Friday, April 14, 2023

Hiệu Quả Phát Sinh từ Cái Chết của Chúa Giêsu

Nếu cái chết của thánh Gioan Tẩy Giả là một tấm gương sáng ngời của sự hy sinh vì Tin Mừng và công lý, thì khi cái chết của Chúa Giê-su đem đến cho nhân loại sự cứu rỗi. Thần học gia Schillebeeckx chỉ ra rằng, truyền thống "bữa ăn tối sau cùng" hay bữa "tiệc ly" là điểm khởi đầu của sự giải thích của Kitô giáo về cái chết của Chúa Giê-su khi ngài tự hiến mình cho sự cứu rỗi nhân loại. Đức Giáo Hoàng Benedict XVI tuyên bố rằng Thánh giá chắc chắn trở thành biểu tượng của sự cứu rỗi, biểu tượng của sự sống. Qua Thập giá, chúng ta được hưởng sự cứu rỗi. Thánh giá trở thành dấu chỉ chiến thắng của Con Người. Qua dấu chỉ này, Chúa Giêsu đã đến như một người chiến thắng và bây giờ Ngài dẫn đường chúng ta đến với Thiên Chúa hằng sống. Do đó, Thập giá trở thành một dấu chỉ của sự cứu rỗi và thông qua Thập giá, chúng ta hợp nhất với Người. Việc Chúa Giê-su đã "yêu đến cùng" góp phần thanh tẩy chúng ta như câu thánh kinh: "Họ là những người đã đến, sau khi trải qua cơn thử thách lớn lao. Họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên" (Kh. 7:14).

Chúa Giêsu là của lễ chuộc tội

Gerald H. Luttenberger đưa ra một số bằng chứng về Tân Ước để làm sáng tỏ sự chuộc tội của Chúa Giê-su. Tân Ước sử dụng nhiều hình ảnh và khái niệm để thể hiện quan điểm của mình. Những biểu hiện này nhằm xác nhận rằng chính Chúa Giêsu đang chuộc tội, và Người cứu chúng ta bằng máu của mình. Tất cả con người đã phạm tội và mất đi vinh quang của Chúa trong cuộc đời mình, nhưng họ được công chính hoá bằng món quà nhưng không của Chúa, đó chính là ân sủng của Ngài(Xem Rm 3:23). Phao-lô tuyên bố: "Họ được trở nên công chính do ân huệ Thiên Chúa ban không, nhờ công trình cứu chuộc thực hiện trong Đức Ki-tô Giê-su. Thiên Chúa đã đặt Người làm nơi xá tội nhờ máu của Người cho những ai có lòng tin" (Rm 3: 24-25).[1]

Thập giá là một cách để cứu chuộc

Đối với Luttenberger, sự cứu chuộc hay cứu rỗi không được hiểu là "mua lại", nhưng nó truyền tải một ý nghĩa ẩn dụ. Người Do Thái thừa nhận chính xác rằng Thiên Chúa đã không mua lại họ từ vua Pharaoh. Thay vào đó, họ trải nghiệm rằng bây giờ họ đã thoát khỏi chế độ nô lệ. Họ đã có một trải nghiệm về hoàn cảnh mới của họ, trong đó tự do là món quà tuyệt vời nhất đến từ Thiên Chúa. Theo cách nói của Luttenberger: họ dự định diễn tả kinh nghiệm của họ hơn là đưa ra một lời giải thích theo nghĩa đen về bản chất của sự giải thoát cho họ hoặc về cách Thiên Chúa thực sự hoàn thành nó.[2]

Các Kitô hữu thời Giáo hội sơ khai đã hiểu sự cứu chuộc theo cách tương tự với ý nghĩa được đề cập ở trên. Họ đã trải nghiệm việc được cứu, được giải thoát, được Chúa nâng lên, qua cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu (Col 1: 12-14; Êph 1: 7-8). Tuy nhiên, Kitô hữu sử dụng thuật ngữ chuộc tội với một chiều kích nội tâm. Nó bày tỏ kinh nghiệm được giải thoát khỏi sự áp bức, vô thần và bất lực tâm linh. Nó diễn tả một cảm giác mạnh mẽ khi bị choáng ngợp trong những công việc tuyệt vời mà Chúa đã làm vì lợi ích của họ. Sự cứu rỗi đã đến như một món quà nhưng không hào phóng nhất của một Thiên Chúa Tình yêu siêu việt, Đấng đã đưa loài người trở lại một cuộc sống mà họ không còn có bất kỳ yêu sách nào nữa.[3]

Chuộc tội, một cách ban ơn cứu rỗi

Một thuật ngữ khác được sử dụng để diễn tả hiệu quả của Thập giá là chuộc tội. Thuật ngữ này có nguồn gốc từ tiếng Do Thái: kippur (chuộc tội). Nó có nghĩa là làm hài lòng Chúa. Đối với Israel, hành động này chủ yếu đề cập đến công việc của chính Chúa. Nó truyền đạt vai trò thiết yếu của Thiên Chúa trong việc thanh tẩy con cái của mình khỏi tội lỗi và ban ơn công chính hoá cho họ. Luttenberger lưu ý rằng thuật ngữ này không ngụ ý về việc xoa dịu một vị Thiên Chúa tức giận. Nó được sử dụng trong thư của Phao-lô gửi cho giáo đoàn Rô-ma (Rm 3:25) và Thư cho người Do Thái (Dt 2:17) với cùng ý nghĩa được đề cập ở trên. Thuật ngữ này được sử dụng để chỉ hành động cứu chuộc của Thiên Chúa qua Thập giá của Chúa Giêsu, mà nhờ đó các tín hữu đón nhận ơn tha thứ tội lỗi của mình. Khi nhận ra món quà này đến từ Thiên Chúa thông qua Chúa Giêsu, những người tin vào Chúa Giêsu muốn kết hợp với Ngài trong nỗ lực làm vui lòng Chúa Cha.[4]

Trong khi cố gắng để làm vui lòng Thiên Chúa, các Kitô hữu nhấn mạnh đến kinh nghiệm được cứu rỗi của họ. Khi sẵn sàng vác thập giá với niềm tín thác vào Chúa Cha và với tình yêu Ngài dành cho Cha, Chúa Giêsu đã hoàn toàn làm vui lòng Thiên Chúa. Món quà tự hiến của Chúa Giê-su đã trở thành phương tiện cho các môn đệ làm vui lòng Chúa Cha. Nhờ đó, Thiên Chúa đã cho phép họ chia sẻ sự thánh thiện của Chúa Giê-su và sự thánh thiện của Thiên Chúa và nhờ đó Chúa đã xoá bỏ tội lỗi của họ. Nhận ra món quà của sự cứu rỗi, các Kitô hữu rất vui sướng trong cảm nghiệm được sống với Chúa Kitô mà nhờ đó thực sự làm đẹp lòng Chúa Cha.[5]

Hy tế trên thập giá

Kitô hữu sử dụng sự hy sinh của Chúa Giêsu trên Thập giá là hình ảnh thứ ba để bày tỏ cái chết cứu rỗi của ngài. Thuật ngữ hy sinh hay hy tế có nghĩa là làm cho nên thánh. Nó diễn tả rằng một người mong muốn đạt được sự thánh thiện. Khái niệm này được thể hiện trong các nghi lễ nghi lễ của Israel. Nó bao gồm ba giai đoạn. Đầu tiên, một hy tế được dâng lên tượng trưng cho những người muốn hiến thân cho Chúa. Thứ hai, bàn thờ tượng trưng cho Chúa. Hành động đặt hy lễ lên bàn thờ thể hiện một cách tượng trưng rằng Israel tự hiến cho Thiên Chúa và sau đó Thiên Chúa chấp nhận lễ vật của họ. Bằng hành động chấp nhận lễ vật, Chúa cho nạn nhân chia sẻ cuộc sống của Ngài. Cuối cùng, nạn nhân, theo nghĩa biểu tượng 'sống trong Chúa', sẽ bị ăn thịt. Hết thảy mọi người có thể chia sẻ một bữa ăn với Thiên Chúa, một dấu hiệu của sự hiệp thông với Thiên Chúa." Ăn thức ăn có nghĩa là được chia sẻ với sự sống của Thiên Chúa. Thiên Chúa làm cho dân của Ngài nên thánh và để họ thông phần sự sống thần linh của mình. Kitô giáo sơ khai áp dụng hình ảnh biểu tượng này để mô tả cái chết của Chúa Giêsu[6]

Tương tự như vậy, Chúa Giêsu tự hiến mình cho Thiên Chúa Cha như là nạn nhân của tội lỗi con người. Với sự hy sinh mạng sống của mình trên Thập giá, Chúa Giêsu tràn đầy sự thánh thiện của Thiên Chúa. Những người chia sẻ lòng tin và sự trung tín của Chúa Giêsu cũng có thể chia sẻ sự thánh thiện của Thiên Chúa. Cái chết của Chúa Giêsu trở thành một của lễ hoàn hảo, được Thiên Chúa chấp nhận khi Thiên Chúa cho Ngài sống lại từ cõi chết và đặt Ngài ngồi bên hữu Chúa Cha. Chỉ có hiến lễ của Chúa Giêsu là hiến lễ hoàn hảo; không cần bất kỳ hiến tế nào khác. bằng việc kết hợp với lễ vật của Chúa Giêsu, các tín hữu có thể chia sẻ sự thánh thiện của Chúa Kitô. Viễn cảnh này được thể hiện trong việc cử hành Kitô giáo về Bí tích Thánh Thể là bữa ăn hiến lễ của Lề luật mới. Điều này giúp các tín hữu tham dự vào sự hiệp thông với Chúa Kitô và Thiên Chúa. Càng hiệp thông với Thiên Chúa bao nhiêu, họ càng có thể chia sẻ sự thánh thiện của Ngài bấy nhiêu.[7]

Máu của Chúa Giêsu là nguồn cứu rỗi của chúng ta

Thánh Phao-lô tin rằng chúng ta được cứu bởi máu của Chúa Giê-su (Ep 1: 7). Nhờ máu này, Thiên Chúa ban ơn cứu chuộc cho những người tin vào Chúa Giê-su. Nhờ máu Chúa Giêsu, các tín hữu nhận được sự tha thứ của Thiên Chúa (Rm 3:25). Thiên Chúa vui lòng hòa giải tất cả mọi thứ vì Chúa Giêsu: "cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hoà giải với mình. Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời" (Col 1: 19-20). Đối với Luttenberger, thông qua những thông điệp Thánh Kinh này, các tác giả nêu bật cách chết của Chúa Giêsu, sự đổ máu của Ngài. Điều này nhấn mạnh sự tàn bạo của cái chết mà Chúa Giêsu chịu. Sự lặp lại của hình ảnh này khiến chúng ta nghĩ rằng Chúa Giêsu đã hoàn thành việc cứu chuộc tội nhân qua việc đổ máu của mình[8]

Đối với người Do Thái, máu là nguồn mạch của sự sống. Do đó, khi chấp nhận lễ vật, Chúa làm cho nạn nhân được chia sẻ sự sống của chính mình. Máu của nạn nhân, một cách tượng trưng, trở thành người mang sự sống của Thiên Chúa. Những ai được rảy máu này sẽ nhận được hiệu quả của ơn cứu chuộc, và do đó có thể thông phần vào sự sống của Thiên Chúa. Việc con người đoàn tụ với Thiên Chúa làm vui lòng Chúa Cha, và nhờ đó họ trở thành anh chị em ruột thịt của Chúa.[9]

Các Kitô hữu tiên khởi rất vui khi hiểu rằng hành động làm đẹp lòng Thiên Chúa và hiệp nhất với Ngài qua cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu là quà tặng của Thiên Chúa. Giao ước mới được đóng dấu bằng máu của Chúa Giêsu. Giao ước này là một lời cam kết trung thành và hiệp thông giữa Thiên Chúa và dân của Người. Các Kitô hữu vui mừng cử hành Bí tích Thánh Thể để tưởng nhớ Chúa Giêsu đã đổ máu mình, máu ban cho họ sự tha thứ tội lỗi (Mt 26:28). Chúa Giêsu, một người mang sự sống của Thiên Chúa, không ngừng dâng mình như một món quà của Thiên Chúa để kết hợp tất cả mọi người với chính Thiên Chúa. Việc chia sẻ máu thịt của Chúa Giêsu tượng trưng cho sự duy trì và chứng thực của sự kết hiệp đó.[10]

Cái chết của Chúa Giêsu theo Karl Rahner

Luttenberger chỉ ra ba giai đoạn trong suy nghĩ của Karl Rahner về cái chết của Chúa Giê-su: cái chết như một sự kiện tự nhiên, cái chết là một sự kiện cá nhân, và cái chết là một hình phạt cho tội lỗi.

