Thursday, May 25, 2023

QUÀ TẶNG BÌNH AN

Theo Tin Mừng Thánh Gio-an, vào buổi chiều của chính ngày Phục sinh, tức là ngày thứ nhất trong tuần, Chúa Giê-su phục sinh đã ban Thánh Thần cho các môn đệ.  Trong lúc các cửa nhà đều đóng kín, Chúa Giê-su hiện đến với các ông, và cùng với lời cầu chúc bình an, Chúa thổi hơi trên các ông kèm theo lời tuyên bố: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (x. Ga 20, 19-23).

Theo tác giả sách Công vụ Tông đồ, thì Chúa Thánh Thần lại đến với các môn đệ trong ngày lễ Ngũ Tuần, tức là năm mươi ngày sau lễ Vượt Qua.  Chúa Thánh Thần ngự đến, trong lúc các ông sốt sắng cầu nguyện, với sự hiện diện của Đức Ma-ri-a, Mẹ của Chúa Giê-su.

 

 Thực ra, Chúa Thánh Thần là quà tặng mà Đấng Phục sinh ban cho các môn đệ ngay từ khi Người từ cõi chết sống lại.  Ngày lễ Ngũ Tuần chỉ là sự công khai biểu dương sức mạnh của Ngài, và cũng để chứng minh những gì Chúa Giê-su đã hứa trước đó về việc sẽ xin Chúa Cha sai đến một Đấng Phù trợ.  Đây cũng là ngày Giáo Hội được giới thiệu chính thức với toàn thể thế giới.  Vì vậy mà lễ Hiện Xuống được coi như ngày khai sinh của Giáo Hội.  Giáo Hội đã được thành lập từ khi Chúa Giê-su quy tụ những ai tin vào Người, và cộng đoàn những người tin ấy đã được long trọng giới thiệu với toàn thể thế giới vào ngày lễ Ngũ Tuần.  Tính chất hoàn vũ được thể hiện qua việc thánh Phê-rô rao giảng bằng một thứ ngôn ngữ (có thể đó là tiếng Hipri), mà khách hành hương đến từ khắp nơi đều có thể hiểu được.  Chính Chúa Thánh Thần tác động nơi thánh Phê-rô, đồng thời mở lòng khách hành hương, giúp họ hiểu được Chân lý mà thánh Phê-rô rao giảng, đồng thời chấp nhận gia nhập cộng đoàn mới mẻ này.  Ngay trong ngày hôm ấy, số tân tòng đông đến ba ngàn người (Cv 2,41).

Kể từ giây phút Đấng Phục sinh ban Thánh Thần cho các tông đồ, Chúa Thánh Thần đã luôn hiện diện trong Giáo Hội.  Kể từ ngày lễ Ngũ Tuần năm ấy, Ngôi Ba Thiên Chúa luôn hoạt động nơi các tín hữu.  Ơn ban của buổi chiều ngày Phục sinh cũng chính là Lửa ngự đến trên các tông đồ.  Chúa Thánh Thần là quà tặng bình an của Chúa Giê-su ban cho toàn thế giới.

Những bài giáo lý sơ đẳng nói với chúng ta: Chúa Thánh Thần là Ngôi Ba Thiên Chúa.  Ngài bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra.  Ngài là Tình yêu.  Ngài cũng là linh hồn của Giáo Hội.  Nhờ Chúa Thánh Thần hoạt động không ngừng, mà Giáo Hội của Chúa Ki-tô đứng vững trước mọi cơn bão táp của lịch sử, để luôn trung thành với giáo huấn của Chúa Giê-su.

Những kiến thức trên đây hoàn toàn chính xác, nhưng mới chỉ là lý thuyết.  Ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống vừa nhắc chúng ta sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội, vừa mời gọi chúng ta hãy luôn sống theo sự hướng dẫn của Ngài.  “Hãy sống theo Thần Khí!”  Thánh Phao-lô nhắc đi nhắc lại với các tín hữu Ga-lát điều này.  Cuộc sống nơi thế gian là một cuộc chiến không ngừng.  Đó là cuộc chiến giữa tối tăm và ánh sáng, giữa tội lỗi và thánh thiện.  Người tín hữu muốn nên trọn lành, phải lựa chọn sống theo Thần Khí, tức là lắng nghe tiếng nói của Chúa Thánh Thần.  Giữa bao âm thanh hỗn độn ồn ào của cuộc sống xô bồ, cần có tâm hồn thinh lặng và thiện chí lắng nghe.  Chúa Thánh Thần vẫn đang ngỏ lời với chúng ta.  Ngài là “ngôn ngữ” của Thiên Chúa.  Hình lưỡi lửa đậu xuống trên các tông đồ cho thấy Ngài vừa là lửa, vừa là ngôn ngữ.  Lửa để sưởi ấm. Ngôn ngữ để dạy dỗ.

Cuộc sống là cuộc chiến đấu khắt khe và nghiệt ngã.  Để giúp các tín hữu Ga-lát hiểu rõ hơn cuộc chiến đấu này, thánh Phao-lô đã liệt kê những việc làm của xác thịt và những hoa quả của Thánh Thần.  Có đến 15 nết xấu được liệt kê, trong khi đó chỉ có 9 đức tính được gọi là hoa trái của Chúa Thánh Thần (x. Bài đọc II).  Điều này chứng minh sự nghiệt ngã và cam go của cuộc sống.  Sống trên đời, con người bị giằng xé giữa tội lỗi và ân sủng.  Không ít người đã không thắng nổi chính mình, và đã rơi vào vòng xoáy của những tham vọng trần thế, dập tắt lửa Thánh Thần để buông theo cơn lốc đam mê.

Như thế, đón nhận Chúa Thánh Thần chính là thực thi những hoa trái của Ngài trong cuộc sống cụ thể của chúng ta.  Những hoa trái này được thánh Phao-lô liệt kê như sau: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ.  Chúa Thánh Thần vừa là Đấng ban cho chúng ta những hoa trái này, đồng thời Ngài cũng chính là những hoa trái này ở mức độ hoàn hảo nhất.  Ngài chính là quà tặng bình an mà Đấng Phục sinh ban tặng cho thế giới của chúng ta.

Lễ Hiện Xuống năm nay cũng là Chúa nhật cuối cùng của Tháng Hoa kính Đức Mẹ.  Như xưa Mẹ đã hiện diện giữa các môn đệ vào giây phút Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, nay xin Mẹ giúp chúng ta đón nhận Quà tặng bình an.  Nhân loại hôm nay đang bị tổn thương trầm trọng do chia rẽ, xung đột và bạo lực.  Xin Chúa ban Thánh Thần bình an của Ngài để nâng đỡ và nối kết chúng ta.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

Sunday, May 21, 2023

THÁNG HOA KÍNH ĐỨC MẸ

1. Tên gọi nguyên thủy của tháng 5:

Tháng 5 trong lịch Gregoriana được gọi bằng tiếng La-tinh là Maius.  Các ngôn ngữ có gốc La-tinh cũng đều sử dụng chữ Maius này để đặt tên cho tháng 5 của mình: Mai (tiếng Pháp), May (tiếng Anh), Maggio (tiếng Ý), và Mai (tiếng Đức) v.v…  Nó có nghĩa là Mùa Xuân.

Theo chứng tích của một loạt các tác giả La-tinh, thì Maius là tên của một nữ thần mà người Rô-ma cổ đại rất tôn kính.  Cứ vào đầu tháng 5, tức tháng Maius, thì một vị tư tế của thần Volcanus – tức thần lửa – sẽ dâng cho nữ thần Maius những tế phẩm mới.  Cũng có thể vì thế mà nữ thần Maius còn có một tên gọi khác là “Maia Vulcani,” tức Vợ của thần Volcanus.  Người Rô-ma xưa đã đặt tháng Maius là tháng đầu tiên trong năm canh nông.  Dưới thời hoàng đế Nê-rôn (37- 68), tháng Maius đã được đổi tên thành tháng Claudius, tức tên của chính vị bạo chúa này.  Rồi dưới thời hoàng đế Commodus (161 – 192), tháng này đã bị đổi tên thành Lucius, tức tên của chính ông.  Tuy nhiên, sau khi vị hoàng đế này qua đời, tháng 05 lại được gọi theo tên nguyên thủy là Maius.

Theo lịch của người Rô-ma cổ đại, trước khi lịch Julian xuất hiện, thì tháng Maius là tháng thứ ba.  Còn theo lịch Julian, thì tháng này là tháng thứ năm với 31 ngày.  Điều đặc biệt của tháng 5 là ngày đầu tiên của tháng này luôn luôn trùng Thứ (tức ngày trong Tuần) với ngày mồng 01 của tháng 01 năm sau, ví dụ: ngày mồng 01 tháng 5 năm 2020 rơi vào ngày thứ Sáu, thì ngày mồng 01 tháng 01 năm 2021 cũng là ngày thứ Sáu.  Trong khi các tháng khác, không tháng nào có ngày đầu tiên trùng Thứ như thế.


2. Tháng  5 – Tháng Hoa Kính Đức Mẹ:

Vậy tại sao người ta lại đặt tên cho tháng 5 – tháng Maius – là tháng Đức Maria, hay tháng Hoa Kính Đức Mẹ?  Như đã nói ở trên, tháng Maius là tháng thứ ba theo lịch Rô-ma cổ đại.  Người Rô-ma thời ấy dành riêng tháng này để tôn kính Nữ Thần Mùa Xuân cũng như để mừng kính sự Đâm Chồi Nẩy Lộc sau một mùa Đông héo tàn.  Người Rô-ma xưa cũng gọi nữ thần này là Iupiter Maius.  Cũng có thời gian người Rô-ma coi ngày mồng 01 tháng 5 là ngày Lập Hạ.  Vì sự nở rộ của các loài hoa cũng như vì sức sống của Mùa Xuân, nên tháng 05 đã được coi là tháng đẹp nhất trong năm.

