hút sách, đủ món ăn chơi, ai cũng ngán anh ta. Bữa kia anh đi nhậu về chạy xe ẩu tông vào xe khách, nhiều người bị thương, còn anh sau mấy ngày nằm cấp cứu thì qua đời. Nghe tin, mọi người thở phào nhẹ nhõm! Thế nhưng khi đến phúng điếu, dù nhà anh ta nghèo lắm, thay vì gởi tiền chia sẻ, bà con trong xóm cũng cố mua cho được một vòng hoa tươi với hàng chữ “vô cùng thương tiếc”!

Sunday, October 27, 2013

HỘI KÍN của PHÁI BÈ NHIỆM
Hỏi: Chúng con thường nghe nói về hội kín của phái bè nhiệm, xin cha cho biết rõ hơn. Có người nói giáo phái này đã bị Giáo Hội kết án, nhưng có người cũng nói người Công giáo được phép vào hội kín này? Lập trường của Giáo Hội có rõ ràng không?
Nguyễn Thị Tạ

------------------------------------------------
Dấu-Chấm-Hết TRÒN
Tháng ngày hối hả, đời người ngắn ngủi, thoáng chốc đã già! Gió heo may đã về… Chẳng ai dám nói mình hiểu hết mọi lẽ nhân sinh, có chăng chỉ là thêm chút kinh nghiệm để hiểu “đời là thế”, hiểu để khả dĩ chấp nhận thực tế mà sống thanh thản và thoải mái hơn...


Qua một ngày, mất một ngày. Qua một ngày, vui một ngày. Vui một ngày, lời một ngày. Ngày mai cứ để ngày mai lo, vì “ngày nào có cái khổ của ngày đó” (Mt 6:34).
 Hạnh phúc do mình tạo ra. Vui sướng là mơ ước của con người, niềm vui ẩn chứa trong những việc nhỏ nhất trong đời sống, mình phải tự tìm lấy. Hạnh phúc là cảm giác, cảm nhận, điều quan trọng là ở tâm trạng. Hạnh phúc như nước hoa, càng cho đi càng thơm lừng.
Tiền không phải là tất cả nhưng không phải không là gì. Nó có một vị trí nhất định nào đó thôi!
Nghịch-lý-thuận hay thuận-lý-nghịch? Đừng quá coi trọng đồng tiền, càng không nên quá so đo, nếu hiểu ra thì sẽ thấy nó là thứ ngoại thân: Khi sinh ra chẳng mang gì đến, khi lìa đời chẳng mang gì theo. Vua Louis để hai tay ra ngoài quan tài để cho người ta biết rằng quyền lực và giàu sang như ông là một Hoàng đế, thế mà chết cũng chỉ còn tay trắng buông xuôi!

VÀI CÂU HỎI LIÊN QUAN ĐẾN THÁNH LỄ

LM. Thêôphilê
1. «HIẾN LỄ TẠ ƠN» (EUSCHARISTIE) HAY THÁNH LỄ (MESSE)?
Hỏi: Trước đây, con được dạy là đi xem lễ, rồi tham dự Thánh Lễ. Rồi bây giờ lại nghe các cha nói là «hiến lễ tạ ơn». Vậy con phải dùng từ nào mới chính xác
 
 Đáp: Từ ngữ «Hiến lễ tạ ơn» dịch từ nguyên ngữ Hy lạp «eucharistein» (tiếng Pháp là Eucharistie, và từ gần 20 năm nay chúng ta thấy thường dùng từ Eucharistie hay liturgie eucharistique = Phụng vụ tạ ơn thay cho từ Thánh lễ = Messe). Từ Eucharistein có nghĩa là hành động tạ ơn, ca tụng và vui mừng. Đây là một trong những từ xưa cổ nhất chỉ định bữa tiệc tạ ơn của người Kitô hữu. Đó là mục đích đầu tiên họ tụ họp lại để tưởng nhớ việc Thiên Chúa làm cho ta trong Chúa Giêsu Kitô và tạ ơn Ngài về việc ấy. Từ «hiến lễ tạ ơn» vì thế mang nhiều ý nghĩa đặc trưng hơn từ «Thánh Lễ». Từ ngữ «Thánh lễ» đơn giản đến từ cụm từ bằng tiếng La tinh «Acta missa, ite in pace» = những điều chúng ta làm đã hoàn thành, hãy ra về bằng an». Và từ thế kỷ thứ VI cụm từ «missa est = hành động đã hoàn thành» được chứng nhận như công thức giải tán kết thúc Thánh lễ; và hôm nay động tính từ (participe) missa trở thành danh từ chung là «La messe = Thánh Lễ».