Thứ nhất, cái chết như một sự kiện tự nhiên.[11] Cái chết là một thời điểm cần thiết cho sự kết thúc của một người trong lịch sử nhân loại. Từ thời điểm này, con người có thể chuyển sang tồn tại xuyên thời gian.[12] Đối với Rahner, việc con người là sự kết hợp giữa vật chất và tinh thần cho thấy rằng đương nhiên sẽ đi đến một thời điểm tách biệt giữa linh hồn và thể xác. Sự phân rã của mọi sinh vật tổng hợp là không thể tránh khỏi. Con người là thực thể tự nhiên, vì vậy sinh, lão, bệnh, tử và chia lìa thuộc về quá trình phát triển tự nhiên. Đỉnh cao của quá trình này là sự tách biệt giữa linh hồn và thể xác. Cơ thể không còn biểu hiện của sự sống nữa.[13]

Tuy nhiên, linh hồn không phải là tinh thần thuần túy, nó cần giữ mối quan hệ của nó với vật chất. Rahner tin rằng sau khi rời khỏi cơ thể, linh hồn con người không còn bị ràng buộc bởi sự giới hạn của không gian, thời gian và vật chất. Linh hồn bảo tồn sự giao tiếp với toàn thế giới.[14] Chết không phải là chấm dứt sự sống, nhưng là lúc linh hồn bắt đầu một cuộc sống trong tương quan rộng lớn hơn, một cuộc sống rộng mở hơn.[15]

Sau khi chết, nhân tính Chúa Giê-su không còn bị giới hạn bởi không gian và thời gian nữa. Ngài đã hiện diện với toàn thể thế giới và với tất cả mọi người trong mọi lúc.[16] Theo lời của Luttenberger, sau khi chết, Chúa Giêsu có thể ở cùng với những ai đã trải nghiệm quyền năng cứu rỗi của Ngài để cầu nguyện, rao giảng Lời Chúa, cử hành Bí tích Thánh Thể; Ngài có thể được nhận ra trong sự hiện diện của mình với cuộc sống năng động của Giáo hội, như một dân tộc vừa hữu hình vừa vô hình. Dân tộc đó đã trở thành thân thể của Ngài.[17]

Thứ hai, cái chết là một sự kiện cá nhân. Cái chết tấn công ý thức và tự do của con người. Tự do và tự chủ của con người buộc phải chấp nhận cái chết. Cái chết đưa con người đến quyết định cuối cùng của cuộc đời họ, quyết định này được thực hiện bởi ý chí tự do của họ. Đây là thời điểm để chúng ta đúc kết toàn bộ những hành động trong suốt cuộc sống của chúng ta, thực sự đưa ra một tuyên bố vĩnh viễn về con người chúng ta thực sự là ai và đã trở thành người như thế nào. Cách chết phản ánh và tóm tắt lại toàn bộ cuộc sống của chúng ta. Trong cuộc sống của chúng ta, chúng ta đã thực hiện một loạt các lựa chọn và từ chối một loạt các giá trị bởi ý chí tự do của chúng ta. Khi chúng ta sống cuộc sống của mình, chúng ta không ngừng củng cố ý chí tự do của mình trong việc tập trung vào các giá trị phù hợp và khẳng định lại chúng, thường là giá trị bản thân. Thời điểm của cái chết là khoảnh khắc để chúng ta hoàn thiện các giá trị mà chúng ta đã chọn lựa trong cuộc sống của mình. Hành động này được hoàn thành một lần cho cuộc sống trần gian của chúng ta[18].

Khi chết, Chúa Giê-su đã tóm kết toàn bộ tự do và cuộc đời trần thế của Ngài.[19] Chúa Giê-su đã đưa ra tất cả những quyết định cho việc chọn lựa những giá trị thích hợp theo ý chí tự do của Ngài. Ngài đã tín thác vào Chúa Cha; ngài đã sống cho tha nhân; Ngài đã yêu thương nhân loại và tha thứ cho những ai cần đến lòng thương xót của Ngài. Khi cận kề cái chết và khi chết, Ngài đã bày tỏ sự trung thành, tin tưởng, yêu thương và tha thứ một cách dứt khoát.[20] Trong lúc yêu thương và tin tưởng cho đến khi chết, Chúa Giêsu đã hoàn tất tình yêu và niềm tin của mình. Vào lúc chết, Chúa Giê-su đã khẳng định một cách vĩnh viễn những lựa chọn của Ngài, sự vị tha của Ngài trong tình yêu, niềm tin vững chắc của Ngài dành cho Chúa Cha.[21] Do đó, bây giờ Ngài có thể nói với các tín đồ của mình: "Này là mình thầy, sẽ bị nộp vì các con", và nói với Chúa Cha: "Cha ơi, trong tay Ngài, con xin phó thác linh hồn con." Vào lúc chết, không chỉ Chúa Giêsu, mà cả tất cả loài người đều vĩnh viễn tóm kết toàn bộ tự do của mình cho đến muôn đời. Cái chết là cách duy nhất mà Chúa Giêsu có được sự chung cuộc và viên mãn của đời mình, Đấng đã thể hiện sự thành tín và yêu thương cho mọi người qua mọi thời đại. Qua cái chết, Chúa Giêsu, trong nhân tính của mình, làm viên mãn chính mình, là Con trung thành của Chúa Cha, là hiện thân của tình yêu thương xót của Thiên Chúa đối với chúng ta, và là món quà dễ được chấp nhận nhất đối với Chúa Cha mãi mãi.[22]

Thứ ba, cái chết bắt nguồn từ tội nguyên tổ A-đam.[23] Tội lỗi làm suy yếu đức tin và niềm tín thác. Quyết tâm đưa ra quyết định của tình yêu trở nên mong manh. Ý chí tự do của con người không chắc chắn và kiên vững đối với lòng trung thành. Con người sau đó tự hỏi không biết Thiên Chúa có chấp nhận hành động ăn năn của họ không? Tình trạng tương lai của con người sau khi chết trở nên tối tăm và mơ hồ. Họ tự hỏi liệu họ có thể đạt được sự cứu rỗi hay không? Bóng tối của cái chết này phải được hiểu là hậu quả của tội lỗi. Vì tội lỗi, A-đam và con cháu của ông đã phá vỡ mối quan hệ của họ với Thiên Chúa là nguồn mạch sự sống của họ. Họ đã trở nên yếu đuối để có được một kết cục thành công cho cái chết của họ. Cái chết bao gồm bóng tối và nguy cơ chấm dứt những ham muốn và hy vọng của con người[24]

Hơn nữa, hậu quả của tội lỗi làm cho con người nhận ra rằng họ thiếu hụt sự trợ giúp đầy quyền năng của Chúa Thánh Thần. Đây là những gì Rahner hiểu là hình phạt cho tội lỗi. Vào thời điểm họ chết, con người trải nghiệm sự yếu đuối của họ trong việc đạt được mối tương giao hoàn hảo với Thiên Chúa, là nguồn trao ban sự sống đầy yêu thương duy nhất của đời họ. Hình phạt không phải là cái chết, tự nó, mà là cách chết mà họ phải đối mặt. Bóng tối và sự đe dọa bị mất phần rỗi là hình phạt của tội lỗi con người.[25]

Chúa Giêsu, với tư cách là một con người phải chịu cái chết và đối mặt với bóng tối của sự chết, không phải vì tội lỗi của Ngài (vì Ngài chưa bao giờ phạm tội), nhưng vì hậu quả của tội lỗi A-đam đã ảnh hưởng đến tất cả con cháu của ông.[26] Nhưng cách mà Chúa Giêsu đối mặt với cái chết và cách mà Thiên Chúa chấp nhận cái chết của Ngài đã biến đổi thực tại của con người về cái chết cho mọi thời đại.[27] Bóng tối và mối đe dọa bị kết án mãi mãi biến thành chiến thắng và sự cứu chuộc cuối cùng. Đối mặt với bóng tối trong lúc chết, Chúa Giê-su kết thúc cuộc đời mình trong sự "đầu hàng" đầy tín thác vào Chúa Cha. Hành động này làm cho thời gian chết của Chúa Giêsu trở thành thời gian của ánh sáng và sự sống. Mối đe dọa trong đó con người bị tách rời khỏi tự do, bị mất đi cuộc sống cá nhân và tình yêu đã biến thành cơ hội cho Chúa Giêsu và cho tất cả những người theo Ngài, đó là sử dụng tự do của họ để đạt được sự hiệp nhất với tất cả trong tình yêu và cuộc sống vĩnh cửu. Điều quan trọng mà chúng ta phải nhấn mạnh là Chúa Giêsu đã đối mặt với cái chết của mình với sự tôn kính, vâng phục và tin tưởng hoàn toàn vào Thiên Chúa.[28]

Thần học gia P. De Letter chỉ ra rằng cái chết của Chúa Kitô "có nghĩa là từ bỏ thoả mãn trong tội lỗi của loài người: Sự dâng tặng cho Thiên Chúa một món quà quý giá hơn và một vinh quang lớn hơn mà đã bị tội lỗi của loài người từ chối. Bằng cái chết tự hiến xuất phát từ tình yêu giành cho Thiên Chúa và loài người, Chúa Kitô đã xứng đáng là sự cứu chuộc và nguồn mạch các ân sủng cho loài người chúng ta, bao gồm việc loại bỏ trở ngại cho ân sủng là tội lỗi. "[29] Khi chấp nhận đau khổ và cái chết, Chúa Kitô là người duy nhất có thể gánh lấy tội lỗi của chúng ta trong vai trò là người lãnh đạo mới của Giáo hội, và sau đó trao ban vinh quang chiến thắng. Ngài giải thoát chúng ta khỏi cảnh nô lệ của Satan, giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi và sự chết; biến cái chết của chính chúng ta thành một sự chia sẻ trong mầu nhiệm vượt qua của Ngài. Khi khôi phục ân sủng và lời hứa cho tất cả các ân huệ nguyên thuỷ, Chúa Kitô sửa chữa lại bản tính dễ sa ngã của chúng ta và đem lại sự hòa giải giữa con người và Thiên Chúa Cha. Cái chết của Ngài trao ban sự cứu chuộc và hòa giải, nó cho thấy sự biến đổi bản chất của cái chết cho những người chết trong Chúa Kitô. Việc cử hành tưởng niệm sự chết và phục sinh của Chúa Kitô được cử hành vĩnh viễn trong trong phụng vụ trên trời (xem Dt 7: 24-25) và trong việc cử hành Thánh Thể. Chết với Chúa Kitô là cách để ta tiếp cận vinh quang của Thiên Chúa.[30]

Ta hãy kết thúc bằng lời nguyện khai mạc trong cuộc cử hành cuộc thương khó của Chúa: "Lạy Chúa, từ lòng mẹ, chúng con đã phải mang án chết do tội A-đam truyền lại, nhưng nhờ mầu nhiệm Con Chúa chịu khổ hình, Chúa đã tiêu diệt sự chết. Vậy giờ đây, xin Chúa ban ơn thánh hoá biến đổi chúng con nên giống hình ảnh A-đam mới là Đức Ki-tô, Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời." (Uỷ ban phụng tự trực thuộc hội đồng giám mục Việt Nam, Sách lễ Roma, 1992).

Lm. Văn Minh, CSJB
http://giaophanthanhhoa.net/than-hoc/hieu-qua-phat-sinh-tu-cai-chet-cua-chua-giesu---lm-van-minh-csjb-33658.html
--------------------------------------------------------------------------------

[1] Gerard H. Luttenberger, An Introduction to Christology in the Gospel and Early Church, Kindle (Connecticut: Twenty-Third Publications, 2012), Kindle Locations 3062-64.

[2] Gerard H. Luttenberger, Kindle locations 3083-84.

[3] Ibid., Kindle locations 3097-98.

[4] Gerard H. Luttenberger, Kindle locations 3099-3104.

[5] Gerard H. Luttenberger, Kindle locations 3013-3108.

[6] Gerard H. Luttenberger, Kindle locations 3116-28.

[7] Gerard H. Luttenberger, Kindle locations 3130-38.

[8] Gerard H. Luttenberger, kindle locations 3138-45.

[9] Gerard H. Luttenberger, Kindle locations 3147-51.

[10] Gerard H. Luttenberger, Kindle locations 3151-58.

[11] Karl Rahner, On the Theology of Death (New York: Herder & Herder, 1961), 21–34.

[12] Gerard H. Luttenberger, An Introduction to Christology in the Gospel and Early Church, Kindle location 3223.

[13] Gerard H. Luttenberger, Kindle locations 3222-29.

[14] Karl Rahner, On the Theology of Death, 29–30.

[15] Gerard H. Luttenberger, An Introduction to Christology in the Gospel and Early Church, Kindle locations 3234.

[16] Karl Rahner, On the Theology of Death, 71-75. Cf. Gerard H. Luttenberger, An Introduction to Christology in the Gospel and Early Church, Kindle (Connecticut: Twenty-Third Publications, 2012), Kindle Locations 3235-36.

[17] Gerard H. Luttenberger, An Introduction to Christology in the Gospel and Early Church, Kindle locations 3236-39.

[18] Karl Rahner, On the Theology of Death, 35–39. Cf. Gerard H. Luttenberger, An Introduction to Christology in the Gospel and Early Church, Kindle (Connecticut: Twenty-Third Publications, 2012), Kindle Locations 3239-48.

[19] Cf. Karl Rahner, 69–71.

[20] Gerard H. Luttenberger, An Introduction to Christology in the Gospel and Early Church, Kindle location 3252.

[21] Gerard H. Luttenberger, Kindle Locations 3252-54.

[22] Gerard H. Luttenberger, Kindle locations 3250-58.

[23] Karl Rahner, On the Theology of Death, 352–55.

[24] Gerard H. Luttenberger, An Introduction to Christology in the Gospel and Early Church, Kindle locations 3259-67.

[25] Gerard H. Luttenberger, Kindle locations 3267-72.

[26] Karl Rahner, On the Theology of Death, 69.

[27] Gerard H. Luttenberger, An Introduction to Christology in the Gospel and Early Church, Kindle location 3274.

[28] Gerard H. Luttenberger, Kindle locations 3278-80.

[29] De Letter, “Jesus Christ (In Theology),” 824.

[30] De Letter, 824.

Sunday, April 9, 2023

Lịch sử và các truyền thống ngày Thứ Bảy Tuần Thánh

 



D.D. Emmons 

Nếu bạn mừng Lễ Vượt Qua tại Giêrusalem vào năm 30 Công nguyên, có thể bạn nghe tin Hội đồng Sanhedrin đã bắt Đức Giêsu Nazarét. Ngài bị buộc tội phạm thượng – một tội chết theo luật lệ Do Thái. Nhưng người Do Thái không có quyền thi hành hình phạt này và đã thuyết phục quân đội Rôma đang chiếm đóng rằng Đức Giêsu cũng phạm tội nổi loạn và xúi giục dân chúng nổi lên chống đối Rôma. Quan Philatô của Rôma không tìm thấy lỗi phạm nghiêm trọng nào của Đức Giêsu nhưng rốt cuộc đã nhượng bộ cho những đòi hỏi của người Do Thái. Đức Giêsu bị đóng đinh và chôn cất trong mộ.