Còn theo truyền thống Công giáo, Đức Maria được coi là “người đẹp nhất trong giới phụ nữ.  Trong linh đạo Công giáo, Đức Maria luôn được coi là “Đóa hồng của ơn cứu độ,” hay “Mùa Xuân của ơn Cứu Độ.  Vào đầu thời Trung Cổ, các bức ảnh hay bức tượng của Đức Mẹ thường được đặt ở giữa những bông hoa, vì các loài bông, đặc biệt là bông hồng, chính là biểu tượng cho sự “tràn đầy ân sủng” của Đức Maria.  Và những bông hoa ấy cũng là biểu tượng của Địa Đàng đã mất.  Bên cạnh đó, truyền thống Công giáo cũng thường trình bày Đức Maria là “Bông Hồng không gai”, hay “đóa hoa đẹp nhất.  Trong khi đó, các bông Đuôi Diều, Hải Quỳ và Cẩm Chướng lại được dùng để làm biểu tượng cho “sự đau đớn của Đức Mẹ,” còn những bông Linh Lan thì được dùng để làm biểu tượng cho sự tràn đầy ân sủng của Người, cũng như là biểu trưng cho ơn cứu độ thế giới.

Người ta đoán rằng, việc dành tháng 5 để tôn kính Đức Maria đã có tại Tây-Ban-Nha và Bồ-Đào-Nha ngay từ hồi thế kỷ XIII.  Hồi ấy, một vài xứ đạo của hai quốc gia trên đã sử dụng tháng 05 để tổ chức những cuộc rước hoa, cũng như để đem những bó hoa đến dâng kính cho Đức Mẹ.  Còn tại Thụy Sĩ, việc dành ngày đầu tháng 5 để tôn kính Đức Mẹ đã có từ đầu thế kỷ XIV với Chân Phúc Heinrich Seuse (Henri Suzo [OP] – 1297-1366): cứ vào ngày đầu tiên của tháng 05, thì Ngài sẽ dành cho Đức Mẹ một sự tôn kính đặc biệt, và dùng những bông hoa để trang hoàng cho những bức tượng của Đức Mẹ.  Ở Ý, vào thế kỷ XVI, Thánh Philiphê Neri (1515-1595) luôn có thói quen là cứ đến ngày mồng 01 tháng 5 hàng năm thì tập trung các em thiếu nhi Công Giáo lại quanh bàn thờ Đức Mẹ để dâng cho Người những bông hoa tươi thắm và đầy sắc hương.  Có tài liệu cho rằng, ngay từ đầu thế kỷ XVII, các nữ tu Dòng Phanxicô tại vùng Napoli của Ý, đã dành cả tháng 05 như là tháng để cử hành việc tôn kính Đức Mẹ cách long trọng trong thánh đường kính thánh Clara của Dòng mình: chiều nào các Nữ Tu ấy cũng đều hát kinh kính Đức Mẹ, kết hợp với việc nhận Phép Lành Mình Thánh Chúa.  Và kể từ đó, tháng kính Đức Mẹ đã nhanh chóng lan rộng ra khắp các Giáo xứ trong vùng.  Tuy nhiên, cũng có tài liệu cho rằng, việc dành cả tháng 5 để làm tháng Hoa kính Đức Mẹ chỉ mãi tới thế kỷ XVIII mới xuất hiện lần đầu tiên tại Ý.  Dù sao thì sang thế kỷ XIX, việc sử dụng tháng 05 như là tháng Hoa Kính Đức Mẹ đã trở nên khá phổ biến tại khắp Âu Châu.  Vào ngày mồng 01 tháng 5 năm 1841, ba Nữ Tu Dòng Chúa Chiên Lành đã cử hành việc dâng hoa kính Đức Mẹ lần đầu tiên tại Tu Viện Haidhausen của họ ở München, Đức Quốc, và đó cũng được coi là buổi tiến hoa kính Đức Mẹ đầu tiên tại Đức.

Ngoài việc tiến hoa kính Đức Mẹ ra thì nội dung của các buổi cử hành này cũng rất phong phú và đa dạng.  Trước khi tiến hoa, người ta thường Lần Chuỗi, đọc các bài suy niệm về Đức Mẹ, cũng như đọc nhiều những lời nguyện cầu cùng Đức Mẹ, và hát những ca khúc khác để mừng kính Người.  Vào ngày mồng 01 tháng 05 năm 1965, Đức Thánh Cha Phao-lô VI đã công bố Thông Điệp “Mense maio” để chính thức nhìn nhận tháng 05 là tháng kính Đức Mẹ trong Giáo hội Công giáo.  Ngài cho rằng, “quả là một truyền thống quý báu khi các vị tiền nhiệm đáng kính của Cha vẫn luôn chọn tháng 5, tức tháng Kính Đức Mẹ, để mời gọi toàn dân Ki-tô giáo cùng nhau cầu nguyện mỗi khi Giáo hội có nhu cầu, hay mỗi khi có một mối nguy hiểm nào đó đe dọa thế giới” (số 3).

Ngoài ra, tháng 5 không chỉ được gọi là tháng kính Đức Mẹ Thiên Chúa, nhưng đôi khi, tháng này cũng còn được người Công giáo gọi là Vầng Nguyệt Maria.  Việc tôn kính Đức Maria trong tháng này thường được cụ thể hóa bằng việc Lần Chuỗi kết hợp với việc dâng tiến hoa. 

3. Tháng Hoa tại Việt Nam

Việt nam là quốc gia có khí hậu nhiệt đới nên hoa nở quanh năm ngày tháng.  Có một số loài hoa chỉ nở theo mùa như hoa Mai, hoa Đào, hoa Gạo, hoa Bằng Lăng hay hoa Phượng v.v…, nhưng cũng có những loài hoa nở mọi lúc, mọi nơi, chẳng hạn như hoa Hồng, hoa Huệ hay hoa Cúc v.v…  Tuy nhiên, có lẽ tháng 5 là tháng đa dạng và phong phú nhất của các loài hoa.  Người Việt nam vốn rất yêu hoa và luôn dành cho hoa một sự trân trọng đặc biệt.  Rất nhiều bậc cha mẹ muốn sử dụng tên của các loài hoa để đặt tên cho con gái của mình, chẳng hạn như Huệ, Phượng, Mai, Đào, Lan hay Cúc v.v…  Khi việc dành tháng 5 như là tháng Hoa để tôn kính Đức Maria được du nhập vào Việt nam, thì các tín hữu Công giáo ở đây đã hưởng ứng với tất cả sự hồ hởi.  Chính vì thế, việc tiến hoa kính Đức Mẹ trong tháng 5 đã mau chóng được tổ chức tại hầu hết các Giáo xứ.  Trước đây, trong các buổi tiến hoa, việc Lần Chuỗi luôn được coi là thành phần quan trọng và không thể thiếu.  Tuy nhiên, ngày nay, một số nơi xem ra đã bỏ qua việc Lần Chuỗi, và chỉ chú trọng tới việc tiến hoa mà thôi.  Bỏ Lần Chuỗi trong các buổi tiến hoa như thế, không biết có nên và có tốt hay không?  Dù gì thì đó cũng là một cách thực hành không sát lắm với truyền thống.  Trước đây, các buổi tiến hoa trong tháng 5 thường được tổ chức khá đơn giản, với 5 cặp tiến hoa đại diện cho năm sắc hoa.  Những thiếu nữ trên dưới 10 tuổi được chọn để làm người tiến hoa được gọi là những “Con Hoa.  Tuy nhiên, trong nhiều xứ đạo ngày nay, việc tiến hoa đã được tổ chức hết sức cầu kỳ và trang trọng.  Người ta không còn chỉ sử dụng 10 “Con Hoa” để dâng hoa nữa, nhưng đã sử dụng tới cả trăm Con Hoa hoặc hơn nữa.  Các Con Hoa bây giờ không chỉ là các thiếu nữ trên dưới 10 tuổi, nhưng còn là những phụ nữ thuộc đủ mọi lứa tuổi, và thậm chí có cả nam giới nữa.  Những buổi dâng hoa với các Con Hoa thuộc đủ mọi giới và đủ mọi lứa tuổi như thế, được gọi là những buổi Đại Đồng Tiến Hoa.