Wednesday, October 23, 2013

Giờ Kinh Chung Trong Gia Đình
Lm Giuse Nguyễn Hữu An 

 Thư Chung Hội Đồng Giám Mục Việt Nam 2013 đề cập đến vấn đề mục vụ gia đình.
Trong ba năm qua (2010-2013), tất cả chúng ta đã cùng nhau học hỏi và sống ý nghĩa Giáo Hội: mầu nhiệm – hiệp thông – sứ vụ. Định hướng đó và tinh thần của Năm Đức Tin cần được tiếp nối bằng nỗ lực “Tân Phúc-Âm-hóa để thông truyền đức tin Kitô giáo”, cũng là chủ đề của Thượng Hội Đồng Giám Mục lần thứ XIII, diễn ra tại Rôma, từ ngày 7-28 tháng 10 năm 2012. (Thư chung 2013, số 2).

Phá Thai (Abortion) và An Tử (Euthanasia)

An Tử có nhiều điểm giống với vấn đề phá thai. Chẳng hạn, cả hai đều liên quan đến vần đề lấy đi mạng sống của người vô tội – phá thai ngay lúc mới khởi đầu sự sống, và an tử, vào lúc cuối đời. Nhưng có một vài điểm dị biệt. Đối với việc phá thai, chúng ta thường không trông thấy hài nhi bị giết chết, trong khi an tử, nạn nhân là một người đang hiện diện, một người mà công chúng đều biết đến. Sự khác biệt này khiến cho an tử dễ hiểu hơn. Ngoài ra, về an tử, phần lớn không có những tranh luận về bản thể con người bị giết chết. Điều này khiến cho vấn đề giản dị hơn so với phá thai. 

Monday, October 21, 2013

THỎa mãn vỀ bẢn thân và tin tưỞng vàO Thiên Chúa
(Luca 18,9-14 – CN XXX - C)


1.- Ngữ cảnh
Tại điểm này của bài tường thuật cuộc hành trình (điểm cuối, theo Luca), tác giả Lc thêm vào một dụ ngôn khác liên hệ đến đề tài cầu nguyện, đó là dụ ngôn Người Pharisêu và người thu thuế (18,9-14). Có lẽ bản văn này được đặt đi theo Dụ ngôn Quan tòa bất chính vì hai bản văn giống nhau về đề tài “cầu nguyện”, chứ không vì được nói ra trong cùng một hoàn cảnh. Đoạn này làm thành một kết luận rất khớp với bài tường thuật cuộc hành trình của riêng Luca (9,51–18,14. Xem “Ngữ cảnh” của Lc 9,51-62), vì kết thúc bằng đề tài quan trọng của Lc là cầu nguyện.
2.- Bố cục
Bản văn có thể chia thành ba phần:
1) Mở (18,9);
2) Dụ ngôn (18,10-13);
3) Kết luận khuyến thiện (18,14).

Friday, October 18, 2013


SUY NIỆM LỜI CHÚA

Chủ Nhật 29 Thường Niên, Năm C
--------------------------------------------------
Bài đọc: Exo 17:8-13; 2 Tim 3:14-4:2; Lk 18:1-8.

1/ Bài đọc I: 8 A-ma-lếch đến đánh Ít-ra-en tại Rơ-phi-đim.
9 Ông Mô-sê bảo ông Giô-suê: "Anh hãy chọn một số người, và ngày mai ra đánh A-ma-lếch. Còn tôi, tôi sẽ đứng trên đỉnh đồi, tay cầm cây gậy của Thiên Chúa."
10 Ông Giô-suê làm như ông Mô-sê đã bảo: ông đã giao chiến với A-ma-lếch, còn các ông Mô-sê, A-ha-ron và Khua thì lên đỉnh đồi.
11 Khi nào ông Mô-sê giơ tay lên, thì dân Ít-ra-en thắng thế; còn khi ông hạ tay xuống, thì A-ma-lếch thắng thế.
12 Nhưng ông Mô-sê mỏi tay, nên người ta lấy một hòn đá kê cho ông ngồi, còn ông A-ha-ron và ông Khua thì đỡ tay ông, mỗi người một bên.
13 Ông Giô-suê đã dùng lưỡi gươm đánh bại A-ma-lếch và dân của ông ta.