Hôm sau cuộc Đóng Đinh là ngày sabát của người Do Thái, một ngày được dành riêng cho Thiên Chúa, ngày không được làm việc. Đó là ngày thứ Bảy, được biết là ngày Thứ Bảy Tuần Thánh – một phần của Tam Nhật Phục Sinh. Những người đi theo Đức Kitô bị suy sụp vì đau buồn đã phải chỗi dậy vào ngày ấy trong một trạng thái hoang mang, vẫn còn chao đảo vì những biến cố của ngày thứ Sáu. Có thể nào người mà họ gọi là Đấng Cứu Thế đã chết sao? Làm sao điều này xảy ra được? Cũng như ngày nay khi chúng ta kinh nghiệm được sự u ám của ngày Thứ Bảy Tuần Thánh, chúng ta cũng hoang mang chút ít, dù chúng ta đã biết câu chuyện kết thúc như thế nào. Đó là một ngày u buồn và tăm tối, nhưng chúng ta biết sự u buồn và tăm tối cuối cùng sẽ dẫn tới niềm vui. Chúng ta biết rằng Đấng Cứu Thế của chúng ta đã phục sinh. Ngôi mộ không còn nhốt được Ngài nữa.

Lính canh ở ngôi mộ

Chỉ có Tin Mừng Matthêô là có đề cập đến các biến cố xảy ra ở đấy vào ngày sabát, ngày Thứ Bảy Tuần Thánh. Vào ngày hôm sau cuộc Đóng Đinh, người Do Thái (những người phái Pharisiêu) đi đến quan Philatô và hỏi xin ông đặt lính canh tại ngôi mộ Đức Giêsu (Mt 27,63-65). Họ nói với Philatô rằng: “Thưa ngài, chúng tôi nhớ tên bịp bợm ấy khi còn sống có nói: ‘Sau ba ngày, Ta sẽ trỗi dậy’. Vậy xin quan lớn truyền canh mộ kỹ càng cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đệ hắn đến lấy trộm xác rồi phao trong dân là hắn đã từ cõi chết trỗi dậy. Và như thế, chuyện bịp cuối cùng này sẽ còn tệ hại hơn chuyện trước”. Philatô đồng ý, và một toán lính canh hay nhiều toán lính canh đã đứng cang giữ ngôi mộ.

Khá mỉa mai là kẻ thù của Đức Giêsu đã nghĩ rằng Ngài sẽ chỗi dậy từ cõi chết nhưng bạn bè của Ngài dường như kém quả quyết về điều đó. “Sau ngày sabát, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa ló rạng, bà Maria Mácđala và một bà khác cũng tên là Maria, đi viếng mộ. Thình lình, đất rung chuyển dữ dội: thiên thần Chúa từ trời xuống, đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên; diện mạo người như ánh chớp, và y phục trắng như tuyết. Thấy người, lính canh khiếp sợ, run rẩy chết ngất đi” (Mt 28,1-4).

Thiên thần nói với các chị rằng “Người không có ở đây, vì Người đã trỗi dậy như Người đã nói” (Mt 28,6). Lính canh chạy đến các thượng tế, tường thuật lại tình hình và được đút lót để nói rằng “Ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ của hắn đã đến lấy trộm xác” (Mt 28,13). Làm thế nào mà họ biết được ai đã trộm xác trong khi họ đang ngủ? Điều đó đã chứng minh rằng họ nói láo. Trong khi người Do Thái cử hành ngày sabát và người Rôma ngủ ở ngôi mộ thì Đức Giêsu làm phép lạ.

Xuống ngục tổ tông (âm phủ)

Có một điều khác đang xảy ra vào ngày Thứ Bảy Tuần Thánh – điều mà vài người trong chúng ta bỏ sót hay không hiểu hết - một điều không được đề cập đến trong Kinh Thánh: “Ngài đã xuống ngục tổ tông” (descendit ad inferos). Đây là điều được trích từ Kinh Tin Kính Các Tông Đồ - một tín điều của người Công Giáo. Đức Giêsu đã xuống ngục tổ tông hay âm phủ, nơi mà Ngài mặc dù đang bị đóng đinh, đã chết và đã mai táng, song Ngài đã thực hiện một phép lạ khác là “Tình yêu đã thâm nhập vào âm phủ”.[1] Các Giáo phụ và nhiều người khác đã giải thích rằng “ngục tổ tông” được sử dụng trong Kinh Tin Kính Các Tông Đồ không nói đến một nơi kết án đời đời hay Gehenna. Không, nơi mà Đức Giêsu xuống là “Sheol”, một từ trong tiếng Do Thái để chỉ “âm phủ”. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo nói: “Kinh Thánh gọi nơi trú ngụ của các vong linh là âm phủ (Sheol trong tiếng Do Thái) hoặc âm ty (Hadés trong tiếng Hy Lạp) (x. Pl 2,0; Cv 2,24; Kh 1,18; Ep 4,9). Trước khi Đấng Cứu Chuộc đến, mọi người đã chết, dù lành hay dữ (x. Tv 89,49; Is 28,19; Ed 32,17-32), đều phải vào chốn này. Ở đó, họ không được nhìn thấy Thiên Chúa (x. Tv 6,6; 88, 1-13) và đang chờ đợi Đấng Cứu Chuộc. Số phận của họ không giống hệt nhau, như Đức Giêsu cho thấy qua dụ ngôn Ladarô nghèo khổ được rước vào "lòng Ápraham" (x. Lc 16,22-26). "Khi xuống ngục tổ tông, Đức Giêsu giải thoát chính những tâm hồn lành thánh "trong lòng Ápraham" ấy đang chờ đợi Đấng giải thoát" (x. Giáo lý Rôma 1.6,9). Đức Giêsu xuống ngục tổ tông không phải để giải thoát những kẻ bị án phạt đời đời hoặc để phá hủy địa ngục đọa đày (x. DS 1011; 1077), nhưng để giải thoát những người công chính đã chết trước khi Người đến (x. Công đồng Tôlêđô IV năm 625: DS 485; Mt 27,52-53)” (GLHTCG, Số 633). Đức Giêsu phân biệt Gehenna là nơi “nơi giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt” (Mc 9,48). Như vậy, Đức Giêsu không xuống Gehenna mà xuống Sheol.

Mãi cho đến cuộc Đóng Đinh, “người công chính” thuộc các kỷ nguyên từ lúc bắt đầu thời gian đang chờ đợi trong Sheol (“ngục tổ tông” hay “âm phủ”) để vào nước trời; giờ đây, Đức Giêsu hiến tặng cho họ sự sống đời đời trước mặt Thiên Chúa. “Chúa xuống âm phủ”, bài đọc 2 trích một phần trong bài giảng cổ đọc trong Phụng vụ giờ kinh sách thứ Bảy Tuần Thánh nói rằng: “Ta là Thiên Chúa của ngươi, mà vì ngươi Ta đã thành con của ngươi; giờ đây vì ngươi và vì những kẻ do ngươi sinh ra, Ta phán, và dùng quyền ra lệnh cho những kẻ đang bị xiềng xích: Hãy ra khỏi đây! cho những ai đang ngồi nơi tăm tối: Bừng sáng lên! cho những kẻ đang ngủ mê: Hãy chỗi dậy! Ta đâu dựng nên ngươi để ngươi bị giam cầm trong cõi âm ty! Chỗi dậy đi nào, từ chốn tử vong! Ta là sự sống của những kẻ chết. Chỗi dậy đi, hỡi công trình tay ta nhào nặn ! Chỗi dậy đi, hỡi hình tượng của Ta, đã được dựng nên giống hình ảnh Ta ! Nào chỗi dậy, chúng ta đi khỏi đây”.

Vọng Phục Sinh

Trong lịch sử Giáo Hội, Vọng Phục Sinh không phải luôn bắt đầu vào đêm thứ Bảy Tuần Thánh. Khoảng gần thế kỷ IV, canh thức đêm thứ Bảy gồm Nghi thức thắp nến, phụng vụ Lời Chúa, phụng vụ Phép Rửa và phụng vụ Thánh Thể, kéo dài cho đến nửa đêm, đã được tuân giữ rộng rãi. Bắt đầu vào thế kỷ VIII, canh thức bắt đầu vào chiều thứ Bảy, và vào thế kỷ XII, nó được chuyển sang bắt đầu vào sáng thứ Bảy. Đức Thánh Giáo Hoàng Piô V (1566-1572) đã ban hành một tông sắc vào năm 1566 cấm bất cứ Thánh Lễ nào bắt đầu sau buổi trưa; như vậy, canh thức vào sáng thứ Bảy là bắt buộc. Phần nào đó, lý do cử hành canh thức vào ban ngày là bởi vì thứ Bảy Tuần Thánh là ngày ăn chay nhặt, và người ta buộc phải ăn chay mãi cho đến sau khi rước lễ cho nên canh thức vào thời gian ban đêm thì trễ quá.

Cử hành những nghi thức canh thức vào ban ngày dường như là điều khá lạ lẫm đối với chúng ta ngày nay, nhưng không phải chỉ mình chúng ta mới có ý nghĩ đó. Chẳng hạn, năm 1904, cha Herbert Thurston đã viết trong cuốn sách của mình, cuốn “Lent and Holy Week”,[2] rằng “thật khó cho chúng ta khi tự thuyết phục mình rằng mặt trời đã lặn vào buổi sáng thứ Bảy, đồng hồ đã xoay đi hết vòng, và rằng 24 giờ đã trôi qua từ khi Chúa chúng ta được đặt trong mồ. Tuy nhiên, đó là nỗ lực tưởng tượng mà Giáo Hội đòi hỏi chúng ta”. Giờ giấc kiểu này đã lấy đi tính biểu tượng gắn liền với Nghi thức thắp nến và các biến cố thánh diễn ra trong màn đêm được sử dụng để suy tư về sự phục sinh của Đức Giêsu vào buổi sáng ngày Phục Sinh. Vào thập niên 1950, một ngàn năm sau đó, Giáo Hội đã đưa cử hành canh thức bắt đầu trở lại với màn đêm của tối thứ Bảy Tuần Thánh.
 

Không có cử hành nào khác

Trong một thông tư vào tháng 2 năm 1988 về “việc chuẩn bị và cử hành lễ phục sinh”, Thánh bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích đã viết: “Thứ Bảy Tuần Thánh, Giáo hội ở bên cạnh mồ Chúa để suy niệm việc Chúa chịu thương khó, chịu chết và xuống ngục tổ tông; đồng thời ăn chay và cầu nguyện để trông đợi Chúa Phục Sinh. Hôm nay, cố gắng hết sức để có thể cử hành giờ Kinh Sách và Kinh Sáng chung với giáo dân. Ở đâu không cử hành được thì cử hành Phụng vụ Lời Chúa hoặc làm các việc đạo đức khác thích hợp với mầu nhiệm cử hành hôm nay. Nên trưng bày trong nhà thờ hình ảnh Chúa Kitô chịu đóng đinh trên thánh giá, hoặc táng xác trong mồ, hoặc xuống ngục tổ tông minh họa mầu nhiệm ngày Thứ Bảy Tuần Thánh, cũng như hình ảnh Đức Mẹ Sầu Bi, để giáo dân suy niệm và cầu nguyện”.
 
[1] Đức Bênêđictô XVI, Suy niệm Chúa Nhật V Phục Sinh, ngày 2 tháng 5 năm 2010.
[2] Herbert Thurston, Lent and Holy Week: Chapters on Catholic Observance and Ritual, Longmans, Green, 1904, 487 trang.
 
----------------------------------------------------------
 Lịch sử và truyền thống của Thứ Bảy Tuần Thánh


LỊCH SỬ VÀ TRUYỀN THỐNG CỦA THỨ BẢY TUẦN THÁNH

D. D. Emmons

WHĐ (15.4.2022) - Nếu có mặt vào thời điểm cử hành Lễ Vượt Qua ở Giêrusalem vào năm 30, chúng ta có thể nghe kể về một Công nghị Do thái đã bắt giữ, xét xử và kết án Chúa Giêsu người Nazarét về tội phạm thượng, một tội danh có thể bị kết án tử hình theo luật Do thái. Nhưng người Do thái không có đủ thẩm quyền để thực hiện bản án này, nên họ đã nại đến Philatô, viên Tổng trấn Roma, để kết án Chúa Giêsu về tội phản loạn chống lại Roma. Mặc dù không thể tìm ra lỗi nghiêm trọng nào nơi Chúa Giêsu, nhưng vì bị khuất phục trước yêu cầu của người Do thái, Philatô đã kết án đóng đinh Người. Và thực, Chúa Giêsu đã chết trên thập giá và được mai táng trong mồ.

Ngay sau ngày Chúa Giêsu bị đóng đinh là ngày Sabát của người Do Thái, ngày dành riêng cho Thiên Chúa, không ai được làm bất cứ việc gì. Đó là thứ Bảy, ngày mà chúng ta gọi là Thứ Bảy Tuần Thánh - một phần của Tam Nhật Vượt Qua. Nỗi đau buồn của các môn đệ chắc hẳn càng tăng lên vào ngày hôm nay vì những biến cố của ngày Thứ Sáu. Làm sao người mà họ gọi là Đấng Mêsia lại có thể chết được? Làm sao điều thảm khốc này lại có thể xảy ra? Ngày nay, khi trải nghiệm sự u ám của Thứ Bảy Tuần Thánh, chúng ta có lẽ cũng có chút bối rối, mặc dù chúng ta đã biết câu chuyện kết thúc như thế nào rồi. Đây là một ngày ảm đạm và tăm tối, nhưng sự u ám và bóng tối cuối cùng đã nhường chỗ cho niềm vui và ánh sáng. Đấng Cứu Độ chúng ta đã phục sinh. Người đã bước ra khỏi mồ.