Kết luận

Để kết thúc bài viết này, xin được nhắc lại nguyên văn những lời sau đây của Đức Thánh Cha Phao-lô VI: “Chính vì tháng 5 luôn khơi lên những lời cầu nguyện thẳm sâu và đầy lòng tín thác, và cũng vì trong tháng 5 này, những lời khẩn xin của chúng ta có thể dễ dàng đến được với trái tim đầy nhân hậu của Đức Nữ Trinh, nên việc chọn tháng 5 này để kêu mời Dân Ki-tô giáo cùng nhau cầu nguyện bất cứ khi nào Giáo hội có nhu cầu, hay bất cứ khi nào thế giới bị đe dọa bởi một mối nguy nào đó, là một thói quen rất quý báu mà các vị tiền nhiệm của Cha đã thực hiện.  Và kể cả chúng ta nữa, hỡi các bậc chư huynh đáng kính, trong năm [mừng kỷ niệm lần thứ 50 ngày Đức Mẹ hiện ra tại Fatima – (dg)] này, cũng cảm thấy cần phải đưa ra cho toàn thế giới Công giáo một lời kêu mời tương tự.  Thực ra, khi chúng ta nghĩ tới những nhu cầu hiện tại của Giáo hội, cũng như nghĩ tới sự bình an của thế giới, thì chúng ta sẽ có đủ mọi lý do chính đáng để tin rằng, đây chính là giờ phút đặc biệt nghiêm trọng và khẩn thiết hơn bao giờ hết, đòi buộc chúng ta phải kêu gọi toàn dân Ki-tô giáo cùng nhau cầu nguyện” (Mense maio, 3).

Lm. Đaminh Trần Tiến Thiệu

THÁNG NĂM - THÁNG HOA KÍNH MẸ

 

ĐỨC MẸ CỦA KINH THÁNH VÀ ĐỨC MẸ CỦA LÒNG SÙNG KÍNH

Có nhiều người tin rằng: Người Công giáo La Mã có khuynh hướng sùng bái Đức Mẹ, còn người Tin Lành và phái Phúc âm thì có khuynh hướng bài trừ Đức Mẹ. Cả hai đều không chuẩn lắm.
 
Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu, có hai tuyến lịch sử trong truyền thống Kitô giáo. Chúng ta có Đức Mẹ trong Kinh thánh, và Đức Mẹ của lòng sùng kính, và cả hai đều góp những phần đặc biệt cho hành trình Kitô hữu của chúng ta.
 
 
 
Đức Mẹ của lòng sùng kính thì được biết đến nhiều hơn, chủ yếu là trong Công giáo La Mã. Đây là hình ảnh Đức Mẹ trong chuỗi mân côi, Đức Mẹ của các đền thánh nổi tiếng, Đức Mẹ Sầu bi trong các kinh, Đức Mẹ dịu dàng chuyển cầu cho chúng ta đến với Chúa, Đức Mẹ tinh tuyền và trinh khiết, Đức Mẹ hiểu nỗi đau của con người, Đức Mẹ làm kẻ sát nhân phải mềm lòng, và Đức Mẹ mà chúng ta luôn có thể chạy đến kêu cầu.
 
Và Đức Mẹ này, trên hết là Mẹ của người nghèo. Karl Rahner từng chỉ ra rằng khi nhìn vào mọi lần Đức Mẹ hiện ra mà đã được Giáo hội công nhận, bạn sẽ để ý thấy rằng mẹ luôn hiện ra với người nghèo, một đứa bé, một nông dân, một nhóm trẻ em, một người không có địa vị xã hội. Đức Mẹ không bao giờ hiện ra với một thần học gia đang nghiên cứu, một giáo hoàng, hay một triệu phú. Mẹ luôn là người mà người nghèo hướng về. Lòng sùng kính Đức Mẹ chính là thần nghiệm của người nghèo. 
 
Ví dụ như, chúng ta thấy rất rõ điều này trong tác động của Đức Mẹ Guadalupe lên Châu Mỹ La tinh. Trong toàn châu Mỹ, hầu hết các thổ dân đều là Kitô hữu. Tuy nhiên, ở Bắc Mỹ, nơi hầu hết thổ dân là Kitô hữu, Kitô giáo lại không phải là một tôn giáo bản địa, mà là một tôn giáo du nhập từ nơi khác đến. Còn ở Châu Mỹ La tinh, khắp nơi mà giáo dân sùng kính Đức Mẹ Guadalupe, thì Kitô giáo được xem là một tôn giáo bản địa.
 
Nhưng lòng sốt sắng và sùng kính cũng có nguy cơ trật đường về mặt thần học và gây nên sự ủy mị không lành mạnh. Đây cũng là vấn đề trong hình ảnh Đức Mẹ của lòng sùng kính. Chúng ta có khuynh hướng nâng Đức Mẹ lên hàng thần thánh (mà thế là sai) và chúng ta quá thường sùng kính Mẹ đến nỗi trong tâm thức của chúng ta, một Đức Mẹ của lòng sùng kính không thể nào là một người khiêm hạ đã hát lên bài Magnificat. Đức Mẹ của lòng sùng kính quá thường bị tôn vinh với sự sốt sắng, đơn giản hóa thái quá, và phi tính dục như thể cần bảo vệ Mẹ khỏi những phức tạp của thân phận con người. Nhưng Đức Mẹ của lòng sùng kính vẫn cho chúng ta đối diện rõ ràng hành trình tâm linh của mình.
 
 
 
Còn Đức Mẹ của Kinh thánh và vai trò mà các Tin Mừng khác nhau đã nói đến về Mẹ, thì bị làm ngơ hơn nhiều.
 
Trong Tin mừng Nhất lãm, Đức Mẹ được thể hiện như hình mẫu người môn đệ. Nói đơn giản hơn, Mẹ là một con người chuẩn mực ngay từ đầu. Nhưng chúng ta lại không nhận ra như thế ngay lập tức. Nhìn bề ngoài, đôi khi chúng ta lại thấy ngược lại. Ví dụ như, trong nhiều dịp Đức Giêsu nói chuyện với đám đông, có người cắt lời và báo rằng mẹ và người thân của Ngài đang chờ bên ngoài và muốn nói chuyện với Ngài. Và Chúa Giêsu trả lời: “Ai là mẹ Ta và ai là anh chị em của Ta? Là người nghe lời Chúa và tuân giữ.” Khi nói thế, Chúa Giêsu không có thái độ xa cách với mẹ mình, mà ngược lại thì đúng hơn. Trong các Tin mừng, trước chuyện này, các thánh sử đã rất cẩn thận chỉ ra rằng Đức Mẹ là người đầu tiên nghe lời Chúa và tuân giữ. Và như thế, chính Chúa Giêsu nêu bật mẹ mình trên hết là vì đức tin của Mẹ, chứ không phải vì huyết thống. Trong Tin mừng Nhất lãm, Đức Mẹ là hình mẫu cho tinh thần môn đệ. Mẹ là người đầu tiên nghe lời Chúa và tuân giữ.
 
Tin mừng theo thánh Gioan còn cho Mẹ một vai trò khác. Mẹ không phải là hình mẫu cho tinh thần môn đệ (một vai trò mà thánh Gioan trao cho người môn đệ Chúa thương và Maria Magdalena) nhưng được xem là Evà, mẹ của nhân loại, và là mẹ của mỗi người chúng ta. Thú vị là, thánh Gioan chưa từng nói ra tên của Đức Mẹ, ngài luôn luôn nói là “Mẹ của Chúa Giêsu.” Và với vai trò này, Đức Mẹ làm hai điều:
Thứ nhất, Mẹ là tiếng nói cho sự hữu hạn của con người, như khi Mẹ lên tiếng trong tiệc cưới Cana “họ hết rượu rồi.” Trong Tin mừng theo thánh Gioan, đây không chỉ là cuộc nói chuyện giữa Đức Mẹ và Chúa Giêsu, nhưng còn là cuộc nói chuyện giữa Mẹ Nhân loại và Thiên Chúa. Thứ hai, là Evà, Mẹ toàn thể và Mẹ chúng ta, Đức Mẹ cũng bất lực trong và trước nỗi đau của con người khi Mẹ đứng dưới chân thập giá. Trong biến cố này, Mẹ cho chúng ta thấy mình là Mẹ của toàn thể, nhưng cũng là một gương mẫu về cách đương đầu với sự bất công, cụ thể là đứng trong sự bất công đó mà không nhân đôi hận thù và bạo lực đó nhưng đáp lại bằng yêu thương.
 
Đức Mẹ đã cho chúng ta một gương mẫu tuyệt vời, một gương mẫu không phải để chúng ta tôn sùng hay làm ngơ, nhưng là để sống.
-----------------------------
Rev. Ron Rolheiser, OMI

0 comments

HƯỚNG VỀ QUÊ TRỜI

Người Kitô hữu “sống ở thế gian mà không thuộc về thế gian.  Họ có bổn phận  gắn kết và cộng tác xây dựng cuộc sống trần gian, nhưng họ lại không thuộc về thế gian, cũng như Chúa Giêsu không thuộc về thế gian (x. Ga 17,14).  Cuộc sống trần gian chỉ là cõi tạm, vì quê hương đích thực của người tín hữu là Quê Trời.  Dù được mời gọi gắn bó với cuộc sống trần thế, cùng nhau xây dựng trần gian như “phác thảo đời sau,” nhưng người tín hữu không được quên bổn phận quan trọng là phải luôn hướng về Quê Trời.  Lễ Thăng Thiên là dịp để chúng ta suy tư điều ấy.

 

 Chúa Giêsu về trời, vì Người từ trời mà đến.  Người là Đấng Thiên sai, được Chúa Cha sai đến trần gian để thiết lập vương quốc hòa bình và yêu thương.  Trong ba năm loan báo Tin Mừng, Chúa Giêsu luôn cố gắng thực hành Thánh ý Chúa Cha, dù gặp nhiều chống đối và gian nan thử thách.  Cuộc khổ hình thập giá và nhất là sự phục sinh vinh hiển, chính là chiến thắng của yêu thương trên hận thù, của Thiên Chúa trên thế gian và của ánh sáng trên bóng tối.  Hôm nay, chúng ta mừng Chúa về trời, trong tiếng reo hò của các thiên thần.  Chúa về trời như một cuộc khải hoàn vinh thắng, như một vị vua hồi loan sau trận chiến huy hoàng.  Thánh Phaolô đã trình bày sự kiện phục sinh của Chúa Giêsu như sự biểu dương mà Chúa Cha dành cho người Con Chí Ái.  Quả thực, Chúa Cha đã tôn vinh Đức Giêsu và đặt người bên hữu.  Đây là cách diễn tả sự ngang hàng giữa Chúa Cha và Chúa Con, và vinh dự mà Chúa Cha ban cho Chúa Con (Bài đọc II).