Thursday, October 17, 2013

Góc phụ huynh
MỐI LIÊN HỆ GIỮA CON CÁI VỚI CHA MẸ

XÃ HỘI
Trong phần thứ nhất, chúng ta đã tìm hiểu về việc canh tân đời sống đạo đức trong gia đình vì theo tôi nghĩ tinh thần đạo đức chính là yếu tố căn bản, nhờ đó chúng ta sẽ tạo được một bàu khí yêu thương, sẽ bắc được một nhịp cầu cảm thông, để mọi người xích lại gần nhau hơn với một sự hòa thuận đầm ấm.

Tiếp nối vào đó, trong phần thứ hai, chúng ta sẽ tìm hiểu và cố gắng đổi mới những liên hệ trong gia đình. Trước hết là mối liên hệ giữa con cái và cha mẹ.

Nói đến bổn phận của con cái đối với cha mẹ, chúng ta nghĩ ngay tới chữ hiếu. Đúng thế, chữ hiếu đã in sâu vào tim óc người Việt Nam và đã trở thành một cái “đạo” cho mọi người sống và tuân theo.

Đi tìm nguồn gốc, chúng ta thấy quan niệm về chữ hiếu mang nặng ảnh hưởng của Nho giáo.

Thực vậy, theo Khổng tử người con trai phải có ngũ thường, năm nhân đức cần phải tập luyện, đó là nhân nghĩa lễ trí tín. Như thế, cố gắng đầu tiên của Khổng tử là dạy người ta đạt tới đạo nhân, tức là làm cho người ta lúc nào cũng ngập tràn những tình cảm hiền hòa và chân thành.

Wednesday, October 16, 2013

THIÊN CHÚA đáng tin cậy
(Luca 18,1-8 – CN XXIX TN - C)

1.- Ngữ cảnh

Sau khi đã trả lời câu hỏi của người Pharisêu về biến cố Nước Thiên Chúa đến, Đức Giêsu ngỏ lời với các môn đệ để dạy họ về ngày Con Người tỏ mình ra (Lc 17,22-37). Có những từ hoặc câu được dùng làm móc liên kết các câu văn với nhau: động từ “[tôi] đến”, được dùng ở c. 20a (“đến”) và 22b (“sẽ đến”); hai câu tương tự: “«Ở đây này!» hay «Ở kia kìa»!” (c. 21a) và “Người ở kia kìa! hay Người ở đây này!” (c. 23b).

Ngay sau lời giáo huấn mang tính cánh chung của Đức Giêsu về [các] ngày của Con Người, tác giả Lc thêm một dụ ngôn để minh định điều Người đã nói, đó là Dụ ngôn Quan tòa bất chính (18,1-8).
Cũng như có một phương diện trong lối xử sự của người quản lý bất lương được đề ra như điển hình cho lối xử sự của Kitô hữu (16,1-8a), ở đây một quan tòa bất chính được dùng như một biểu tượng của Cha trên trời. Tuy nhiên, để độc giả khỏi hiểu sai hướng, bản văn có thêm cc. 7-8a giúp điều chỉnh hình ảnh của Thiên Chúa nếu như đã bị hiểu méo mó.

Chúng ta có thể đọc Hc 35,12-20 và coi đoạn này như là bối cảnh của dụ ngôn Tin Mừng.

TÔNG HIỆU

Lm. Stêphanô Huỳnh Trụ

Vấn đề ĐẠO ĐỨC của GIỚI TRẺ ngày nay

Chúng ta đang sống trong thời đại mới - thời đại văn minh, khoa học, nhất là sự phát triển vượt bậc của ngành công nghệ thông tin; nó đã làm cho cuộc sống con người ngày được nâng cao. Đáng tiếc thay giá trị đạo đức đang bị xói mòn bởi chủ nghĩa thực dụng, duy vật chất, kéo theo đó là cả một hệ lụy. Hơn nữa, giới trẻ ngày nay chạy theo lối sống hưởng thụ, mà họ cho là hợp thời, sành điệu; họ bỏ qua những giá trị đạo đức là nền tảng cốt yếu của con người. Vấn đề này đang là thách đố cho các nhà giáo dục cũng như những người có trách nhiệm.