Lính canh tại ngôi mộ

Chỉ duy Phúc âm Matthêu đề cập đến các sự kiện diễn ra vào ngày Sabát, Thứ Bảy Tuần Thánh. Ngay sau ngày Đức Giêsu bị đóng đinh, những người Do Thái (người Pharisiêu) đã đến gặp Philatô và yêu cầu ông cho lính canh gác mộ của Người (x. 27, 63-65). Họ nói với Philatô: “Thưa ngài, chúng tôi nhớ tên bịp bợm ấy khi còn sống có nói: ‘Sau ba ngày, Ta sẽ chỗi dậy’. Vậy xin quan lớn truyền canh mộ kỹ càng cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đệ hắn đến lấy trộm hắn đi, rồi phao với dân là hắn đã từ cõi chết chỗi dậy. Và như thế, chuyện bịp bợm cuối cùng này sẽ còn tệ hại hơn chuyện trước". Philatô đồng ý, và lính đã được phái đến để canh gác ngôi mộ.

Thật là trớ trêu, khi những kẻ chống đối Đức Kitô thì nghĩ rằng Người sẽ sống lại từ cõi chết nhưng những người thân của Người lại có vẻ như không chắc về điều này lắm. “Sau ngày sabát, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa ló rạng, bà Maria Mácđala và một bà Maria khác, đi viếng mộ. Và kìa, đất rung chuyển dữ dội: thiên thần Chúa từ trời xuống, đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên; diện mạo người như ánh chớp, và y phục trắng như tuyết. Thấy người, lính canh khiếp sợ, run rẩy và hóa ra như chết” (Mt 28, 1-4).

Thiên thần nói với các bà rằng “Người không có ở đây, vì Người đã chỗi dậy như Người đã nói” (Mt 28, 6). Các lính canh liền đến gặp các thượng tế, báo cáo tình hình và được mua chuộc để nói rằng “Ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ của hắn đã đến lấy trộm hắn đi” (Mt 28, 13). Làm sao họ có thể biết được ai đã đánh cắp xác khi họ đang ngủ, điều này vô hình trung tiết lộ lời nói dối của họ. Trong khi người Do Thái cử hành ngày Sabát, lính canh người Roma ngủ tại mộ, thì Chúa Giêsu thực hiện một phép lạ!

Xuống ngục Tổ tông

Ngoài những cảm xúc mang lại cho chúng ta, ngày Thứ Bảy Tuần Thánh còn xảy ra một sự việc khác, sự việc mà chúng ta thường bỏ qua hoặc chưa nhận thức được cách thấu đáo. Đây cũng là sự việc không được Kinh thánh đề cập: “Người đã xuống ngục Tổ tông”. Câu này được trích từ Kinh Tin Kính các Tông đồ - một tín điều mà mọi người Công giáo đều phải tin. Chúa Giêsu xuống ngục Tổ tông, nơi mà Người, mặc dù bị đóng đinh, bị chết và bị mai táng, đã thực hiện một phép lạ khác: “Tình yêu thâm nhập địa ngục” (Đức Bênêđíctô XVI, ngày 2. 5. 2010).

Các Giáo Phụ và những nhà thần học đã giải thích rằng “ngục tổ tông” như được sử dụng trong Kinh Tin Kính các Tông đồ không ám chỉ đến nơi bị nguyền rủa vĩnh viễn. Không, nơi Chúa Giêsu xuống là “Sheol”, tiếng Do Thái có nghĩa là âm phủ. Sách Giáo lý Giáo hội Công giáo dạy rằng: “Thánh Kinh gọi nơi ở của những người chết, mà Đức Kitô khi chết đã xuống, là âm phủ, Sheol (tiếng Do-thái) hoặc Hades (tiếng Hy-lạp), bởi vì những kẻ ở đó không được nhìn thấy Thiên Chúa… Chúa Giêsu không xuống ngục tổ tông để giải thoát những kẻ đã bị kết án hoặc để phá hủy địa ngục đọa đày, nhưng để giải thoát những người công chính đã chết trước khi Người đến” (GLCG số 633). Chúa Giêsu phân biệt hoả ngục là nơi “giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt” (Mc 9, 48). Chúa Giêsu không xuống hoả ngục.

Cho đến khi Chúa Giêsu bị đóng đinh, những người “công chính” từ mọi thời đại kể từ thời sơ khai đã chờ đợi trong ngục tổ tông để vào thiên đàng; giờ đây, Chúa Giêsu ban cho họ sự sống đời đời trong sự hưởng kiến Thiên Chúa. Một đoạn của bài giảng cổ xưa về ngày Thứ Bảy Tuần Thánh, được đọc trong Giờ Kinh Sách Thứ Bảy Tuần Thánh, đã viết: “Bây giờ, Ta phán, và dùng quyền ra lệnh cho những kẻ đang bị xiềng xích: Hãy ra khỏi đây!, cho những ai đang ngồi nơi tăm tối: Bừng sáng lên!, cho những kẻ đang ngủ mê: Hãy chỗi dậy! Tỉnh giấc đi, hỡi người còn đang ngủ! Ta đâu dựng nên ngươi để ngươi bị giam cầm trong cõi âm ty… Chỗi dậy đi nào, chúng ta ra khỏi đây!


Đức Giáo hoàng Phanxicô thắp nến Phục sinh khi cử hành Lễ Vọng Phục sinh tại Vương cung thánh đường Thánh Phêrô, Vatican vào năm 2020.

Canh thức Vượt qua

Trong lịch sử Giáo hội, không phải lúc nào Lễ Vọng Phục sinh cũng bắt đầu vào đêm Thứ Bảy Tuần Thánh. Vào khoảng thế kỷ thứ IV, một buổi canh thức đêm thứ Bảy bao gồm Nghi thức Ánh sáng, Phụng vụ Lời Chúa, Phụng vụ Rửa tội và Phụng vụ Thánh Thể, kéo dài đến nửa đêm đã được cử hành rộng rãi. Bắt đầu vào thế kỷ thứ VIII, canh thức bắt đầu vào chiều thứ Bảy, và vào thế kỷ thứ XII, canh thức được chuyển sang sáng sớm thứ Bảy. Vào năm 1566, Thánh Giáo hoàng Piô V đã ban hành một sắc chỉ nghiêm cấm bất kỳ Thánh lễ nào bắt đầu sau buổi trưa Thứ Bảy Tuần Thánh; do đó, việc thực hành canh thức vào sáng Thứ Bảy là điều bắt buộc. Việc cử hành canh thức vào ban ngày một phần là do Thứ Bảy Tuần Thánh là ngày ăn chay ngặt, và mọi người nhịn ăn cho đến sau khi họ Rước lễ, nên canh thức ban đêm, thì quá muộn.

Việc cử hành các nghi lễ canh thức vào ban ngày có vẻ lạ lẫm đối với chúng ta ngày nay, và chúng ta không đơn độc với những suy nghĩ như vậy. Ví dụ, vào năm 1914, Cha Herbert Thurston đã viết trong cuốn sách của ngài có tựa đề “Mùa Chay và Tuần Thánh,” rằng “thật khó để chúng ta thuyết phục mình rằng: vào sáng thứ Bảy, mặt trời đã lặn, sự canh thức của chúng ta đã gần hoàn thành, đã hơn 24 giờ trôi qua kể từ khi Chúa Giêsu được đặt trong mồ. Tuy nhiên, đó là nỗ lực của trí tưởng tượng mà Giáo hội đòi hỏi chúng ta phải thực hiện.” Sự quyết định thời gian đã loại bỏ tính biểu tượng liên quan đến Nghi thức Ánh sáng, cũng như những cử hành thánh trong bóng tối giúp suy niệm về sự sống lại của Chúa Giêsu vào buổi sáng Phục sinh. Và rồi, vào những năm 1950, sau gần 10 thế kỷ, Giáo hội bắt đầu trở lại với việc canh thức vượt qua sau khi trời tối vào đêm Thứ Bảy Tuần Thánh.

Không có việc cử hành lễ mừng

Ở một số địa phương Công giáo Roma, Thứ Bảy Tuần Thánh là thời gian chỉ để chuẩn bị cho Lễ Vọng Phục sinh và có lẽ, để làm phép bánh Phục sinh. Mẹ Giáo hội nói với chúng ta rằng không được phép có thánh lễ cho đến khi canh thức, Mình Thánh chỉ được mang cho kẻ liệt, và cũng không được cử hành nghi thức hôn phối. Với các quy tắc liên quan đến Thứ Bảy Tuần Thánh, Giáo hội đã đưa ra những khuyến nghị về các hoạt động có thể dẫn các tín hữu Công giáo Roma đến gần hơn với ý nghĩa của ngày này.

Trong Thông tư của Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật các Bí Tích về việc chuẩn bị và cử hành Đại lễ Phục sinh được công bố vào tháng 2. 1988 có viết rằng: “Thứ Bảy Tuần Thánh, Giáo hội ở bên cạnh mồ Chúa để suy niệm việc Chúa chịu thương khó, chịu chết và xuống ngục tổ tông; đồng thời ăn chay và cầu nguyện để trông đợi Chúa Phục Sinh. Hôm nay, cố gắng hết sức để có thể cử hành giờ Kinh Sách và Kinh Sáng chung với giáo dân. Ở đâu không cử hành được thì cử hành Phụng vụ Lời Chúa hoặc làm các việc đạo đức khác thích hợp với mầu nhiệm cử hành hôm nay. Nên trưng bày trong nhà thờ hình ảnh Chúa Kitô chịu đóng đinh trên thánh giá, hoặc táng xác trong mồ, hoặc xuống ngục tổ tông minh hoạ mầu nhiệm ngày Thứ Bảy Tuần Thánh, cũng như hình ảnh Đức Mẹ Sầu Bi, để giáo dân suy niệm và cầu nguyện”.

Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm
Chuyển ngữ từ: Our Sunday Visitor (29.3.2022)

Friday, April 7, 2023

Phụng Vụ Mùa Phục Sinh: Nguồn Gốc, Ý Nghĩa Và Việc Cử Hành

I. Các lễ mừng Phục Sinh: Nguồn gốc và ý nghĩa

1. Lễ Phục sinh

a. Nguồn gốc

Lễ Phục Sinh có nguồn gốc từ lễ Vượt qua của Do Thái Giáo. Người Kitô hữu nhận ra qua cái chết và sự phục sinh, Đức Giêsu hoàn thành những gì biến cố Xuất Hành đã biểu hiện trước, đó là giải phóng con người khỏi sự dữ và đưa họ vào cuộc sống mới. Lễ mừng Chúa Giêsu sống lại được cử hành vào mỗi ngày Chúa Nhật.

Kinh Thánh Tân Ước không có đoạn nào nói về lễ Phục Sinh của Kitô giáo. Lễ này chỉ xuất hiện vào thế kỷ thứ hai công nguyên. Các Giáo hội Đông phương thuộc miền Tiểu Á như Êphêxô, Smyrne… theo sát với truyền thống Do Thái giáo, và họ mừng lễ Phục Sinh vào 14 tháng Nisan, cho dù ngày này rơi vào một ngày trong tuần chứ không bắt buộc phải là ngày Chúa nhật.

Ngược lại Giáo hội Tây phương tại Rôma, bên Palestine, Ai cập, Hy Lạp và xứ Gaule (Pháp) lại mừng lễ Phục Sinh vào ngày Chúa nhật vì Chúa Giêsu sống lại ngày Chúa Nhật. Ngày Chúa nhật này có thể rơi vào ngày 14 Nisan của Do Thái, hay là Chúa Nhật kế tiếp nếu như ngày 14 Nisan không là một ngày Chúa nhật. 1

Cuộc tranh cãi về việc mừng lễ Phục Sinh cũng như việc cử hành phụng vụ đa dạng tại các vùng khác nhau và nêu lên sự hiểu biết khác biệt về lễ Phục Sinh. Khi mừng lễ Phục Sinh vào ngày 14 Nisan, Giáo hội Đông Phương cũng mừng mầu nhiệm Đức Giêsu chết và sống lại, nhưng họ đánh dấu trọng tâm vào cái chết của Người, trong khi đó bên Tây Phương nhấn mạnh vào sự sống lại. Cuộc tranh luận suýt gây ra đổ vỡ giữa hai bên. Vào năm 192, Đức Giáo hoàng Victor quyết định dứt phép thông công các Giáo Hội miền Tiểu Á. Thánh Irênê can thiệp ôn hoà và Đức Giáo hoàng rút lại vạ tuyệt thông. Tại Công đồng Nicêa năm 325, các Giáo hội Kitô giáo đồng ý tách biệt lễ Vượt Qua Do Thái Giáo và lễ Phục Sinh Kitô giáo. Các nghị phụ chấp thuận mừng lễ Phục Sinh vào ngày Chúa nhật tiếp theo tuần trăng tròn (14 Nisan) sau ngày Phân xuân.

Lễ Phục Sinh thường được xem là một trong những ngày lễ quan trọng nhất trong năm của người theo Kitô giáo, thường diễn ra vào tháng 3 hoặc 4 mỗi năm để tưởng niệm sự kiện phục sinh của Chúa Giêsu. Phục Sinh cũng được dùng để chỉ một mùa trong năm phụng vụ Công giáo gọi là Mùa Phục Sinh, kéo dài đúng 50 ngày, từ Chúa Nhật Phục Sinh đến Lễ Hiện Xuống.