 Nếu Chúa Giêsu đã về trời, thì Người lại không lìa xa chúng ta.  Người đã hứa: “Này đây Thày ở cùng các con cho đến tận thế” (Mt 28,20).  Lịch sử Giáo Hội đã chứng minh lời hứa của Chúa Giêsu.  Nhờ có Chúa Giêsu hiện diện trong Giáo Hội mà cộng đoàn Kitô hữu ban đầu từ một nhóm nhỏ những người dân chài chất phác đơn sơ đã trở thành một cộng đoàn đông đảo hiện diện trên toàn thế giới.  Chúa Thánh Thần được Chúa Cha sai đến trần gian để tiếp nối công việc của Chúa Giêsu, nhất là liên kết mọi nền văn hóa, mọi chủng tộc và mọi ngôn ngữ thành cộng đoàn duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền.  Chúa Giêsu hiện diện trong Giáo Hội để củng cố Đức tin và niềm hy vọng của chúng ta vào đời sau.  Chính trong niềm xác tín ấy mà Giáo Hội hôm nay tuyên xưng và cầu nguyện với Chúa Cha: “Người lên trời, không phải để lìa xa thân phận yếu hèn của chúng con, nhưng để chúng con là chi thể của Người, tin tưởng được theo Người đến nơi mà chính Người là Ðầu và là Thủ Lãnh của chúng con đã đến trước” (Kinh Tiền tụng lễ Thăng Thiên).

 Giáo Hội là Dân Thiên Chúa, mà là một dân đang lữ hành, tức là đang tiến bước.  Đích điểm mà Giáo Hội đang tiến tới, đó chính là Quê Trời, nơi Chúa Giêsu đã về để hưởng vinh quang với Chúa Cha.  Người tín hữu là thành phần của Giáo Hội, đang tiến bước cùng với anh chị em mình.  Trong cuộc lữ hành này, còn nhiều thử thách gian nan.  Có những người gục ngã vì thất vọng hoặc vì chông gai trên đường.  Cũng như bất kỳ người lữ hành nào, người Kitô hữu phải kiên trì, cố gắng trung tín để đến đích mình mong đợi.  Trong cuộc lữ hành về Quê Trời, chúng ta không đơn lẻ, nhưng có Chúa đồng hành với chúng ta.  Thầy không bỏ các con mồ côi.  Thầy sẽ đến với các con và lòng các con sẽ vui mừng” (Ga 14,13).  Cùng với Chúa Giêsu, chúng ta còn có Chúa Thánh Thần đồng hành trên mỗi bước đường của cuộc sống.  Chúa Thánh Thần soi sáng để chúng ta làm chứng cho Đức Giêsu: “Khi nào Thần Khí Sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn.

 Vì luôn hướng về Quê Trời như đích điểm và lý tưởng của mình, người Kitô cần có cái nhìn siêu nhiên trong đời sống hằng ngày, nhất là trong những thực hành Đức tin.  Tác giả Luca làm chúng ta ngỡ ngàng, khi ghi lại câu hỏi của một vài môn đệ: “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Israen không?”  Chúng ta ngỡ ngàng, vì những môn đệ này là những người đã chứng kiến cuộc khổ nạn của Chúa, và đã được gặp Người từ cõi chết sống lại.  Vậy mà lúc này, đầu óc các ông còn đầy những tư tưởng trần gian và những tham vọng thế tục.  Họ vẫn mang hình ảnh một Đấng Thiên sai trần gian, với hy vọng lúc đó họ cũng được hưởng lợi lộc do việc Thầy mình khôi phục một quyền bính trần tục.  Trong thực tế hôm nay, đây đó vẫn còn những tín hữu mang một quan niệm thuần túy trần gian về giáo huấn của Chúa và về ân sủng của Người.  Đó là một đức tin vụ lợi, thích chạy theo những điều ngoạn mục và giật gân.  Đến một lúc nào đó, khi không đạt được những điều họ kỳ vọng, cái mà họ gọi là “đức tin” nơi họ sẽ sụp đổ và thay vào đó là sự bất mãn tiêu cực.

 “Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn trời.  Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời. Lời của vị sứ thần muốn nhắn nhủ các môn đệ và nhắn nhủ chúng ta: hãy cố gắng thực thi những gì Chúa đã dạy, trong khi chờ đợi Người đến trong vinh quang.  Hãy trở về với cuộc sống trần thế, với tâm trạng đổi mới, với niềm hân hoan phấn khởi, vì Chúa đang hiện diện giữa chúng ta.  Hơn nữa, hãy thực hiện điều Chúa đã truyền trước khi về trời: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Đây chính là bổn phận của chúng ta.  Khi thực hiện những điều này, chúng ta chứng tỏ chúng ta đang hướng về Quê Trời.

 Lễ Chúa Giêsu lên trời không phải là kết thúc, nhưng là khởi đầu một chặng đường mới, chặng đường của chứng nhân.  Mỗi chúng ta hãy lên đường, nhờ ơn Chúa Thánh Thần, mạnh mẽ can đảm làm chứng cho Chúa, như Người đang mời gọi chúng ta.

 
TGM Giuse Vũ Văn Thiên

 

Sunday, May 14, 2023

DỤ NGÔN NGƯỜI SAMARITAN NHẬN HẬU

CHƯƠNG TRÌNH CU Đ CA CHÚA GIÊ-SU

                                                                                              

  Nguyễn Bửu Đồng

 

Dụ ngôn “Người Samaritan Nhân Hậu” (Lc 10:30-35) là một trong những dụ ngôn được nhiều người biết nhất, không chỉ đối với người theo đạo Chúa mà còn đối với người theo tín ngưỡng khác khắp nơi trên thế giới.  Nói đến người Samaritan nhân hậu (NSNH), người ta nghĩ ngay đến người giàu lòng nhân nghĩa, bác ái, hào hiệp luôn luôn sẵn sàng giúp người khốn cùng, giữa đường lâm nạn đang cần sự giúp đỡ.  Gần như mỗi người trong cuộc sống ở thế gian đều có nhu cầu khẩn thiết, đặc biệt là nhu cầu tâm linh cần được cứu rỗi.  Bởi đó, dụ ngôn NSNH đã ảnh hưởng sâu đậm đến hành động, việc làm của rất nhiều người, cả đời lẫn đạo.  

 

Khi nghiên cứu giáo hội trong thời kỳ sơ khai ở các thế kỷ đầu, và đặc biệt là các dụ ngôn của Chúa Giê-su, điều làm John W. Welch rất ngạc nhiên và thắc mắc là những Vương Cung Thánh Đường nổi tiếng, cổ kính hơn ngàn năm ở Pháp như C-hartres, Bourges, Sens... đều có những khung kính màu sặc sỡ tả lại những hoạt cảnh trong dụ ngôn NSNH ngay dưới những khung kính màu ghi lại câu chuyện Adam và Eva sa ngã và bị đuổi ra khỏi vườn Địa Đàng.  Hai câu chuyện có liên hệ gì nhau?  Dụ ngôn NSNH có một ý nghĩa nào khác hơn ý nghĩa đang được giải thích hiện nay?

 

Bài viết này chỉ là một cố gắng trình bày tóm tắt công trình nghiên cứu rất công phu của John W. Welch (1).  Người viết không có ý bài bác những gì được giải thích hiện nay về dụ ngôn, nhưng chỉ cốt thêm vào để làm phong phú những hiểu biết sẵn có, nói đúng hơn, phục hồi một ý nghĩa thật quan trọng của dụ ngôn vì lý do nào đó đã mai một đi:  cuộc sống vĩnh hằng và chương trình cứu độ.  Phần phán đoán bao giờ cũng thuộc về  độc giả.

 

 

 

 I. BỐI CẢNH CỦA DỤ NGÔN

 

Có người thông luật kia đứng lên hỏi thử Đức Giê-su rằng: “ Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời?”    Người đáp: “Trong luật đã viết gì?  Ông đọc thế nào?”  Ông ấy thưa: “Ngươi hãy Giêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn, và Giêu người thân cận như chính mình.”  Đức Giê-su bảo ông ta: “Ông trả lời đúng lắm.  Cứ làm như vậy sẽ được sống.” Nhưng ông ta lại hỏi thêm: “Nhưng ai là người thân cận của tôi?” (Lc 10: 25-29).

 

Qua mạch văn đoạn Phúc Âm trên, rõ ràng là nhà thông luật Pharisêu có hai câu hỏi: 1/  Tôi phải làm gì để được sự sống đời đời?    và 2/  Ai là người thân cận của tôi?   Và để trả lời hai câu hỏi này mà Chúa Giê-su đã kể dụ ngôn NSNH.  Chính ra câu hỏi thứ nhất mới là câu hỏi quan trọng hơnnền tảng hơn, đối với đời sống con người; và câu hỏi thứ hai chỉ có tính cách “kỹ thuật (technical question) cốt để làm sáng tỏ ý nghĩa một điểm trong câu trả lời cho câu hỏi thứ nhất.  Nhưng hiện nay người ta nghĩ rằng dụ ngôn được Chúa Giê-su kể là để trả lời cho câu hỏi thứ hai;  do đó, dụ ngôn được hiểu như một bài dạy về luân lý.