ƠN LINH ỨNG LÀ ƠN GÌ?

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
-------------------------------------------
Hỏi: xin cha giải đáp giúp hai câu hỏi sau đây:
1- Ơn linh ứng là ơn gì ?
2- Trong Kinh Thánh, tại sao có các bản LXX (70) và bản Vulgata?

Đây là Mình Thầy, đây là Máu Thầy 

Noel Quesson.

Năm 1263, một linh mục người Đức cử hành Thánh Lễ ở nhà thờ kính Thánh Christiana. Lúc bẻ bánh, đột nhiên, linh mục thấy Mình Thánh không còn là hình bánh, mà đã biến thành Thịt và Máu thực. Những giọt máu loang ra thấm ướt tấm khăn Thánh trên bàn thờ. Linh mục vội gấp khăn lại, nhưng gấp tới đâu, máu thấm ra tới đó, máu thấm qua 25 lần vải. Vị linh mục vừa cảm động vừa sợ hãi đến mức không tiếp tục Thánh Lễ được.

Ngài tới yết kiến Đức Giáo Hoàng Urbanô và kể lại sự kiện ấy. Đức Giáo Hoàng sai một Giám Mục đến rước Mình Thánh cùng tấm khăn đẫm máu về Tòa Thánh đặt ở nhà thờ chánh tòa cho giáo dân thờ kính. Năm sau, (1264) vào ngày mồng 8 tháng 9, Người ra sắc dụ lập lễ kính Thánh Thể trong toàn Giáo Hội như chúng ta mừng kính ngày nay.

Đã có nhiều phép lạ về Thánh Thể. Chắc Chúa Giêsu muốn củng cố niềm tin của chúng ta vào bí tích này, cho chúng ta hiểu rõ ý định của Người khi lập phép Thánh Thể, đó thực là của nuôi linh hồn chúng ta, cần thiết cho linh hồn cũng như đồ ăn cần cho thân xác. Đó thực là Thịt và Máu của Chúa, dù mắt thường không nhận rõ thực tại này.

TÀI HOA VÀ ĐỨC MẾN CỦA NGƯỜI NGÃ NGỰA TẠI DAMAS

Nếu có một câu hỏi dành cho Thánh Phaolô: “Hãy mô tả Ngài bằng 4 từ ?”, tôi sẽ chọn: tài hoa và đức mến.

Đức mến

Sự dấn thân, nhiệt tình vô điều kiện của Thánh Phaolô trong truyền rao Lời Chúa thể hiện trong cả lời nói và việc làm. Đối với Ngài, Thiên Chúa là tất cả. Các bài viết của Thánh Phaolô thường hay lặp lại các câu ngắn sau “trong Đức Kitô”, “Thiên Chúa của tôi”, “nhờ Đức Kitô”, “với Đức Kitô”, “Đức Kitô ở trong tôi”... Đối với Ngài tình yêu với Thiên Chúa là tuyệt đối.

Ngài đi truyền giáo khắp mọi nơi: Sýp, Pamphilia, Pixidia, Corinto... Bị bắt nhiều lần: lần 1 tại Giêrusalem, lần 2 tại Palestin, lần 3 tại Roma... cuối cùng là tử đạo. Ngoài việc truyền giáo trực tiếp bằng lời giảng, Ngài còn viết các thư cho các cộng đoàn lẫn các cá nhân. Tuy các đối tượng mà Ngài rao giảng là khác nhau, nhưng điểm hội tụ mà Ngài truyền tải là “Đức Kitô đã chết và đã sống lại”.