Năm mươi ngày hoan lạc Phục Sinh của các tín hữu Kitô giáo dựa trên cách tính lễ Ngũ Tuần của người Do Thái. Nhưng theo cách tính của người Do Thái, thì lễ Ngũ Tuần là ngày thứ 50 sau lễ Vượt Qua, trong khi các tín hữu Kitô lại coi đó như là tuần lễ gồm hết 50 ngày. Mùa Phục Sinh bắt đầu với Chúa Nhật Phục Sinh, cũng là ngày cuối của Tam Nhật Vượt Qua và ngày đầu của bát nhật Phục Sinh hay tuần lễ áo trắng (in albis), để kết thúc vào ngày thứ 50, tức Chúa nhật VIII Phục sinh.2

b. Ý nghĩa

– Hiệp nhất Kitô hữu trong Đức Tin

Trước tiên, về ngày tháng: Tất cả các Giáo Hội Kitô đều mừng Lễ Phục Sinh vào Chúa Nhật. Nhưng ngày tháng có thể khác nhau vì các Giáo Hội Tây Phương (Tin Lành, Công Giáo, Anh Giáo) theo lịch Grêgôriô hay dương lịch như hiện nay, do Đức GH Grêgôriô XIII (1572-85) ban hành năm 1582, nên Lễ Phục Sinh vào Chúa Nhật trong khoảng từ 22-3 và 25-4. Trái lại, Giáo Hội Chính Thống và các Giáo Hội Đông Phương (kể cả Công Giáo Đông Phương) theo âm lịch Julian, mừng Lễ Phục Sinh vào Chúa Nhật trong khoảng từ 4-4 và 8-5.

Vì thế, phần lớn Lễ Phục Sinh trong Giáo Hội Tây và Đông Phương đều vào Chúa Nhật, nhưng ngày và tháng có thể khác nhau. Ví dụ năm 2012: các Giáo Hội Tây Phương (Công Giáo, Tin Lành, Anh Giáo), Lễ Phục Sinh ngày 8-4; còn Giáo Hội Đông Phương (như Chính Thống Giáo) 15-4. Nhưng cũng có năm cùng ngày tháng, như 2011, Lễ Phục Sinh vào Chúa Nhật 24 tháng 4.

Tuy vậy, chính yếu Lễ Phục Sinh nêu cao Hiệp Nhất Kitô Giáo trong đức tin: Tất cả các Giáo Hội Kitô cùng xác tín một niềm tin về Chúa Giêsu Phục Sinh đã có từ Hội Thánh tiên khởi, được tuyên xưng trong Kinh Tin Kính các Thánh Tông đồ: “Chúa Giêsu Kitô ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại.” Sau đó, ông Phêrô cùng đứng chung với mười một Tông đồ rao giảng: “Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại” (Cv 2, 24).

Lễ Phục Sinh, tuy ngày hoặc cả tháng khác nhau nhưng, giữa các Giáo Hội không tranh cãi, mà trái lại, từ trước đến nay có nhiều cố gắng hướng đến đồng nhất về ngày lễ giữa các Giáo Hội Kitô thể hiện qua ước mong nêu lên, chứ không xảy ra tranh cãi hay có ý kiến mâu thuẫn. Cụ thể, trong ba thế kỷ đầu việc mừng Đức Kitô Phục Sinh chính yếu dựa vào Lễ Vượt Qua theo lịch Do Thái Giáo khi Chúa Giêsu “dùng bữa tiệc ly với các tông đồ trước khi chịu nạn chịu chết.” Có nơi ngày Lễ Phục Sinh chỉ cần sau 14 tháng Nissan căn cứ vào Lễ Vượt Qua. Trong khi tại Giáo Hội Rôma, hằng năm đức giám mục Victor mừng Lễ Phục Sinh vào Chúa Nhật sau Lễ Vượt Qua. Đến thế kỷ thứ tư, Công Đồng Ni-xê-a năm 325 hướng đến việc mừng Lễ Phục Sinh như Giáo Hội Rôma vào Chúa Nhật sau Lễ Vượt Qua của Do Thái, hay sau Xuân Phân (21 tháng 3) hằng năm.

– Tuyên xưng của Phụng Vụ Thánh và Giáo Lý

Phụng Vụ Thánh đề cao hiệp nhất và Giáo Lý gọi “mầu nhiệm Phục Sinh là chân lý chóp đỉnh của đức tin” (GL, 638). Theo Công Đồng Vaticanô II, “Từ ngày Hiện Xuống, ngày Giáo Hội xuất hiện nơi trần gian với các giáo hữu kiên tâm theo lời giáo huấn của các tông đồ, cùng nhau qui tụ để cử hành mầu nhiệm phục sinh, loan truyền sứ điệp cứu rỗi để mọi người nhận biết một Thiên Chúa duy nhất và chân thật, cùng Đấng Ngài sai là Chúa Giêsu Kitô” (Phụng Vụ, 6, 9).
Lễ Phục Sinh nêu rõ liên hệ giữa Do Thái Giáo và Kitô Giáo, như trong Sách lễ Rôma, Lễ Phục Sinh là “Pascha “Resurrectionis”, hoặc “Dominica Resurrectionis” với Pascha có nghĩa Lễ Vượt Qua của Do Thái Giáo và Dominica là ngày của Chúa đi theo Resurrectio (Phục Sinh).

Bài ca Tiếp Liên của Thánh Lễ trong ngày, cũng nêu cao liên hệ giữa “Hy Lễ Vượt Qua” và “Đức Kitô Phục Sinh”: “Các Kitô hữu hãy tiến dâng lời khen ngợi hy lễ Vượt Qua. Chiên con đã cứu chuộc đoàn chiên: Đức Kitô vô tội đã hòa giải tội nhân với Chúa Cha. Sống và chết hai bên song đấu cách diệu kỳ, tướng lãnh sự sống đã chết đi, nhưng vẫn sống mà cai trị. Tôi đã thấy mồ Đức Kitô đang sống và vinh quang của Đấng phục sinh.”

Giáo Lý dạy: “Sự Phục Sinh là chân lý chóp đỉnh của đức tin về Chúa Kitô, là điều được tin và sống như chân lý trung tâm trong cộng đoàn Kitô giáo nguyên thủy; được truyền đạt như chân lý nền tảng bởi Truyền Thống, được xác định bởi các tài liệu Tân Ước, được giảng dạy như thành phần chủ yếu của mầu nhiệm Vượt Qua cùng với mầu nhiệm Thánh Giá” (GLHTCG, 638).

“Nếu Đức Kitô đã không chỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng… Nếu Đức Kitô đã không chỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em hãy còn sống trong tội lỗi của anh em” (1Cr, 15: 14-17). Niềm tin duy nhất của Kitô hữu: “Không có Phục Sinh thì không có Kitô Giáo” (GLHTCG, 639).

– Giáo Hội tiếp tục rao giảng

Xác tín của Thánh Tông đồ về mầu nhiệm Phục Sinh được Đức GH. Bênêđíctô XVI diễn giải: Nếu Chúa Giêsu không sống lại thì khổ nạn của Ngài mất hết ý nghĩa cao trọng thiêng liêng. Như thế, Thập giá chỉ là bi kịch khổ hình và Đức Kitô chịu chết đã làm cuộc sống trở thành phi lý. Trái lại, mầu nhiệm Phục Sinh chứng tỏ Người chịu nạn chịu chết “đã được mai táng và ngày thứ ba đã chỗi dậy, đúng như lời Thánh Kinh” (1Cr 15: 4)

Toàn bộ các thư của Thánh Phaolô khởi đi và đạt đến mầu nhiệm của Người mà Chúa Cha đã cho chỗi dậy từ kẻ chết. Đức Kitô phục sinh là sự kiện căn bản Tông đồ Phaolô dựa vào để tuyên xưng “Người là Đấng đã chịu chết và chứng tỏ lòng yêu thương vô hạn của Thiên Chúa đối với con người; Đấng đã chỗi đậy và sống ở giữa chúng ta.”

Như thế, tuyên xưng của Thánh Phaolô minh chứng truyền thống đức tin vào mầu nhiệm phục sinh đã có từ Kinh Thánh về Chúa Giêsu chịu chết, được mai táng và ngày thứ ba đã chỗi dậy, mà Phaolô là người lãnh nhận và truyền lại: “Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là: Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng và ngày thứ ba đã chỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh” (1Cr 15: 3-4).

– Chiều sâu phụng vụ Phục sinh

Vì là “lễ trọng trên hết các lễ trọng” và “Chúa Nhật Phục Sinh là Chúa Nhật vĩ đại” (GLHTCG, 1169), nên Lễ Phục Sinh là điểm tựa để thực hiện Niên Lịch Phụng Vụ mỗi năm.

Phụng Vụ Thánh khai triển ý nghĩa hiệp nhất Kitô-hữu vì Giáo Hội gọi “mầu nhiệm Phục Sinh là chân lý chóp đỉnh của đức tin” (GLHTCG, 638). Theo Công Đồng Vaticanô II: “Từ ngày Hiện Xuống, ngày Giáo hội xuất hiện nơi trần gian với các giáo hữu kiên tâm theo lời giáo huấn của các tông đồ, cùng nhau qui tụ để cử hành mầu nhiệm phục sinh, loan truyền sứ điệp cứu rỗi […] để mọi người nhận biết một Thiên Chúa duy nhất và chân thật, cùng Đấng Ngài sai đến là Chúa Giêsu Kitô” (Hiến chế Phụng vụ, số 6 và 9).

Về mầu nhiệm Phục Sinh, Giáo Lý khai triển chiều sâu đức tin, từ Thánh Truyền đến Thánh Kinh: “Sự Phục Sinh là chân lý chóp đỉnh của đức tin về Chúa Kitô, là điều được tin và sống như chân lý trung tâm trong cộng đoàn Kitô giáo nguyên thủy; rồi được truyền đạt lại như chân lý nền tảng bởi Truyền Thống, được xác định bởi các tài liệu Tân Ước, được giảng dạy như thành phần chủ yếu của mầu nhiệm Vượt Qua cùng với mầu nhiệm Thánh Giá” (GLHTCG, 638).

Hai điều cơ bản trong ý nghĩa thần học của biến cố Phục Sinh, mà thần học trước đây ít lưu ý tới, nay được Huấn Quyền làm nổi bật trong Sách Giáo Lý mới là :

Chiều kích Ba Ngôi của sự Phục Sinh.

Giá trị cứu độ của sự Phục Sinh.

Đó là điều rất đáng mừng, vì hai khía cạnh hết sức quan trọng này của mầu nhiệm Phục Sinh, đưa ta trở về gần với mạc khải hơn thần học kinh viện trước đây.

Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh là nền tảng đức tin Kitô giáo vì, nếu không có Phục Sinh thì Phúc Âm không còn là Tin Mừng vì rao giảng và đức tin trở nên vô ích.

Sống mầu nhiệm Phục Sinh là sống giới răn Yêu Thương, nền tảng Kitô Giáo, như Chúa Giêsu dạy bảo: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga, 13: 14).

2. Bát Nhật Phục sinh

a. Nguồn gốc

Thời gian Vượt Qua mở ra Ngày Chúa Nhật Phục Sinh, và một thời kỳ gồm năm mươi ngày, tiếng Hy lạp gọi là Pentecoste, nghĩa là ngày thứ năm mươi. Trong Cựu Ước, con số 50 là con số kết thúc tuần lễ cao điểm trong bảy tuần, gợi lên sự sung mãn, tốt lành. Còn trong Tân Ước, con số năm mươi tính từ cái chết của Đức Giêsu đến ngày lễ Ngũ Tuần, Thánh Thần đến canh tân toàn thể Hội Thánh (x. Cv 2). Mầu nhiệm Vượt Qua chỉ đạt chiều kích trọn vẹn trong sự viên mãn của lễ Ngũ Tuần, là ngày Hội Thánh nhận được những hoa trái đầu tiên làm bảo chứng cho phần gia nghiệp (x. Ep 1,13-14).

Theo các Giáo phụ, mọi ngày trong tuần năm mươi này phải được cử hành trong niềm hân hoan, có cùng tầm quan trọng như ngày Chúa Nhật. Tuần năm mươi cũng là thời gian hạnh phúc nhất để cử hành phép Rửa. Nếu như ngày Chúa nhật vừa là ngày thứ nhất cũng là ngày thứ tám, thì Chúa Nhật Phục Sinh do Pentecoste tạo ra được khai triển thành tám ngày Chúa Nhật. Như thế Pentecoste là một chuỗi tám – octave, là một tuần của các tuần.

Bát nhật Phục Sinh là tuần đầu tiên trong chuỗi tám đó. Danh từ gốc Latinh Octo, tức là tám. Octavus là ngày thứ tám, hay là cả tám ngày. Kinh Thánh Cựu Ước cho thấy, các đại lễ của dân Israen thường được tổ chức suốt một tuần và kết thúc cách long trọng vào ngày thứ tám (x. Lv 23,34-36). Theo phụng vụ của Giáo hội, Tuần Bát nhật là thời gian tám ngày mừng lễ hay kính nhớ Mầu nhiệm nào đó. Trước đây, Giáo hội mừng kính nhiều Tuần Bát Nhật, như Tuần Bát Nhật đặc biệt, hay Bát Nhật thường. Từ năm 1955, Giáo hội mừng kính ba Bát Nhật: Bát nhật Giáng Sinh, Phục Sinh và Hiện Xuống. Hiện nay, trong lịch phụng vụ của Giáo hội chỉ còn ghi hai Bát Nhật là Bát Nhật Phục Sinh và Giáng sinh. Hai Bát nhật mà Giáo hội mừng kính cũng kết thúc bằng hai lễ long trọng: Bát nhật của Giáng sinh kết thúc vào ngày 1 tháng Giêng, lễ trọng kính Đức Maria Mẹ Thiên Chúa; ngày thứ tám của lễ Phục Sinh là ngày lễ Chúa Nhật Áo Trắng.  Bát Nhật Phục Sinh, mà truyền thống Rôma quen gọi là Tuần lễ Áo Trắng, ra đời từ thế kỷ IV, vì lúc đó, Giáo hội quan tâm làm sao để các tân tòng có một huấn giáo hậu phép Rửa về các Mầu nhiệm mà họ đã lãnh nhận, tuy nhiên, huấn giáo này cũng dành cho toàn thể dân chúng nữa.

b. Ý nghĩa

Bát nhật Phục Sinh liên hệ với việc rửa tội cho người lớn. Hội Thánh thời cổ chú tâm đến mối liên hệ giữa Vượt Qua của Đức Kitô với phép Rửa. Theo thánh Phaolô: nhờ phép Rửa mà người Kitô hữu được dìm vào trong cái chết của Đức Kitô, được mai táng với Người, để rồi được tham dự vào đời sống mới của Đấng Phục Sinh (x. Rm 6,3-5). Bởi đó, Giáo hội lo sao để việc cử hành phép Rửa được ưu tiên vào ngày Chúa Nhật.