 

Khi kể dụ ngôn, phải chăng Chúa Giê-su chỉ muốn dạy bài học về lòng thương xót, giúp người đang lâm nạn, cần sự giúp đỡ?  Hay dụ ngôn còn có một ý nghĩa nào khác, quan trọng hơn và cao vượt hơn những điều được giải thích hiện nay?  Dụ ngôn chỉ liên hệ đến một người bộ hành trên đường đi từ Jerusalem đến Jericho hay còn muốn ám chỉ đến mỗi người chúng ta trên cuộc hành trình ở dương thế? 

 

Người Samaritan này” chỉ là người ngoại đạo như những người Samaritan trong các dụ ngôn khác?  Quán trọ chỉ là nơi dừng chân tạm nghỉ trong cuộc hành trình?...

 

Theo một truyền thống có từ thời giáo hội Chúa còn sơ khai mà ngày nay hầu như đã bị thất truyền, dụ ngôn NSNH được hiểu như là hình ảnh dẫn dụ về sự sa ngã và cứu rỗi của loài người.  Cách giải thích này đã được tìm thấy trong các văn bản, tài liệu viết về giáo hội ở bốn thế kỷ đầu.  Irenaeus và Clement nhìn thấy hình ảnh Chúa Giê-su qua NSNH, đã cứu nạn nhân sa ngã từ vết thương đau của tội lỗi.  Origen, một tác giả khác, ghi lại là ông đã nghe “một trong các bậc kỳ lão” (one of the elders) kể rõ ý nghĩa các chi tiết của dụ ngôn như sau:

 

Người đi xuống (từ Jerusalem) là Adam.  Jerusalem là thiên đàng và Jericho là trái đất.  Kẻ cướp là những thế lực hung bạo.  Ông tư tế là lề luật, Lê-vi là những tiên tri, và người Samaritan chính là Đấng Cứu Thế.  Thương tích là sự không vâng lời, con lừa là xác thân của Chúa, quán trọ là giáo hộI, sẵn sàng mở cửa cho bất cứ ai muốn vào.  Và hai đồng tiền là Chúa Cha và Chúa Con.  Chủ quán là người đứng đầu giáo hội, được tin giao trách nhiệm chăm sóc.  Và sự kiện người Samaritan hứa trở lại tượng trưng cho việc Đấng Cứu Thế sẽ trở lại để phán xét trong ngày quang lâm (2).

 

Bản văn trên chứng minh rằng ý nghĩa của dụ ngôn như nói trên được các môn đồ tiên khởi của Chúa Giê-su giảng dạy.  Cái chi tiết – ý nghĩa của dụ ngôn được “một trong các bậc kỳ lão” kể lại  – rất phù hợp với đức tin của người Ki-tô hữu thời giáo hội sơ khai.  Hơn nữa, cách giải thích này cũng rất phổ biến và được các giáo phụ (Fathers of the Church) thời đó loan giảng như Irenaeus ở miền nam nước Pháp (3), Clementở  Alexandria (4),  Origen ở Judea (5), Chrysostom ở Constantinople (6), Ambrose ở Milan (7), Augustine ở Phi Châu (8), Isidore ở Tây Ban Nha (9), và Eligius ở miền bắc nước Pháp (10).

 


II. Ý NGHĨA CÁC CHI TIẾT TRONG DỤ NGÔN NGƯỜI SAMARITAN NHÂN HẬU

 

Mỗi chi tiết trong dụ ngôn có liên quan đến một giai đoạn quan trọng trong cuộc hành trình của nhân loại về cõi sống đời đời.   Vì vậy dụ ngôn không phải là câu chuyện chỉ liên quan đến “một người kia” đi từJerusalem xuống Jericho, nhưng liên hệ đến mỗi người chúng ta trong cuộc hành trình ở trần thế.

 

A. Một người kia từ Jerusalem đi xuống Jericho, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp.  (A certain man went down f-rom Jerusalem to Jericho, and fell among thieves.)

 

Một người kia (a certain man).  Các tác giả thời giáo hội sơ khai đồng hóa người này với Adam.  Liên hệ giữa Adam và loài người rất rõ ràng trong cổ ngữ.  Trong tiếng Do Thái xưa, từ  “adam” có nghĩa là một người, nhiều người, loài người, hay một người tên gọi Adam, tức tên riêng.  Trong tiếng Hy Lạp cũng vậy,từ  “anthropos” dùng để chỉ riêng một cá nhân hay tất cả mọi người.  Do đó Clement rất có lý khi nói rằng dụ ngôn NSNH liên hệ đến mỗi người chúng ta ở thế gian.

 

Đi xuống (went down).  Chrysostom xem hành động này thể hiện việc Adam đi xuống trái đất từ vườn địa đàng, từ nơi vinh quang đến chốn tăm tối, từ sự sống đến sự chết.  Thật vậy, Adam và Eva đã dẫn đưa nhân loại “đi xuống” thế gian qua sự sinh nở.  Theo Phúc Âm Luca,  việc đi xuống Jericho này là hành động tự ý, không ai bắt buộc, và người đi đường kia chấp nhận rủi ro đang chờ đón mình.   Con đường này đi ngang hoang địa Judea dài gần 25 cây số;  thời Chúa Giê-su ai cũng biết có nhiều bọn cướp nên không ai dám đi một mình.  Điều đó có nghĩa là cuộc hành trình phải có một giá trị nào đó tương xứng với sự hiểm nguy.  Và việc người kia rơi vào tay kẻ cướp chính là một kinh nghiệm không thể tránh khỏi của thân phận con người:  chết!

 

Từ Jerusalem (f-rom Jerusalem).  Dụ ngôn tả chuyện một người đi từ Jerusalem.  Jerusalem không phải là một thành phố bình thường như bao nhiêu thành phố khác.  Trái lại, đây là nơi có đền thánh, tức thánh địa. Theo Chrysostom, Augustine và Isidore, Jerusalem tượng trưng cho thiên đàng.  Eligius cũng như những tín hữu thời giáo hội sơ khai cho rằng Jerusalem tượng trưng cho “trạng thái cao của sự bất tử của loài người.”  Người đi từ thành phố này, nơi có sự hiện diện của Thiên Chúa, theo đức tin thời đó đã được sự phò trợ và hứa hẹn của Thiên Chúa.  Một trong những hứa hẹn phò trợ đó là Thiên Chúa sẽ gởi một người Samaritan đến để cứu giúp người lữ hành khi gặp khó khăn, lâm nạn trên đường đời.

 

Xuống Jericho (to Jericho).  Nếu Jerusalem là nơi có Thiên Chúa hiện diện thì Jericho là nơi con người đi đến, là trái đất. Tên thành phố này được nhắc đến nhiều lần trong Thánh Kinh Do Thái cũng như lịch sử của dân tộc này. Theo Eligius, Jericho tượng trưng cho cuộc sống trần ai đau khổ.  Điều này cũng phù hợp với địa thế của Jericho:  Jericho và những thị trấn vùng phụ cận gần Tử Hải (Dead Sea) là những thành phố thấp nhất trên mặt đất, 825 feet thấp hơn so với mặt biển (khoảng 250 thước).  Vì vậy, mặc dù Jericho ở phía đông bắc của Jerusalem, dụ ngôn không nói “đi từ Jerusalem lên Jericho” mà nói “đi từ Jerusalemxuống  Jericho.”

 

Điểm cần lưu ý là người kia đang trên đường đi thì bị cướp.  Anh ta chưa xuống tới Jericho, nghĩa là chưa đạt tới điểm thấp nhất của địa cầu.  Con đường hành trình từ Jerusalem xuống Jericho trong dụ ngôn có thể tiêu biểu cho cuộc hành trình của loài người từ khi Adam và Eva bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng vì tội không vâng lời.  Sự tấn công của bọn cướp cũng như sự can thiệp, giúp đỡ của người Samaritan đã làm thay đổi cuộc hành trình, khiến nó trở nên tốt lành hơn.

 

Rơi (fell).  Rơi là trạng thái từ trên cao xuống thấp, từ nơi tốt lành đến chỗ xấu hơn.  Nó có thể tượng trưng cho sự sa ngã của Adam và Eva, tổ tiên loài người.  Nó cũng có thể tiêu biểu cho hình ảnh con người từ đời sống bất tử ở vườn địa đàng rơi vào cuộc sống phải chết ở trần thế của phận người tội lỗi.

 

Vào tay kẻ cướp (among thieves).  Các tác giả thời giáo hội sơ khai đã giải thích “kẻ cướp” là quyền lực của Satan, sự dữ, điều xấu, những người giảng dạy điều sai quấy.  Người lữ hành bị tấn công không do sự ngẫu nhiên mà do những âm mưu có tính toán, có tổ chức của băng đảng cướp bóc dọc đường.

 

B. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống, nửa chết (Which stripped him of his raiment, and wounded him, and departed, leaving him half dead). 