Thánh Tâm Chúa Giêsu và linh mục

Người ta kể về một loài chim có tên là bồ nông. Những con chim mang bộ lông màu trắng này thường sống gần hồ nước mặn sâu trong đất liền. Mỗi lần kiếm ăn, chúng phải bay vài chục cây số để trở về biển khơi bắt cá. Có những ngày, vì giông bão, chim không kiếm được mồi, mà đàn con thì háu đói kêu la thảm thiết, chim mẹ không cầm lòng được, đã tự dùng mỏ mổ vào ngực mình cho chảy máu, nhỏ giọt cho con ăn, thay cho lương thực bổ dưỡng. Sau “bữa tiệc” ấy, người ta thấy nơi mỏ chim mẹ còn nhỏ dòng máu tươi, và những con chim con nằm im lìm, thỏa mãn. Thấy chim con được ăn no, chim mẹ tuy đau đớn về thể xác mà trong lòng vẫn vui. Vì thế, hình ảnh chim bồ nông trở thành biểu tượng cho lòng mẹ yêu thương con thắm thiết, sẵn sàng hiến mình cho con được sống.

Hình ảnh con chim bồ nông làm chúng ta liên tưởng đến tình yêu của Thánh Tâm Chúa Giêsu. Thánh Gioan kể lại, khi Chúa Giêsu đã chết trên thập giá, những người lính lấy ngọn giáo đâm vào cạnh sườn Người, tức thì máu cùng nước chảy ra (x. Ga 19,34). Đức Giêsu đã hy sinh mạng sống mình vì tình yêu thương nhân loại. Máu và nước chảy ra là bằng chứng của một tình yêu bao la, tự hiến hy sinh cho đến cùng (x. Ga 13,1). Máu và nước cũng là tượng trưng cho bí tích Thanh tẩy và bí tích Thánh Thể. Các tín hữu được sinh ra và được nuôi dưỡng từ trái tim bị đâm thâu qua của Đức Giêsu. Cuộc khổ nạn của Đức Giêsu là suối nguồn hạnh phúc cho con người. Biết bao người đến với Thánh Tâm Chúa đã tìm được sự ủi an và sức mạnh siêu nhiên để tiếp tục bước đi dầu cuộc đời còn nhiều cay đắng. “Anh em hãy học với tôi, vì tôi hiền lành và khiêm nhường” (Mt 11,29).

Friday, October 11, 2013

ĐỨC MẸ CÓ ĐƯỢC CỨU CHUỘC HAY KHÔNG?
Hỏi: xin cha cho biết Mẹ Maria có  phải nhận  ơn cứu chuộc của Chúa Kitô hay không?

Thursday, October 10, 2013

ĐỐI THOẠI NĂM ĐỨC TIN:
Về GIÁO LÝ và NHÂN ĐỨC của TÔN GIÁO

Lm. Đan Vinh
----------------------------------------------------
VẤN ĐỀ 17: Tôn giáo chủ trương những giáo thuyết phản tiến bộ, đi ngược lại quyền lợi của lớp người nghèo khổ. Tôn giáo giảng dạy sự hèn nhát, sự tự khinh, sự ti tiện, sự sỉ nhục, sự phục tòng… là những tính nết của loài vật (Mega I,6 trang 278).

TRẢ LỜI:
Đây chẳng qua chỉ là những bài bác mang tính chủ quan, thiên kiến và sai lầm như sau:

1. Ki-tô giáo không phản tiến bộ, mà trái lại đã chiếu ánh sáng văn minh cho nhân loại:
Thực vậy, lịch sử các nước văn minh giàu mạnh ngày nay đã cho thấy: hầu như bất cứ ở đâu, khi người ta mở lòng đón nhận đức tin Ki-tô giáo, thì ở đó ánh sáng văn minh cũng ngự trị thay thế cho tình trạng tối tăm lạc hậu kém văn minh. Nhờ Thánh Kinh và giáo lý mới đem lại sự tiến bộ cho nhân loại về các lãnh vực như khoa học, văn hóa, luân lý như sau:

Wednesday, October 9, 2013

GIÁO SĨ, TU SĨ và GIÁO DÂN KHÁC, GIỐNG NHAU THẾ NÀO?
Hỏi: Xin cha giải thích thêm về vai trò và trách nhiệm của giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân trong Giáo Hội và tại sao tu sĩ không được cử hành các bí tích như giáo sĩ? 

 

Monday, October 7, 2013

VỢ CHỒNG CÓ ĐƯỢC PHÉP XƯNG TỘI CHUNG KHÔNG? 