Như thế, Tuần Bát Nhật là tuần đầu tiên trong chuỗi những tuần của năm mươi ngày sau Đại lễ Phục Sinh. Bát nhật Phục Sinh có đặc tính của Bí tích Thánh Tẩy; Giáo Hội cổ thời đã dùng Tuần Bát Nhật để hoàn tất việc giáo huấn các tân tòng. Một số bài giáo huấn quan trọng của các Giáo Phụ hay các nhà tu đức được phụng vụ Giáo Hội đưa vào trong các bài đọc Kinh Sách Tuần Bát nhật Phục Sinh. Những lời giáo huấn cho các tín hữu xưa kia vẫn còn giá trị và rất thiết thực cho các tân tòng cũng như cho mọi phần tử trong Giáo hội ngày nay.

3. Lễ Chúa Giê-su lên Trời

Theo sách Tông Đồ Công Vụ, 40 ngày sau khi sống lại, Chúa Giêsu lên trời, nghĩa là trở về cùng Chúa Cha, Đấng đã sai Người xuống trần thế. Lễ Chúa Thăng Thiên đánh dấu sự hoàn thành công trình cứu độ đã được khởi sự với việc nhập thể. Sau khi đã dặn dò các môn đệ lần cuối cùng, Chúa Giêsu lên trời (Xc. Mc 16,19). Nhưng Người “không xa lìa thân phận chúng ta” (Xc. Kinh Tiền Tụng); thực vậy, trong nhân tính của Người, Người đã đón nhận nhân loại với Người vào trong vòng thân mật với Chúa Cha và qua đó Người tỏ lộ đích điểm sau cùng của cuộc lữ hành trần thế của chúng ta. Cũng như Chúa Giêsu đã từ trời xuống và vì chúng ta Người đã chịu đau khổ, và chịu chết trên thập giá, Người cũng vì chúng ta mà sống lại và lên cùng Chúa Cha, vì thế, Người không còn xa lạ nữa, nhưng là “Thiên Chúa chúng ta”, là “Cha chúng ta” (Xc. Ga 20,17).

Lễ Thăng Thiên là hành vi cuối cùng trong cuộc giải thoát chúng ta khỏi ách tội lỗi, như thánh Phaolô Tông Đồ đã viết: “Khi lên trời, Chúa đã mang theo Người các tù nhân” (Ep 4,8). Thánh Lêô Cả giải thích rằng với mầu nhiệm này “không những sự bất tử của linh hồn được công bố, nhưng cả sự bất tử của thân xác nữa. Thực vậy, ngày hôm nay, không những chúng ta được xác nhận là người sở hữu thiên đàng, nhưng còn được đi sâu vào Chúa Kitô nơi trời cao” (De Ascensione Domini, Tractatus 73, 2.4: CCCL 138 A, 451.453). Vì thế, các môn đệ, khi thấy Thầy mình nâng bổng khỏi mặt đất và đi lên trời cao, họ không buồn bã, nhưng cảm thấy một niềm vui lớn lao và được thúc đẩy công bố chiến thắng của Chúa Kitô trên sự chết (Xc Mc 16,20). Và Chúa phục sinh hoạt động trong họ, ban cho mỗi người một đoàn sủng riêng, để cộng đoàn Kitô, trong toàn bộ, phản ánh sự phong phú hài hòa của Trời Cao. Thánh Phaolô cũng viết: “Ngài đã ban ơn cho loài người: người này làm tông đồ, người kia làm ngôn sứ, người khác làm thánh sử tin mừng, và người khác làm mục tử và thầy dạy, với mục đích xây dựng thân mình Chúa Kitô, cho đến mức độ viên mãn trong Chúa Kitô” (Ep 4,8.11-13).

Lễ Thăng Thiên nói với chúng ta rằng trong Chúa Kitô nhân tính của chúng ta được nâng lên cùng Thiên Chúa; vì thế mỗi lần chúng ta cầu nguyện, đất được nối liền với Trời. Và như trầm hương, khi được đốt lên, tỏa lên cao khói hương dịu dàng, cũng vậy khi chúng ta cầu nguyện với Chúa, kinh nguyện sốt sắng và tín thác của chúng ta trong Chúa Kitô, cũng vượt qua trời cao và bay đến trước ngai Thiên Chúa, được Ngài lắng nghe và chấp nhận. Trong tác phẩm nổi tiếng của thánh Gioan Thánh Giá, Lên núi Camêlô, chúng ta đọc thấy rằng “để thấy những ước muốn của tâm hồn chúng ta được thực hiện, thì không có cách nào tốt hơn là đặt sức mạnh của kinh nguyện chúng ta trong điều làm cho Chúa đẹp lòng nhất. Như thế, Ngài không chỉ ban cho chúng ta điều chúng ta xin, nghĩa là ơn cứu độ, nhưng cả điều mà Ngài thấy là thích hợp và tốt lành cho chúng ta, dù chúng ta không xin Ngài” (Libro III, cap. 44, 2, Roma 1991, 335).

4. Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống

Lễ Ngũ Tuần đánh dấu sự hiện xuống của Chúa Thánh Thần trên các thánh Tông Đồ và trên Giáo Hội sơ khai. Biến cố này xảy ra năm mươi ngày tiếp theo sau biến cố Chúa Giêsu sống lại. Biến cố ngày lễ Ngũ Tuần chỉ có thể được hiểu trong mối quan hệ với biến cố lễ Chúa Phục Sinh và Chúa Lên Trời. Chịu chết để cứu độ nhân loại, sống lại và về cùng Chúa Cha, Đức Kitô phái Thánh Thần đến cho nhân loại. Do đó, ngày lễ này khép lại Mùa Phục Sinh vốn được kéo dài trong suốt bảy tuần lễ và cũng là sự đăng quang của Mùa Phục Sinh.

Vào ngày ấy, “các Tông đồ đang hội họp cùng với nhau, bỗng nhiên từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tùy theo khả năng Thánh Thần ban cho. Nghe tiếng ấy, có nhiều người kéo đến. Họ kinh ngạc vì ai nấy đều nghe các ông nói tiếng bản xứ của mình” (Cv 2, 1-6).

Hơn nữa, đây cũng là dịp thực hiện lời hứa của Chúa Giêsu Phục Sinh đối với các Tông Đồ vào thời điểm lên trời xảy ra mười ngày trước đó:

“Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8).

Thực tế cho thấy, các Tông đồ khi nhận được sức mạnh của Thánh Thần liền can đảm rời khỏi gian phòng mà trước đây họ tự giam hãm trong nỗi sợ sệt. Ngay lập tức họ bắt đầu làm chứng cho Chúa Phục Sinh, rao giảng giáo huấn của Ngài cho muôn dân và làm phép Rửa Tội. “Trong dịp lễ Ngũ Tuần, Giáo Hội được khai sinh không do ý muốn của loài người, nhưng là bởi sức mạnh của Thánh Thần”. Trong thực tế, tiếp theo biến cố này các cộng đoàn tín hữu đầu tiên được ra đời, được củng cố, phát triển và lan truyền rộng rãi.

Trình thuật trong sách Tông Đồ Công Vụ mang hàm ý: gió và lửa, cũng như các trình thuật khác trong Kinh Thánh, biểu hiện sự hiện diện của Thiên Chúa. Những lưỡi lửa chứng tỏ sự ngự xuống của Thánh Thần trên các Tông Đồ. Và khả năng của họ làm cho tất cả những người nghe hiểu được mà theo như bản văn liệt kê một cách rất cụ thể và chính xác rằng đây là những người dân “Pácthia, Mêđia, Êlam, Mêxôpôtamia, Giuđê, Capađôkia, Pontô và Asia, có người là dân Physia, Pamphylia, Ai Cập, và những vùng Libya giáp giới Kyrênê; nào là những người từ Rôma đến đây; nào là người Do Thái cũng như người mới trở lại đạo; nào là người đảo Kêta hay người Arập” (Cv 2,9-11). Hết thảy đều đều nghe các Tông Đồ rao giảng bằng tiếng bản xứ của mình. Cũng vậy, Tin Mừng có liên quan đến tất cả nhân loại, ơn Chúa Thánh Thần cho phép các Tông Đồ đáp trả lời mời gọi của Chúa Phục Sinh: trở nên những chứng nhân của Ngài cho đến “tận cùng trái đất”.

Cũng như các Tông Đồ, các Kitô hữu được mời gọi không được khép kín nơi bản thân mình như người đứng bên ngoài cuộc sống và ở ngoài thế giới, trái lại phải là những người công bố Tin Vui trong Phúc Âm một cách mạch lạc và tự do. Bổn phận này được đặc biệt nhắc đến trong Công Đồng Vatican II về vai trò của người giáo dân, cũng như trong tông huấn Christideles laici của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đề ngày 30 tháng 12 năm 1998. Nguồn mạch được tỏ hiện trong biến cố Lễ Ngũ Tuần, Bí Tích Thêm Sức thường xuyên được cử hành trong dịp lễ này. Trong nghi thức, giám mục đặt tay trên người lãnh nhận, cử chỉ biểu lộ ơn Chúa Thánh Thần.

II. Cử hành mùa Phục sinh: Các bản văn và quy tắc cử hành

1. Phụng Vụ Thánh Thể

a. Các bản văn

Phụng vụ Lời Chúa trong mùa Phục Sinh xoay quanh hai cuốn Công vụ Tông đồ và Tin Mừng theo thánh Gioan. Sách Công vụ Tông đồ hầu như được đọc hằng ngày, ngày thường cũng như ngày Chúa Nhật. Bài đọc 1 của ngày Chúa Nhật không phải là bài Cựu Ước mà được thay thế bằng bài Công vụ Tông đồ. Truyền thống không đọc bài Cựu Ước trong mùa Phục Sinh nhằm nhấn mạnh ý nghĩa hình bóng của Cựu ước đã hoàn tất, giờ đây Giáo hội không còn ở trong niềm trông đợi của Cựu ước để hướng tới thực tại sẽ đến. Thực tại đã có đây rồi, đó chính là biến cố Phục Sinh của Đức Kitô. Giáo hội đang sống chính thực tại đó trong đời sống của mình. Khi đọc sách Công vụ Tông đồ trong mùa Phục sinh, Giáo hội cho chúng ta khám phá tác động của biến cố Phục Sinh nơi cộng đoàn tín hữu sơ khởi và cho thấy hiệu của Lời Chúa kiến tạo nên cộng đoàn Giáo Hội. Còn Tin Mừng theo thánh Gioan vừa được đọc vào những tuần cuối của Mùa Chay vừa được đọc liên tục trong nhiều ngày của mùa Phục sinh, nhấn mạnh chiều kích thần học của mầu nhiệm cứu chuộc.5

Có lẽ truyền thống cổ thời chọn Tin Mừng theo thánh Gioan đọc vào Mùa Chay và Phục Sinh vì lý do thần học hơn là vì lý do mục vụ hay giáo huấn. Các bài đọc của Chúa Nhật Phục Sinh cũng được sắp xếp theo ba năm như mọi Chúa Nhật khác, riêng bài đọc hai được sắp xếp như sau: Năm A (thư thứ nhất của thánh Phêrô); năm B (thư thứ nhất của thánh Gioan); năm C (sách Khải Huyền). Những bản văn được chọn từ ba cuốn này đều nhấn mạnh hoặc khai triển mầu nhiệm Tử nạn và Phục Sinh của Chúa Kitô, chẳng hạn như thánh Phêrô nêu bật giá trị cứu độ của mầu nhiệm Vượt Qua nơi dân mới và Hội Thánh; thư Gioan nhấn mạnh niềm tin vào Chúa Giêsu, vào ơn cứu độ trong Máu Ngài và vào luật đức ái; sách Khải Huyền lại hướng chúng ta đến niềm hy vọng cánh chung nơi Giêrusalem Thiên quốc, đã được khai mở nơi cộng đoàn những kẻ tin.

Riêng với các lời nguyện trong mùa Phục Sinh có một chuyển biến đặc biệt: Trước cuộc canh tân phung vụ theo công đồng Vaticano II (1970), Sách lễ Rôma chỉ cung cấp các lời nguyện riêng đối với các Chúa Nhật Phục Sinh, Tuần Bát Nhật và lễ Hiện Xuống; ngày nay trong suốt 50 ngày Phục Sinh mỗi ngày đều có đầy đủ các lời nguyện quan trọng: Nhập Lễ, Tiến Lễ và Hiệp Lễ. Tất cả các lời nguyện này không phải là các lời nguyện mới được sáng tác rồi đưa vào Phụng vụ, nhưng là lấy lại từ truyền thống cổ kính của các gia đình phụng vụ xưa như Rôma, Ambrôsiô và Gallican.6

Điểm đặc biệt trong phụng vụ hiện nay là các lời tiền tụng Phục Sinh đều theo một lược đồ chung trong câu mở đầu: “Lạy Cha chúng con tuyên xưng Cha mọi lúc và hân hoan ca tụng Cha vinh hiển, nhất là trong mùa này… khi Đức kitô tự hiến tế làm Chiên Vượt qua của chúng con”. Sau đó mỗi lời tiền tụng khai triển một chủ đề ca tụng khác nhau: Mầu nhiệm Vượt qua (I), sự sống mới trong Chúa Kitô (II), Đức Kitô vẫn sống đang chuyển cầu cho ta (III), việc phục hưng vũ trụ nhờ mầu nhiệm Vượt Qua (IV), Đức Kitô là linh mục và là Của Lễ (V).