 

Lột sạch người ấy  (stripped of his raiment).   Chúa Giê-su muốn ám chỉ điều gì quan trọng ở đây?  Theo Origen và Augustine, khi mất hết áo quần, con người mất đi đặc tính bất tử và không hư đốn.  Chrysostom cho rằng khi bị lột hết áo quần thì sự bất tử và đức vâng lời cũng bị cướp đi.  Ambrose cũng giải thích rằng sự bao bọc của “ân sủng tâm linh” (spiritual grace) người lữ hành thụ nhận từ Thiên Chúa cũng bị lột đi.

Hẳn nhiên người đi đường có thể mang theo ít đồ dùng hay tiền bạc để tiêu xài trong lúc đi đường.  Thế nhưng, dụ ngôn chỉ nói đến áo quần của người ấy mà không nói gì khác.  Hành động “lột sạch” được đặc biệt nói đến.  Bọn cướp “lột sạch người ấy,” nghĩa là nạn nhân không còn gì che thân.  Vì một lý do đặc biệt nào mà kẻ cướp chỉ chú trọng đến áo quần của người đi đường?  Ngoài công dụng để che thân, áo quần còn tượng trưng cho địa vị, thành phần xã hội, quyền bính... Cho nên, khi “lột sạch” kẻ cướp chẳng những lấy đi vải hàng che thân của nạn nhân (như trường hợp bọn lính đem áo Chúa Giê-su ra bắt thăm mà chia nhau, Mt 27:35) mà còn tước đi những gì tiêu biểu qua bộ áo quần đó. Theo Origen, bọn cướp chẳng những “lột sạch” (taking off) áo quần mà còn “tước đi/lấy đi” (taking away). 

 

Bị đánh nhừ tử/thương tích (wounded).  Thương tích tượng trưng cho những khổ nạn của cuộc đời, sự trầm luân của linh hồn do tội lỗi và điều xấu gây ra.

 

Nửa sống nửa chết  (half dead).   Bọn cướp bỏ đi, để người ấy bất tỉnh nhân sự, nửa sống nửa chết.  Chi tiết này liên quan đến hai cái chết.  Cái chết đầu tiên là khi con người sa ngã, lỗi phạm và chịu hậu quả không thể tránh khỏi là cái chết của phận người.  Nhưng người ấy chưa chết hẳn, mới chết có một nửa. Cái chết thứ hai là khi con người hoàn toàn tách rời khỏi Thiên Chúa: cái chết này có thể tránh được. Nhiều tín hữu thời giáo hội sơ khai hiểu chi tiết của dụ ngôn theo cách này, nhưng sau đó, cách hiểu này mai một đi, không còn thấy xuất hiện nơi các tác giả sau đó.

 

 

 

CTình cờ, có thầy tư tế đi xuống trên đường ấy.  Khi trông thấy người này, ông tránh qua bên kia đường mà đi.  Rồi cũng thế, một thầy Lêvi đi tới chỗ ấy, cũng thấy và cũng tránh qua bên kia đường mà đi. (And by chance there came down a certain priest that way:  and when he saw him, he passed by on the other side.  And likewise a Levite, when he was at the place, came and looked on him, and passed by on the other side.)

 

Tình cờ  (by chance).  Tình cờ là không cố ý.  Rõ ràng ông tư tế người Do Thái không có chủ ý đi tìm người lâm nạn để cứu.  Ông chỉ “tình cờ” mà gặp.

 

Một ông tư tế (a certain priest).   Các nhà bình giải thời giáo hội sơ khai xem ông tư tế này tượng trưng cho lề luật Môi-sen hoặc các giáo sĩ của thời Cựu Ước.  Những giáo sĩ này không có khả năng hướng dẫn con người đến sự cứu rỗi.  Đến thời Tân Ước, các giáo sĩ thành Jerusalem lại chỉ chú trọng đến công việc hành chánh ở đền thờ.  Nhiều giáo sĩ là người Sadducees, có liên hệ mật thiết với nhà cầm quyền La-mã thời đó.  Nhân vật tư tế này có thể để ám chỉ người lãnh đạo tôn giáo không thật sự  có quyền năng để đưa con người đến cuộc sống đời đời.  Cho nên khi vừa thấy người bị cướp đánh trọng thương, ông tư tế liền tránh  sang bên kia đường mà đi, ông không tới gần để xem nạn nhân sống chết ra sao.

 

Một thầy Lêvi (a Levite).   Thời đó, Lêvi là một thành phần giáo sĩ cấp thấp hơn tư tế.  Nhiệm vụ của thầy Lêvi là quét dọn xung quanh đền thánh, hay nếu may mắn được tin dùng thì được cho hát hay đánh đàn trong các buổi lễ.  Ít ra, thầy Lêvi này đã đi tới chỗ ấy nhìn nạn nhân.  Có lẽ ông cũng muốn giúp nạn nhân, nhưng nhận ra vai trò thấp hèn của mình, không có thầm quyền tâm linh để cứu người đang chờ chết nên ông cũng tránh qua bên kia đường mà đi.

 

D. Nhưng một người Samaritan kia đi đường, tới ngay chỗ người ấy.  Khi thấy, ông chạnh lòng thương.  Ông lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại.  (But a certain Samaritan, as he journeyed, came whe-re he was:  and when he saw him, he had compassion on him, and went to him, and bound up his wounds, pouring in oil and wine.)

 

Người Samaritan (a certain Samaritan).  Các Kitô hữu thời giáo hội sơ khai xem NSNH chính là Đức Kitô, “người giữ linh hồn của chúng ta” (Chrysostom), “người bảo vệ”  (Origen), “mục tử nhân lành” (Augustine), “Chúa và Đấng Cứu Thế” (Eligius).  Theo Chrysostom, NSNH rất xứng đáng tượng trưng cho Đức Kitô vì “NSNH không đến từ Judea cũng như Đức Kitô không thuộc về thế gian này.”  Người Kitô hữu ngày nay gần như đã đánh mất cái nhìn quan trọng này. 

 

Đi đường (as he journeyed).   Trái với ông tư tế “tình cờ” đi qua, chuyến đi của người Smaritan có chủ ý,có mục đích.  Chủ đích đó là tìm người lâm nạn giữa đường để cứu giúp.  Ông luôn luôn có bên mình những thứ cần thiết dùng để cứu cấp như dầu ô-liu, rượu, vải băng... Mạch văn trong Phúc Âm Luca không gây cho người đọc một cảm nghĩ nào có tính cách ngẫu nhiên, bất chợt về cuộc hành trình của người Samaritan. 

 

Chạnh lòng thương (had compassion).  Đây là một trong những từ quan trọng và có ý nghĩa nhất của dụ ngôn, nói lên “tình Giêu nhưng-không” của Giê-su đối với loài người thụ tạo.  “Compassion” được kết hợp bởi hai từ  “com,” nghĩa là cùng với, và “passion,” nghĩa là đau khổ.  Vậy “chạnh lòng thương” có nghĩa là cùng chịu đau khổ hay chia sẻ khổ đau của người khác Trong Tân Ước, chạnh lòng thương” chỉ được dùng khi nói đến tình thương bao la của Thiên Chúa.  Chúa Giê-su cũng đã dùng từ này trong hai dụ ngôn khác:  trong dụ ngôn ‘Tên Mắc Nợ Không Biết Thương Xót’ khi nhà vua, tượng trưng cho Thiên Chúa,chạnh lòng thương, cho y về và tha luôn món nợ (Mt 18:27); và trong dụ ngôn ‘Nguoì Cha Nhân Hậu,’ người cha, cũng tượng trưng cho Thiên Chúa, chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để ” (Lc 15:20).  Tương tự như vậy, người Samaritan đã đóng vai trò của đức Kitô, và hành động của ông đã nói lên lòng thương xót thánh thiêng của Thiên Chúa.

 

Lại gần  (went to him).  Người đi đường bị cướp đánh nhừ tử, nằm bất động.  Người Samaritan không “tránh qua bên kia đường mà đi” như ông tư tế và thầy Levi, nhưng “lại gần” để kịp thời cứu giúp.  Nếu không có sự cứu giúp kịp thời này, nạn nhân không thể nào sống và bình phục được.  Hành động này cũng giống như việc Chúa Cứu Thế rộng tay cứu người khổ nạn.

 

Băng bó vết thương  (bound up his wounds).  Trước đó bọn cướp đã lột sạch nạn nhân.  Người Samaritan, qua hành động băng bó vết thương bằng băng vải, đã khởi đầu sự thay thế áo quần đã mất, xây dựng lại sự bảo vệ tâm linh, và tạo hy vọng một cuộc sống mới cho nạn nhân. Chrysostom giải thích “vải băng chính là lời dạy của đức Kitô” kết hợp chúng ta với nhân đức và điều thiện lành. Theo Clement, vết thương được băng bó bằng tình Giêu và hy vọng.

 

Dầu  (oil).   Mục đích của việc đổ dầu lên vết thương là để làm giảm sự đau đớn.  Hành động này có thể so sánh với việc xức dầu thánh cho bệnh nhân (Chrysostom), mặc dù đa số tác giả thời giáo hội sơ khai xem hành động này tượng trưng cho lời ủi an của Chúa Giê-su.  Chính tên gọi “Christ” và “Messiah” cũng có nghĩa là “Đấng được xức dầu.” 

 

Rượu (wine).   Người Samaritan dùng rượu rửa sạch vết thương.  Người tín hữu thời giáo hội sơ khai liên hệ rượu với máu Chúa Giê-su, và sau này nhiều tác giả xem rượu như là Lời Chúa.  Chính máu cứu chuộc của Chúa Giê-su, qua việc cử hành bí tích, thanh tẩy thân xác và linh hồn. 