HỎi:  
Xin cha giải thích giúp:
1- Hai vợ chồng có đước phép xưng tội chung với linh mục không?
2- Khi xưng tội, hối nhân có cần xưng các tội đã phạm hạy không cần vì Chúa đã biết hết như có vài linh mục đã nói.
 ------------------------------------------------------------------------

Thursday, October 3, 2013

Tại sao phải tránh gương xấu, dịp tội?
Hỏi: Xin Cha giải thích rõ việc sản suất, buôn bán ma túy và sách báo, phim ảnh đồi trụy, và cờ bạc, cá độ... có tội không?
-------------------------------------
LÒNG TIN và thái độ sẵn sàng phục vụ
(Lc 17:5-10 - CN XXVII TN - C)

1.- Ngữ cảnh
Đoạn văn Lc 17,7-9 [10] thường được trích như là một “dụ ngôn”. Kiểu gọi này được biện minh vì dựa trên một lời hư cấu về một cuộc gặp gỡ tưởng tượng giữa một ông chủ và những người đầy tớ làm việc ngoài đồng; lời này có tầm quan trọng đối với thế giới tôn giáo. Trong khi câu chuyện của Đức Giêsu thì hư cấu, nó lại phản ánh tương quan ông chủ-đầy tớ trong thế giới lúc ấy. Cử tọa rất hiểu những chờ đợi của ông chủ đối với đầy tớ của ông.

Tác giả Luca đã đặt dụ ngôn này ở cuối một vài lời nói không liên kết với nhau tại nguồn (cc. 1-6). Tuy nhiên, bài dụ ngôn của chúng ta bắt đầu với câu hỏi của Đức Giêsu ở c. 7, hẳn là ít ra phải liên hệ với c. 6, bởi vì câu hỏi của Đức Giêsu đi theo c. 6 mà không có chỗ nghỉ hoặc một lời dẫn nhập.

Những gì chúng ta đọc được ở cc. 5-6 liên hệ đến đức tin. Các môn đệ xin đức tin, nhưng qua câu hỏi, ta hiểu là họ đã có đức tin. Nhưng lời của Đức Giêsu dường như lại gợi ý rằng họ có ít đức tin hơn họ tưởng; thậm chí họ không có đức tin lớn bằng hạt cải, là thứ hạt giống nhỏ nhất. Lý do khiến các ông xin thêm đức tin là vì nội dung lời rao giảng trước đó của Đức Giêsu (tha thứ cho người xin tha, bất kể số lần) rất khó tuân theo. Có thêm đức tin, họ sẽ có thể vâng theo. Đức Giêsu không phủ nhận giá trị của việc gia tăng đức tin, nhưng Người quả có nghi ngờ là các ông không có đủ đức tin để vâng lời Thiên Chúa, là Chủ của họ và đối tác ký giao ước với họ.

Lời than thở này của Đức Giêsu về đức tin của các môn đệ gợi ý là có một dây liên kết với bài dụ ngôn. Nhận ra rằng các môn đệ hiểu lầm là các ông đã có đức tin, mà thật ra các ông không có một đức tin để luôn luôn vâng lời, Đức Giêsu tận dụng khái niệm “vâng lời” mà đưa ra một dụ ngôn liên hệ trực tiếp đến tư cách môn đệ: họ là những đầy tớ. Theo một nghĩa nào đó, đối với các đầy tớ, vâng theo các lệnh của ông chủ thì không khó khăn gì. Nhưng phải nhìn xa đến việc vâng lời chủ trong cả những hoàn cảnh khó khăn. Thực tại ông chủ-đầy tớ là một ví dụ tốt cho việc sống đời sống tôn giáo: đầy tớ phải hành động như đầy tớ.

Wednesday, October 2, 2013

Đơn Xin Làm... Thánh!



Lạy Chúa, con xin lỗi nếu con làm phiền Chúa...
Nhưng mới đây con bỗng nghĩ:
Chúa đang cần một thánh nhân...
Vậy con xin đến nạp đơn.
Con có thể làm thánh được đấy Chúa!

Tuesday, October 1, 2013

...... 100 câu hỏi của Chúa Yêsu

Archdiocese of Washington – Một trong những sai lầm lớn nhất của con người là khi đọc Kinh thánh như người bàng quan. Với họ, Kinh thánh là bộ sưu tập các câu chuyện và sự kiện xảy ra hơn 2.000 năm trước, do vậy chỉ đọc Kinh thánh như đọc lịch sử.