Đối với các bài ca nhập lễ và hiệp lễ, chủ đề của những bài ca này giống nhau cho từng ngày trong các tuần của mùa Phục Sinh, ví dụ: Đức Kitô đã phục sinh vinh hiển (thứ 2), chiến thắng của Đấng Phục Sinh vào ngày cùng tận (thứ 3), bài ca của những người được cứu chuộc (thứ 4), cuộc xuất hành mới (thư 5), ơn cứu chuộc trong Máu của Chúa Kitô Phục Sinh (thứ 6), và đời sống mới trong Chúa Kitô (thứ 7). Riêng tuần lễ đi trước lễ Hiện Xuống, các bài ca thường nhắc lại lời hứa của Chúa Kitô ban Thánh Thần cho Giáo Hội.

b. Quy tắc cử hành

Trước hết chúng ta cần nhận định cử hành thánh lễ trong mùa Phục Sinh nhất thiết phải theo tầm quan trọng của ba nhóm sau đây: Chúa Nhật, Tuần Bát Nhật và ngày trong tuần.

Vào mọi Chúa Nhật Phục Sinh không ai được phép cử hành bất cứ thánh lễ có nghi thức riêng, ngoại lịch hay nhu cầu nào. Phải luôn tôn trong bản văn phụng vụ và các bài đọc Kinh Thánh của ngày Chúa Nhật Phục Sinh đó. Vì thế, vào những ngày này không được phép cử hành thánh lễ với các bản văn phụng vụ của lễ an tang, hôn phối, thêm sức, khấn dòng, mừng kính bổn mạng hay bất cứ nhu cầu nào…Tuy nhiên, người ta có thể vẫn cử hành bí tính hay á bí tích trong thánh lễ đó, với điều kiện mọi bản văn phụng vụ phải theo ngày Chúa Nhật. Ví dụ: khi cử hành hôn phối vào Chúa Nhật III Phục sinh, người ta vẫn cử hành bí tích hôn phối sau bài giảng như thường lệ, tuy nhiên trong thánh lễ phải đọc toàn bộ các bản văn phụng vụ theo Chúa Nhật III Phục Sinh và không được phép đọc các lời nguyện hay bài đọc Kinh Thánh về lễ hôn phối, mặc dù vẫn đọc lời chúc hôn sau kinh Lạy Cha. Các lễ khác khi trùng vào Chúa Nhật phục sinh cũng phải theo quy luật này.7

Tuần Bát Nhật Phục Sinh được cử hành như các ngày lễ trọng về Chúa,8 vì thế không được phép cử hành bất cứ thánh lễ ngoại lịch hay nhu cầu nào trong những ngày này mà phải dời sang ngày khác có bậc lễ thấp hơn lễ trọng riêng. Tuy nhiên khi cử hành an táng, được dùng bản văn phụng vụ của lễ cầu hồn chứ không phải dùng bản văn phụng vụ của ngày thường trong tuần Bát Nhật Phục Sinh.9

Ngày trong tuần thuộc mùa Phục Sinh, từ thứ hai sau tuần Bát Nhật đến hết thứ bảy trước lễ Hiện Xuống có vị trí khá khiêm tốn trong bảng sếp hạng thứ tự ưu tiên các lễ trong năm phụng vụ (chỉ đứng trên các ngày trong tuần thuộc mùa thường niên).10 Vào những ngày này có thể cử hành thánh lễ an tang, lễ bổn mạng, lễ có nghi thức riêng, ngoại lịch và nhu cầu hay toàn bộ lễ nhớ các thánh. (RM 355/a).

2. Giờ Kinh Phụng Vụ

a. Các bản văn

Giờ kinh Phụng vụ của Tam nhật Vượt Qua có một vị trí đặc biệt so với các ngày khác: hầu như mỗi giờ kinh đều có những phần riêng biệt và đều nhắc đến biến cố khổ nạn và Phục Sinh của Chúa Kitô. Các thánh vịnh, thánh thi, xướng đáp lời cầu mang sắc thái riêng của những ngày cao điểm trong năm phụng vụ; cách riêng các bài đọc Kinh Thánh và giáo phụ cho chúng ta cái nhìn tổng quát và đầy đủ về mầu nhiệm Vượt Qua,11 chẳng hạn thư thứ nhất của thánh Phêrô trong tuần bát nhật Phục sinh, sách Khải Huyền trong những tuần tiếp theo và các thư của thánh Gioan vào hai tuần cuối của mùa Phục sinh. Riêng các bài đọc giáo phụ là những áng văn chương tuyệt tác của những tác giả thời danh: 49 bài giáo phụ khác nhau diễn tả cách phong phú mầu nhiệm Vượt qua theo niềm tin Kitô giáo, đồng thời nó còn là các bài giáo huấn nền tảng cho mọi kitô hữu về ý ngĩa của các cử hành phụng vụ. Các bài giáo phụ này được trích từ các tác giả danh tiếng bên Đông cũng như Tây Phương kitô giáo, chẳng hạn: Justin, Meliton de Sardes, Irenee, Cyrille de Jerusalem, Augustino, Lêô Cả… hay trong các văn kiện mới nhất của Công Đồng vatican II.

b. Quy tắc cử hành

Giờ kinh của ngày Chúa Nhật, Tuần Bát Nhật và Tuần Thánh chiếm vị trí ưu tiên trên hết mọi giờ kinh, vì thế không được phép đọc giờ kinh phụng vụ ngoại lịch hoặc theo nhu cầu hay ý thích riêng (GK 245).

Vào các ngày Chúa Nhật, Tuần Bát Nhật và Tuần Thánh không bao giờ được phép thay đổi các thánh vịnh, công thức hay bản văn đã được quy định cho từng ngày (GK 247), tuy nhiên vào các ngày thường trong mùa Phục Sinh có thể thay đổi Lời Chúa, lời nguyện, thánh thi, điệp ca và lời chuyển cầu của những ngày khác trong cùng một mùa (GK 251).

Kết luận

Đức Giêsu Kitô là trung tâm điểm của tất cả các nghi thức Phụng Vụ trong Giáo Hội. Do đó, mỗi mùa Phụng Vụ với các nghi thức khác nhau cùng với tầm quan trọng cũng như ý nghĩa khác nhau nhưng đều mang một mục đích chung, đó là cho mỗi người tín hữu cảm nhận và sống với sự hiện diện thực sự của Đức Kitô Phục Sinh. Trong mùa Chay, các tín hữu cảm nhận được sự hiện diện của Chúa Giêsu như một Thiên Chúa với tình yêu thương của người cha luôn mong mỏi chờ đợi người con hoang đàng trở về. Với sức mạnh biến đổi con người của tình yêu Chúa, các tín hữu tham gia các nghi thức Mùa Chay cảm nhận lời mời gọi nhận ra tình trạng tội lỗi, thống hối và tin tưởng vào sự tha thứ của Thiên Chúa. Tình yêu vô biên của Thiên Chúa thanh tẩy tình trạng nhơ nhuốc đầy tội lỗi của chúng ta để rồi mỗi người hân hoan và xứng đáng bước vào mầu nhiệm lễ Phục Sinh. Các tín hữu tham gia nghi lễ trong mùa Phục Sinh với niềm tin tưởng vào chiến thắng thần chết nơi Đức Giêsu. Hơn nữa, khi Đức Giêsu phục sinh, Người cũng sẽ ban cho chúng ta đời sống vĩnh cửu đó, đó là được sống lại cùng Người. Đó là niềm tin cao đẹp nhất và quan trọng nhất của toàn thể Giáo hội vì mầu nhiệm Chúa sống lại mang một ý nghĩa hết sức đặc biệt cho mỗi tín hữu. Và đó cũng là tâm tình của thánh Phaolô khi ngài viết “Nếu kẻ chết không trỗi dậy, thì Đức Kitô cũng đã không trỗi dậy. Mà nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em” (1Cr 15,16-17).

 (Nguồn: Thinhviendaminh.net)

Ý Nghĩa Mầu Nhiệm Chúa Phục Sinh

Là mầu nhiệm trung tâm và nền tảng của Kitô giáo, chắn hẳn mầu nhiệm Chúa Phục sinh cần phải được nghiên cứu, học hỏi nhiều hơn cả. Thế mà khi thử hỏi một tín hữu rằng: Chúa Phục sinh nghĩa là gì thì e rằng vẫn còn đó nhiều Kitô hữu lúng túng. Đã từng hỏi thiếu nhi câu hỏi ấy và chúng đơn sơ buộc miệng trả lời: Chúa Phục sinh nghĩa là Chúa sống lại. Và khi hỏi lại Chúa sống lại nghĩa là gì thì được câu trả lời rằng Chúa sống lại nghĩa là Chúa Phục sinh.

Chúa Phục sinh nghĩa là Chúa chỗi dậy khỏi thế giới người chết vào ngày thứ ba, sau khi đã chịu khổ nạn, đã chết thật và được mai táng. Chúa chỗi dậy cũng với thân xác ấy, mang đầy thương tích, nhưng là thân xác đã được biến đổi, được thần hoá nên không còn lệ thuộc các điều kiện thời gian và không gian. Điều này được Thánh Kinh, đặc biệt là các Tin mừng minh chứng.

Đây là một dữ kiện khó chấp nhận với người chưa có đức tin, nhất là với những người quá “duy lý”. Tuy nhiên với người có niềm tin, khi đón nhận mầu nhiệm Chúa Phục Sinh thì vẫn không phi lý, vì họ đón nhận nó trên lời chứng của các Tông đồ và các môn đệ, những người đã thực sự thay đổi cuộc sống và đã can đảm đổ máu đào ra để minh chứng, một cách khó lý giải theo luận lý bình thường. Phải có cái gì đó khiến cho không chỉ một vài người mà cả một tập thể nhát đảm, đầy tham lam và ích kỷ đã trở nên kiên cường và quảng đại khác thường. Đó chính là mầu nhiệm Chúa Phục sinh.

Chúa Giêsu chết và sống lạiĐâu là ý nghĩa của mầu nhiệm Chúa Phục Sinh? Việc Chúa Phục sinh xác nhận thần tính của Chúa Kitô. Chúa Kitô đã sống lại như lời Người đã tiên báo, ít là ba lần trong thời gian rao giảng tin mừng. Chỉ có Thiên Chúa mới làm chủ được sự sống, sự chết. Việc chỗi dậy từ cõi chết đã minh chứng cách hùng hồn Chúa Kitô chính là Thiên Chúa thật. Là Thiên Chúa thật nên những gì Người nói đều là chân thật, không thể sai lầm.

Dù thời gian có qua đi thì lời của Người mãi là ánh sáng dẫn đường chúng ta đi về cõi phúc thật. Là Thiên Chúa thật thì Chúa Kitô chính là nguyên lý của hạnh phúc và sự sống đời đời của tất cả mọi người. Chính nhờ Người mà mọi vật mọi loài được tạo thành thì cũng chính nhờ Người mà muôn người và muôn vật đạt đến sự viên mãn.

Mầu nhiệm Chúa Phục sinh còn nhắc nhớ chúng ta rằng cuộc đời con người không chấm dứt với cái chết thể lý. Con người được dựng nên không phải cho đời này mà là cho vĩnh cữu. Tuy nhiên cái vĩnh cửu lại được bắt đầu và xây dựng từ những cái ở đời này. Những cái ở đời này sẽ không mất đi nhưng sẽ được biến đổi. Được biến đổi ra như thế nào là tuỳ thái độ sống của mỗi người chúng ta. Và Chúa Kitô đã cho chúng ta chiếc chìa khoá để biến đổi những sự bình thường và cả tầm thường ở đời này thành phi thường, thành bất diệt, đó là tấm lòng của chúng ta, là tình yêu của chúng ta dành cho tha nhân, đặc biệt dành cho những người bé mọn (x.Mt 25, 31-46).

Chúa đã phục sinh nghĩa là Chúa đang sống, đang đồng hành với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế để chúng ta có thể cùng với Người, nhờ Người và trong Người, sống đạo yêu thương. “Xin các bà về nói với môn đệ Người và ông Phêrô rằng Người sẽ đến Galilê trước các ông. Ở đó các ông sẽ được thấy Người như Người đã nói với các ông” (Mc 16,7). Lời của Thiên sứ năm xưa nhắn bảo các phụ nữ một lần nữa nhắc nhớ chúng ta rằng hãy mở mắt, mở tai, mở trí, mở lòng để nhận ra Chúa Phục Sinh đang ở với chúng ta ngay trong đời thường, với chuyện cơm áo, gạo tiền, chuyện con cái, gia đình, chuyện non sông, xã hội… Như Phaolô trên đường đi Đamát, nhiều người đã gặp Chúa Phục sinh và cuộc đời của họ đã thay đổi cách phi thường.

Chúa Phục sinh sẵn sàng tỏ mình cho bất cứ ai. Vấn đề còn lại là ở thái độ của chúng ta. “Xin thì sẽ được, tìm thì sẽ gặp, gõ cửa thì sẽ mở cho” (Mt 7,7). Thực ra vẫn có đó nhiều người không dám xin, không dám tìm hay gõ cửa, hoặc có xin, tìm, hay gõ cửa nhưng không thực tâm, không hết lòng vì nhiều lý do, trong đó có lý do này: sợ phải đổi thay, sợ nên tốt hơn. Muốn thay đổi, nên tốt hơn thì phải bỏ mình, phải vác thập giá hằng ngày, một chân lý không có luật trừ, vì ngay cả Đấng Cứu Độ cũng phải chịu khổ hình rồi mới vào trong vinh quang (x.Lc 24,26).