         

E. Rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. (And set him on his own beast, and brought him to an inn, and took care of him.)

 

Đặt người ấy trên lưng lừa của mình (set him on his own beast).   Mặc dù Thánh Kinh không nói rõ người Samaritan cỡi con vật gì (beast), nhưng chúng ta có thể đoán chắc là con lừa vì trong ngày khải hoàn trước khi chịu khổ nạn, Chúa Giê-su đã cỡi lừa đi vào thành, được tung hô như Vua.  Chúa muốn loài người thụ tạo được Chúa cứu chuộc cùng hưởng vinh quang đó với Người. 

 

Đức Kitô chữa lành mọi kẻ ốm đau như lời ngôn sứ Isaia:  Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bịnh hoạn của ta” (Mt 8:17).  Augustine cho rằng được đặt trên lưng lừa có nghĩa là tin vào sự nhập thể của Chúa Giê-su vì xác thân Chúa đã chịu khổ hình vì tội lỗi của loài người.

 

Quán trọ (inn).    Quán trọ là nơi công cộng, cửa mở rộng cho tất cả mọi người.  Quán trọ bên đường là chỗ dừng chân, tạm trú, tượng trưng cho giáo hội của Chúa Giê-su.  Quán trọ không phải là cứu cánh thiên đàng nhưng là phương cách cần thiết giúp người lữ khách về được mái ấm vĩnh hằng.

 

Săn sóc  (took care of him).   Người Samaritan đã không giao người bị thương tích cho chủ quán trọ săn sóc để lên đường ngay.  Ông lưu lại để chính tay mình chăm sóc nạn nhân suốt cả đêm thâu trong những giờ phút nguy kịch, đen tối nhất, như Chúa Giê-su lo lắng chăm nom loài người tội lỗi không phải chỉ ban ngày mà luôn cả ban đêm  (Origen).

 

F.  Hôm sau, khi lên đường, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói:  “nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém bao nhiêu thì khi trở lại tôi sẽ hoàn lại bác.” (And on the morrow when he departed, he took out two pence, and gave them to the host, and said unto him, Take care of him;  and whatsoever thou spendest more, when I come again, I will repay thee.)

 

Hôm sau  (on the morrow).   Theo các tác giả chú giải Thánh Kinh thời giáo hội sơ khai, qua những từ này Chúa Giê-su muốn loan báo cho các môn đồ biết là Chúa chỉ còn ở với họ một thời gian ngắn;  “hôm sau” Chúa sẽ “lên đường,” (tức sau khi Chúa chết, sống lại, và về trời),  và giao cho giáo hội Người chăm sóc những vết thương đau của người lữ hành ở trần thế.

 

Hai quan tiền (two pence).   Theo các kỳ lão, hai quan tiền tượng trưng cho Chúa Cha và Chúa Con, tuy hai mà là một vì hai hình ảnh này hoàn toàn giống y nhau (Do Thái 1:1-3).  Cũng có người nghĩ là hai quan tiền tiêu biểu cho Cựu Ước và Tân Ước. 

 

Hai quan tiền (denarii) là tiền công làm hai ngày, đủ để chi dùng thời đó.  Chúa Giê-su không nói với người chủ quán trọ “Tôi trả cho bác hai ngày công,” vì câu này sẽ khiến người chủ quán nghĩ là Chúa sẽ trở lại vào ngày thứ ba. 

 

Chủ quán (innkeeper).   Nếu quán trọ tượng trưng cho Hội Thánh Chúa Ki-tô thì người chủ quán trọ là người đứng đầu giáo hội ở trần thế, các giáo hoàng.  Nếu hiểu theo một nghĩa tổng quát hơn thì người chủ quán trọ cũng có thể là bất cứ người lãnh đạo nào của giáo hội có nhiệm vụ chăm sóc, gìn giữ bất cứ linh hồn nào đã được cứu chuộc, thanh tẩy qua bí tích rửa tội.

 

Khi tôi trở lại (when I come again).   Việc người Samaritan hứa sẽ trở lại ám chỉ ngày quang lâm, tức ngày Chúa Giê-su trở lại lần thứ hai để phán xét như đã ghi trong Tân Ước, Luca 19:15. 

 

Hoàn lại/thưởng công (repay/reward).   Người Samaritan hứa sẽ hoàn trả lại người chủ quán trọ “mọi chi phí, tốn kém.”  Điều đó có nghĩa là người chủ quán trọ được chi tiêu tự do, không giới hạn, để chăm sóc và phục hồi đời sống vật chất (và tâm linh) của nạn nhân.

 

Trái với các công ty bảo hiểm sức khỏe ngày nay, nạn nhân trong dụ ngôn không phải trả “co-pay” và policy này không ấn định “giới hạn phí tổn” (policy coverage limit) cho việc chăm sóc.  Người Samaritan thật sự đã giao cho người chủ quán trọ một chi phiếu trắng (a blank check) để ông toàn quyền chi tiêu.  Trong thực tế của đời sống ai là người có lòng tốt như người Samaritan?  Và có người chủ quán trọ nào dám tin lời hứasẽ hoàn trả tất cả mọi chi phí của người chưa từng quen biết?  Thật khó mà tưởng tượng được có người như thế ở trần gian.  Nhưng nếu hiểu dụ ngôn theo ý nghĩa dẫn dụ của các tín hữu thời giáo hội sơ khai trong những thế kỷ đầu thì ý nghĩa của câu chuyện trở nên rõ ràng.  Khi người Samaritan, tức Chúa Giê-su, hứa thì người chủ quán trọ, tức hội thánh người, hoàn toàn tin lời.   Giữa Chúa Ki-tô và hội thánh Người có sự hiệp thông, tin cậy tuyệt đối.

 

 

 

III. CHƯƠNG TRÌNH CỨU ĐỘ CỦA CHÚA GIÊ-SU QUA DỤ NGÔN NGƯỜI SAMARITAN NHÂN HẬU.

 

Ý nghĩa dụ ngôn như đã nói trên được phổ biến đến thế kỷ 15, 16.  Chính Martin Luther cũng đã nhấn mạnh đến ý nghĩa này trong bài giảng của ông ngày 22 tháng 8 năm 1529. 

 

Nhưng sau đó, trong suốt thế kỷ 18, với sự xuất  hiện và lớn mạnh của trường phái thần học và triết học kinh viện, chủ nghĩa nhân bản, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thế tục, sự tiến bộ của khoa học và kỷ thuật, cùng với quan điểm chống lại khảo hướng dẫn dụ khi nghiên cứu dụ ngôn của Calvin thuộc hội thánh Tin Lành, ý nghĩa nguGiên khởi của dụ ngôn NSNH dần dần mất ảnh hưởng và đến đầu thế 19 thì gần như biến mất. Trong suốt hai thế kỷ 19 và 20, khảo hướng lịch sử (historical approach) rất thịnh hành trong việc tìm hiểu, nghiên cứu Phúc Âm.  Điều này khiến cho các học giả ngày nay không còn tìm thấy qua dụ ngôn điều gì khác hơn là một bài học luân lý về đức ái, Giêu thương người đồng loại.

 

Hẳn nhiên, dùng khảo hướng lịch sử để phân tích sẽ giúp chúng ta biết thêm một số chi tiết về bối cảnh thực tế của dụ ngôn như sự thù nghịch giữa người Do Thái và dân Samari, sự tranh luận giữa các nhà thông luật về tình Giêu thương người thân cận theo luật Do Thái thời bấy giờ, lề luật ngăn cấm tư tế và Lêvi đến cứu giúp người bị cướp đánh trọng thương.  Tuy nhiên, những chi tiết này cũng chỉ có giá trị hạn hẹp và hữu ích ở một mức độ nào thôi.  Chẳng hạn, chúng ta không biết gì về yếu tố sắc tộc của người bị thương tích.  Anh ta có thể là một dân ngoại, một người Samaritan khác, hay một người Do Thái.  Vì vậy, thật khó mà đoán chính xác bản chất và mức độ của lòng thương xót nơi người Samaritan.  Lòng thương xót đó có thể vì tình đồng chủng giữa hai người Samaritan (nếu người bị thương tích cũng là người Samaritan). Nhưng nó cũng có thể cao vượt hơn như lòng thương xót thánh thiêng của Đấng Cứu Thế nếu người bị thương tích là một người Do Thái. 

 

Như vậy dữ kiện lịch sử về sự thù ghét giữa hai sắc tộc Samari và Do Thái tuy có giúp chúng ta hiểu được phản ứng của người thông luật Pharisêu, nhưng không thể áp dụng cho trường hợp đối với một người như đấng Cứu Thế. Nếu mục đích của Chúa Giê-su là muốn dạy chúng ta phải cư xử thân ái ngay cả với những người ngoài vòng bạn bè thân cận thì Chúa đã hé lộ yếu tố sắc tộc của nạn nhân như “một người Do Thái” hay “một người Roman” thay vì chỉ nói “một người kia.”  Cuộc tranh luận giữa những người Do Thái có thể khiến người thông luật hỏi thử Chúa Giê-su, nhưng họ không thể bắt Chúa phải trả lời theo ý họ.

 

Thật ra, nhiều chi tiết quan trọng của dụ ngôn đã hé lộ ý nghĩa dẫn dụ của câu chuyện hơn là đặc tính lịch sử của nó.  Chẳng hạn, thời xưa gần như không ai dám đi một mình trên một quãng đường dài vì có quá nhiều nguy hiểm đang chờ đón.  Thế mà trong dụ ngôn không phải chỉ có “một người kia” đi một mình mà ông tư tế, thầy Levi và người Samaritan cũng đi một mình, nhưng không việc gì xảy ra cho họ. Thêm nữa, việc người chủ quán trọ sẵn sàng chấp nhận vô điều kiện lời hứa hẹn  có tốn kém bao nhiêu thì khi trở lại tôi sẽ hoàn lại bác ” của người Samaritan chưa từng quen biết là một bằng cớ hiển nhiên khác chứng tỏ dụ ngôn NSNH có một ý nghĩa sâu xa hơn ý nghĩa được hiểu hiện nay.  Đó cũng là chủ đích của Chúa Giê-su khi dùng dụ ngôn để giảng dạy dân chúng ở ven Biển Hồ thời đó: Khi các môn đệ hỏi: “Sao Thầy lại dùng dụ ngôn mà nói với họ?”  Người đáp : “Bởi vì anh em thì được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không” (Mt 13:10-11).

 

Vì vậy, tìm hiểu dụ ngôn theo khảo hướng ẩn dụ (allegorical approach) sẽ làm cho ý nghĩa của câu chuyện phong phú hơn, vì ngoài bài học luân lý, dụ ngôn còn hé lộ chương trình cứu độ dẫn đưa tới cuộc sống đời đời.  Chính dụ ngôn muốn ám chỉ con người từ đâu đến, vì sao chúng ta không tránh khỏi những giới hạn của phận người, và bằng cách nào tình Giêu chữa lành của Đấng Cứu Thế và sự chăm sóc của giáo hội Người có thể cứu giúp, hướng dẫn để chúng ta có một cuộc sống ơn phúc đời sau.

 

Đọc và tìm hiểu dụ ngôn NSNH dưới ánh sáng của chương trình cứu độ đặt trọng tâm nơi Chúa Giê-su, người đọc sẽ thấy rõ  bài học khuGiên dạy của Chúa:  mỗi người chúng ta hãy “chấp nhận giá cứu chuộc của Đấng Cứu Thế” bằng cách hãy tỏ lòng xót thương đối với người đồng loại của mình. Câu chuyện Chúa Giê-su kể không phải là để trả lời câu hỏi “Ai là người thân cận của tôi?”  nhưng chính là để trả lời cho câu hỏi trước đó, quan trọng hơn: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời?”  Nếu người thông luận hiểu được ý Chúa Giê-su và hành động như người Samaritan trong dụ ngôn thì con đường thể hiện tiềm năng thánh thiêng (divine potential) của ông để trở nên giống như Đấng Cứu Chuộc đã được vạch ra.

 

Đọc dụ ngôn NSNH theo cách này có thể khiến người đọc tự đặt mình vào vị trí các nhân vật trong câu chuyện, rồi xét suy cuộc sống của chính mình.  Chắc chắn Chúa Giê-su mong muốn mỗi người tín hữu hãy tự xem mình và hành động như NSNH giúp người lâm nạn giữa đường cũng như cứu vớt những linh hồn lạc lỏng.   Chúa bảo người thông luật Pharisêu: Hãy đi và cứ làm như vậy để được sống đời đời” (Lc 10:37).  Bằng cách này, chúng ta cùng tham gia với Chúa để mang lại sự cứu rỗi và cuộc sống vĩnh hằng cho nhân thế.

 

 

 

Những môn đồ theo Chúa, hàng giáo phẩm, các giáo sĩ, cũng có thể nghĩ mình chính là người chủ quántrọ  với trách nhiệm chăm sóc dài hạn để giúp người bị thương tích sớm hồi phục.  Chính người chủ quán chấp nhận lời hứa đền bù ơn phúc, phần thưởng từ người Samaritan.

 

Hoặc người đọc cũng có thể ví mình như người khách đi đường có nhu cầu cần sự trợ giúp, hay ví mình như các ông tư tế, Lêvi sống vì lề luật và cho lề luật, không có quyền năng chữa lành hay giải quyết vấn đề, có thái độ dửng dưng, làm ngơ trước những khổ đau của người đồng loại.  Cũng có thể chúng ta đóng vaikẻ cướp vì đôi khi chúng ta làm phương hại gây tổn thương cho người khác.  Nói khác đi, trong suốt cuộc đời của mỗi người tín hữu, lúc này hay lúc khác, chúng ta có thể hành động, đóng vai các nhân vật trong câu chuyện NSNH. 

                                                               *

Con người là con-vật-có-xã-hội-tính.  Không ai muốn sống một mình, và cũng không ai có thể sống một mình mà không cần đến người khác, ngay cả những người thừa tiền dư bạc.  Con người luôn có nhu cầu cần được trợ giúp phần xác và cứu rỗi phần hồn.  Cho nên dụ ngôn đã ảnh hưởng rất sâu đậm đến đời sống tâm linh của hầu hết mọi người.

 

Trong các giới hạn của đời người như sinh, bịnh, lão, tử... thì dường như  “chết” là điều vô lý nhất.  Viễn tượng của sự chết làm tê liệt mọi hoạt động của con người.  Nếu sau sự chết là hư vô, là hoàn toàn chấm dứt, là không còn gì nữa hết... thì cuộc sống ở thế gian quả là một bi kịch, cực hình:  sanh ra, lớn lên, học hành, tranh sống bằng trăm phương ngàn kế, giành giựt chém giết nhau, lừa đảo để thủ lợi, chiến tranh... rồi cuối cùng cũng chết, cũng hết.  Nếu chết là sự chấm dứt hoàn toàn về mọi phương diện – vật chất, tinh thần, tâm linh, linh hồn – thì quả thật khó mà tìm ra người hay lý do để “Giêu thương người thân cận như chính mình.” Khi con người đi tìm “một đời sống khác” làm đích nhắm cho cuộc sống đời này thì đời sống hiện tại sẽ đổi màu thay sắc khác, sẽ có nhiều ý nghĩa tốt lành, tươi đẹp hơn.  Cuộc đời ở thế gian thay vì là tận điểm sẽ trở thành khởi điểm cho một cuộc hành trình về chốn vĩnh cửu đầy ơn phước.

 

Giải đáp cho câu hỏi “Ai là người thân cận của tôi?” để tôi “Giêu thương như chính mình” chỉ có nghĩa khi tôi nghĩ cách “phải làm gì để được sự sống đời đời .”  Đó là câu hỏi khẩn thiết và cấp bách nhất của con người.   Qua dụ ngôn NSNH, Chúa Giê-su đã hé mở cho chúng ta một chương trình cứu rỗi để có cuộc sống vĩnh hằng.  Những tình tiết trong dụ ngôn rất thích hợp, ăn khớp, và nối kết chặt chẽ với nhau để phác họa nên chương trình cứu độ và cuộc sống đời sau.  Và đó chính là ẩn ý của Chúa Giê-su khi kể dụ ngôn này cho người thông luật Pharisêu.

 

Nguồn: https://luutru.xudoanthanhtam.net/Chia-se-Suy-niem/DU-NGON-NGUOI-SAMARITAN-NHAN-HAU-Va-CHUONG-TRINH-CUU-DO-CUA-CHUA-GIE-SU-121.html  

                                                                    *

CHÚ THÍCH:

 

Người viết chỉ ghi lại đây tài liệu dùng cho bài viết này (1).  Bạn đọc nào muốn nghiên cứu thêm, xin đọc phần tài liệu tham khảo rất đầy đủ của John W. Welch (gồm 140 tài liệu sách, báo và tạp chí).  John W. Welch là giáo sư luật khoa và chủ biên tạp san nghiên cứu BYU Studies thuộc Viện Đại Học Brigham Young. 

 

(1)  Welch, John W“The Good Samaritan: A Type and Shadow of the Plan

      of  Salvation,” BYU Studies, vol. 38, no. 2 (1999), pp. 51-115. 

(2)  Lienhard, Joseph T. “Origen:  Homilies on Luke, Fragments on Luke,” The

      Fathers of the Church: A New Translation, vol. 94 (Washington, D.C.:

      Catholic University of America, 1996), p. 138.

(3) Thánh Irenaeus (140? – 202?):  Giáo Phụ, Giám Mục ở Lyon, Pháp năm 177.

(4) Thánh Clement thành Alexandria (150-220): Giáo Phụ, thần học gia, đứng

      đầu  trường  dạy giáo lý  ở Alexandria, Hy Lạp,  năm 190.

(5) Origen (185? – 254?):  Giáo Phụ, thần học gia, nhà hùng biện.

(6) Thánh John C. Chrysostom (349 – 407):  Giáo Phụ, Tiến sĩ hội thánh, Giám

      Mục ở  Constantinople (Istambul), Thổ Nhĩ Kỳ năm 398 – 404.

(7) Thánh Ambrose (340? – 397):  Giáo Phụ, Tiến sĩ hội thánh, Giám Mục ở

      Milan, Ý, năm 374.

(8) Thánh Augustine (354 – 430):  Giáo Phụ, Tiến sĩ hội thánh, Giám Mục ở

      Hippo, Algeria, năm 395.

(9) Thánh Isidore thành Seville (560? – 636):  Giáo Phụ, Tiến sĩ hội thánh, Tổng

      Giám Mục ở Seville, Tây Ban Nha, năm 600.

(10) Thánh Eligius (590 – 660):  Giáo Phụ, Thần học gia, Giám Mục ở Noyon-

       Tournai,  Pháp, năm 640.