Mùa chay đã chấm dứt. Mùa Phục Sinh lại bắt đầu. Các lễ nghi Phụng vụ bên ngoài như trở lại với cách kiểu bình thường, chỉ thêm Kinh Vinh danh trong ngày Chúa Nhật và câu tung hô Allêluia. Quả là phí công, mất sức cũng như có nhiều sự phí phạm trong việc tổ chức “lễ lạc” mừng Chúa Phục Sinh, nếu giả như mỗi người chúng ta không thực tâm và quyết tâm muốn nên tốt hơn, thánh thiện hơn. Vì chưng, dù có hát trăm lần câu Hallêluia Chúa đã sống lại thì chuyện đâu lại hoàn đấy, bởi một lẽ dễ hiểu đó là chúng ta chưa thực sự gặp gỡ Đấng Phục Sinh.

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Ban Mê Thuột

Nguôn conggiaovn.com

 

Sunday, April 2, 2023

Một khoé nhìn Thần học về LỄ TRUYỀN TIN

Ngày 25 tháng 3 hàng năm, Lễ Truyền tin cùng với Lễ kính Thánh Giuse trước đó vào ngày 19/3 đã được cử hành cách đặc biệt. Hơn nữa, đây lại là hai lễ trọng (solemnity) duy nhất được cử hành trong Phụng vụ mùa Chay thánh. Ngày lễ Truyền tin không tưởng nhớ đến khổ nạn, cái chết và sự Phục sinh của Chúa Giêsu, nhưng nhất thiết có liên quan đến việc NHẬP THỂ và Giáng sinh của Ngài. Theo cách hiểu này, toàn bộ Phụng vụ và đức tin Công giáo đều mang tính “quy kitô” (Christ-centered). Lễ Truyền tin được xem như một ngày thuộc lễ Giáng sinh; nhưng lại không thể không dành cho một lễ Phục sinh sau đó.

Để phần nào giúp độc giả hiểu thêm ý nghĩa thần học của ngày lễ đặc biệt này, xin được trình bày ba điểm: (i) Lễ Truyền Tin là gì; (ii) Mối liên quan giữa sự kiện Truyền tin và Mầu nhiệm Nhập thể; (iii) Một cách nhìn mới thêm về Lễ Truyền Tin.

 The Annunciation

(i) Lễ Truyền Tin

Theo lịch sử, thánh Augustinô đã đề nghị cử hành lễ Truyền tin vào ngày 25 tháng 3 cho phù hợp với đúng chín tháng trước Noel. Nhưng lúc đó Tây Ban Nha không đồng ý, nên Công đồng Toleđô (656) đã ấn định 8 ngày trước lễ Giáng sinh. Sau đó được chuyển sang ngày 18 tháng 01 để tránh mùa Chay. Tuy nhiên, từ thời Đức Bênêđictô XIV (1675-1758)[1] Lễ Truyền tin được tái ấn định và Giáo hội hoàn vũ cử hành lễ này vào 25 tháng 3 (như Augustinô đã đề nghị) như ngày nay. Riêng tại Hoa Kỳ, Công đồng Baltimore quyết định lễ Truyền tin (25/3) là lễ nghỉ và lễ buộc cho Giáo hội nước này vào năm 1884.[2]

Trở lại với Giáo hội Công giáo hoàn vũ, ngày 25 tháng 3 đánh dấu một lễ trọng được gọi là “Lễ Truyền tin”. Từ ngữ “truyền tin” có nghĩa và mang sứ điệp gì? Từ “truyền tin” xuất phát từ cách Giáo hội đặt tên ngày lễ qua Phụng vụ. Trong tiếng Latinh ta có cụm từ “Annuntiationem Beatae Mariae Virginis” chỉ lễ này. “Annuntiationem” có gốc là từ tiếng Latinh annuntiare, có nghĩa là “thông tri/báo tin”.

Như thế, theo ngữ nghĩa lễ này nói đến đến việc Đức Trinh Nữ Maria được “truyền tin” về việc NHẬP THỂ (Incarnatio) của Chúa Giêsu, và Mẹ đã đón nhận theo Thiên Ý như được tường thuật trong Tin Mừng Luca.[3]

Ý Nghĩa Phụng Vụ

Thời xưa, lịch Rôma trọng thể mừng “lễ Ngôi Lời Nhập thể” còn gọi là “Lễ Truyền tin của Chúa” (Annuntitio Domini). Lễ này sau đó đã được chỉnh đổi lại; nhưng là lễ Mừng Đức KitôĐức Trinh Nữ Maria. Mừng Chúa Giêsu là Ngôi Lời đã trở thành Con của Mẹ Maria (Mc 6,3). Mừng Đức Maria Trinh Nữ trở thành Thiên Chúa Thánh Mẫu (Lc 1,43).

* Về Chúa Kitô, Phụng vụ Đông và Tây phương mừng lễ trọng này để kính nhớ “lời xin vâng” của Ngôi Lời nhập thể đi vào trần gian.[4] Lễ này cùng một trật kính nhớ giây phút đầu tiên của ơn Cứu chuộcmối tơ duyên kết hợp bất khả phân ly của Thiên tính với nhân tính trong một ngôi vị của Ngôi Lời.

* Về phần Mẹ Maria, cả hai Phụng vụ Đông-Tây phương mừng lễ này như một lễ của Tân EvàĐức Trinh Nữ tuân phục và trung thành. Như Đức Kitô trước khi vào thế gian, Mẹ cũng thưa “Xin vâng” (Lc 1,28b). Bởi phép Chúa Thánh Thần, Mẹ đã đón nhận Ngôi Hai Nhập thể để trở nên Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ nhân loại. Và bởi nhận làm người Con,[5] một Đấng trung gian nơi cung lòng Mẹ (1 Tm 2,5), Mẹ thật sự trở nên Hòm bia Giao ướcĐền thờ Thiên Chúa. Phụng vụ này nêu lên đỉnh điểm (climax) cuộc đối thoại cứu độ giữa Thiên Chúa và con người, và sự tự nguyện chấp nhận và hợp tác của nhân loại (qua Đức Trinh Nữ) trong công trình Cứu chuộc.[6]

(ii) Mối tương quan

Như đã nói có liên quan đến việc NHẬP THỂ và Giáng sinh của Chúa Giêsu. Mà việc Nhập thể (Incarnation) là bước đầu của việc Nhập thế (nativity/giáng sinh) đi vào lịch sử nhân loại. Vì thế Mầu nhiệm Nhập thể này cần thiết nên được đề cao nhấn mạnh hơn nữa nhưng cần thiết như đã theo thứ tự thời gian để diễn tả

- trước hết, phù hợp với chương trình/kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa: trước hết qua việc nhập thể, đến việc giáng sinh nhập thế để cứu độ nhân loại.

- mặt khác, giúp giáo dân nhắc nhớ lại Mầu nhiệm Giáng sinh vừa qua (trước đó ba tháng) hoặc sẽ diễn ra (vào chín tháng sắp đến) như một “quy trình” khép kín của ơn Cứu độ căn cứ theo lịch Năm Phụng vụ đó.

- theo đó, việc truyền tin và mầu nhiệm Nhập thể có một liên hệ không thể tách biệt khỏi nhau. Nhưng có thể nói, việc truyền tin trong một ý nghĩa nào đó, chỉ là “bối cảnh” (background) hay một chứng nhận. Đây là một dấu chỉ mang tính hữu hình (signum visible) dành cho con người. Với cách tự nhiên nhân loại đó, con người nhận biết rằng qua đó mầu nhiệm Nhập thể và Cứu chuộc siêu nhiên được thể hiện theo đúng lịch sử Cứu Độ của Thiên Chúa giàu lòng Xót thương.[7]

(iii) Một cách nhìn mới thêm về Lễ Truyền Tin

Qua hai phần (i) và (ii) đã nêu, chúng tôi hoàn toàn hợp ý và hiệp thông với toàn thể Giáo hội về tinh thần ngày Lễ Truyền Tin theo truyền thống xưa nay. Tuy nhiên, điều này có thể giúp thấy rõ hơn về Mầu nhiệm Nhập thể khi chúng ta tham dự thánh lễ, hiệp thông với chủ tế trong ba Lời Nguyện, đặc biệt là Lời Tổng Nguyện sau đây.

“Lạy Chúa, Chúa đã muốn cho Ngôi Lời của Chúa mặc lấy xác phàm trong lòng Ðức Trinh Nữ Maria để cứu độ loài người. Này chúng con tuyên xưng Ðấng Cứu Ðộ là Thiên Chúa thật và là người thật, xin cho chúng con cũng được thông phần bản tính Thiên Chúa của Người. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở, muôn đời.”[8]

“Lạy Thiên Chúa toàn năng Giáo Hội nhận biết mình đã khởi đầu trong ngày Con Một Chúa nhập thể. Xin chấp nhận của lễ Giáo Hội tiến dâng mà ban cho chúng con được hân hoan cử hành các mầu nhiệm của Con Chúa. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.”[9]

Lạy Chúa, chúng con tuyên xưng rằng: Con Chúa nhập thể trong lòng Ðức Trinh nữ Maria là Thiên Chúa thật và là người thật. Xin cho bí tích chúng con vừa lãnh nhận củng cố niềm tin chân thật ấy, và xin cho cuộc chiến thắng phục sinh của Con Chúa đem lại cho chúng con ơn cứu độ và niềm vui muôn đời. Chúng con cầu xin…”[10]

Như thế, các Lời nguyện trong Phụng vụ Thánh lễ hôm nay rõ ràng đã soi sáng, nung nấu tâm trí, linh hồn giúp ta nhận ra những điều cốt lõi này còn được ẩn dấu (hidden) trong ngày Lễ trọng đại vốn mang tính Nhập thể này.

Tưởng cũng nên nhắc, lại có thể có ý kiến cho rằng như vậy sẽ làm phai nhạt hay giảm nhẹ lòng sùng kính Mẹ của một số tín hữu chăng. Theo chúng tôi, điều đó nếu có sẽ ngược lại nơi tâm hồn Thánh Mẫu của chúng ta. Do đó, chúng ta sẽ tin rằng Mẹ Maria không những sẽ rất hân hoan vui mừng và thậm chỉ còn mong mỏi điều đó được thể hiện, một khi Thiên Chúa được tôn vinh hơn. Và khi Thiên Chúa được tôn thờ hiển danh, chính Mẹ cũng sẽ được tôn kính và yêu mến hơn. Vì nhìn lại trong cuộc đời, Mẹ luôn tự nhận mình là nữ tỳ, tôi tớ Thiên Chúa (ancilla Domini). Mẹ luôn lấy Thánh Ý Chúa (fiat) làm khởi đầu cho mọi sự trong cuộc đời từ trước đó và nhất là đã gắn kết với Mẹ từ lúc Mẹ được Truyền tin hôm nay.[11]

Tạm kết luận

Ngoài những truyền thống về đạo lý về Lễ Truyền tin xưa nay, nên chăng, tín hữu chúng ta ao ước mong muốn Mẹ Giáo hội cách nào đó sẽ đào sâu, phổ biến, và nhấn mạnh thêm lên về MẦU NHIỆM NHẬP THỂ (The Mystery of the Incarnation). Đặc biệt trong bối cảnh ngày Lễ truyền tin hôm nay mà vốn dĩ, một phần không nhỏ giáo dân họ có thể chỉ nhìn sự kiện với cuộc đối thoại giữa hai “nhân-vật-phụ-mà-coi-là-chính” là sứ thần Gabriel và Đức Maria. Trong khi đó, họ có thể bỏ sót hay quên mất Nhân vật “thực sự chính” lại là Con Một Thiên Chúa Nhập thể, Ngôi Hai đã đến thế gian vì yêu thương nhân loại đến cùng (x. Gn 13,1) 

Trong một ý tưởng nhỏ bé, khiêm tốn mang tính học hỏi, chúng tôi xin nêu lên suy tư của mình. Có lẽ đây cũng chỉ là nhãn giới, tạm gọi là khoé nhìn “làm mới” về Lễ Truyền tin từ trong kho tàng đức tin (de deposito fidei) được Thiên Chúa thông ban qua Hội thánh. Điều này vốn rất cần được sự soi chiếu hướng dẫn của các đấng có trách nhiệm và thẩm quyền trước những cảm thức đức tin (sensus fidei) hiện có của và nơi các tín hữu hậu thời Vatican II.

Lễ Truyền Tin 2023

DuySa



[1] Giáo hoàng Biển Đức XIV (La Tinh: Benedictus XIV), còn gọi là Bênêđíctô XIV (31 tháng 3 năm 1675 – 3 tháng 5 năm 1758, tên khai sinh: Prospero Lorenzo Lambertini) là một giáo hoàng, cai quản Giáo hội Công giáo Rôma từ ngày 17 tháng 8 năm 1740 đến ngày 3 tháng 5 năm 1758. (x. Wikipedia)

[2] Lm. Phêrô, CMC, Nguồn: tinmung.net. Truy cập 24/3/2-23. https://giaophannhatrang.org/vi/news/Phung-Vu-343/Le-Truyen-Tin-Lich-su-va-y- nghia-13949.html.

[3] X. Lc 1,26-38.

[4]Lạy Chúa, này con đây. Con xin đến để thực thi ý Chúa”. (x. Dt 10,7; Tv 39,8-9).

[5] X. Gl 4,4.

[6] Ibid.

[7] x. Xh 34,6; Ep 2,4; ĐGH Phan-xi-cô, “Dung Mạo Lòng Thương Xót”, số 6.

[8] X. Lời Tổng nguyên.

[9] X. Lời nguyên Tiến lễ.

[10] X. Lời nguyện Hiệp lễ.

[11] x. Lc 1,28b.