Friday, August 19, 2016

Có Buộc Phải Giữ Hết Các Mệnh Lệnh Luân Lý Của Tân Ước Không?

Một trong những yêu sách của thần học luân lý là phải tìm về Kinh Thánh để khám phá ra những tiêu chuẩn cho cách cư xử, chứ không phải chỉ dựa vào các triết gia, các học giả. Thế nhưng, khi mở Kinh Thánh, chúng ta lại thấy có những mệnh lệnh (lệnh truyền) xem ra khó mà thực hiện được, nếu không muốn nói là không thể.
Vấn đề
Một trong những yêu sách của thần học luân lý là phải tìm về Kinh Thánh để khám phá ra những tiêu chuẩn cho cách cư xử, chứ không phải chỉ dựa vào các triết gia, các học giả. Thế nhưng, khi mở Kinh Thánh, chúng ta lại thấy có những mệnh lệnh (lệnh truyền) xem ra khó mà thực hiện được, nếu không muốn nói là không thể; ví dụ như: khi bị vả mặt bên trái, thì đưa má bên phải cho họ vả thêm?, hoặc như đòi buộc phải yêu thương kẻ thù, kẻ gây hại cho mình, như chính bản thân mình,...
Tuy nhiên, ngoài chuyện khó thực hành trong đời sống của người Kitô hữu đối với một số yêu sách của Tin Mừng (đặc biệt là sự tha thứ), thì cũng còn có nhiều yếu tố khác khiến cho các học giả đặt ra vấn đề, đó là: "Các mệnh lệnh của Tân Ước có tính cách bắt buộc đến mức độ nào?". Chúng ta có thể tóm lại với ba yếu tố hoặc vấn nạn chính như sau:
- a/. Có những mệnh lệnh lấy từ văn hóa thời đại, chứ không phải của Kitô giáo;
- b/. Trong Tân Ước, chung quanh một vấn đề, có những mệnh lệnh xem ra tương phản nhau;
- c/. Thời buổi ngày nay có những tiêu chuẩn đo lường giá trị luân lý khác thời xưa.
Chúng tôi sẽ khai triển những vấn nạn này, và sau đó trình bày vài kết luận.
1. Vấn nạn thứ nhất
Người ta thấy trong phần khuyến thiện (parenesis) của các thư của thánh Phaolô danh sách các nhân đức và tội lỗi lấy từ nền văn hóa hay luân lý đương thời. Thế thì những mệnh lệnh ấy đâu có phải của riêng Kitô giáo? Do đó, chúng chỉ có giá trị tương đương với những nền văn hóa mà chúng đã được vay mượn.
Thực ra, vấn nạn này chỉ đúng một phần, xét vì thánh Phaolô không trích thuộc lòng danh sách các nhân đức và tội lỗi lấy từ các nền văn hóa khác, nhưng Ngài đã luyện lọc chúng cho phù hợp với tinh thần Tin Mừng. Dù sao, như sẽ thấy sau, một số mệnh lệnh khuyến thiện chỉ có tính cách mục vụ, nghĩa là nhằm đưa ra một đường lối xử sự trong một hoàn cảnh cụ thể, chứ không có tính cách phổ quát.
2. Vấn nạn thứ hai
Trong Tân Ước, người ta thấy có những giáo huấn xem ra tương phản. Tỉ dụ như thái độ đối với nhà nước: Phaolô xem ra hòa hoãn với nhà nước Roma (Rm 13,1-7), còn tác giả sách Khải Huyền chương 13 thì coi nhà nước Roma như đĩ hợm, nguồn gốc của mọi tội ác trần gian. Thậm chí Phaolô trong thư gửi Roma (Rm 13,1-7) khuyên các tín hữu hãy phục tùng quyền bính và luật lệ quốc gia, nhưng sang tới thư thứ nhất gửi Corinto (1Cr 6,1-8) thì trách các tín hữu khi họ đi kiện tụng ở tòa án đời.
Thực ra, vấn nạn này xem ra không quan trọng mấy: có những mệnh lệnh thoạt tiên xem ra mâu thuẫn, song không phải như vậy. Trong thư gửi Roma, thánh Phaolô nhìn nhận vai trò của nhà nước, xét vì nó cần thiết để bảo vệ an ninh trật tự xã hội; thế nhưng trong sách Khải Huyền thánh Gioan đã lên án Roma bởi vì nhà nước tự đặt mình làm Chủ Tể, bắt người dân phục tùng tuyệt đối, và điều này không thể chấp nhận được. Một cách tương tự như vậy, trong thư gửi Roma, Phaolô khuyên tín hữu hãy tôn trọng luật lệ quốc gia, các cơ cấu thể chế của nó; điều đó vẫn đúng khi Ngài viết thư gửi Corinto, duy có điều là Ngài muốn rằng những chuyện nội bộ thì hãy tìm cách dàn xếp ổn thỏa với nhau, chứ đừng cải vả kiện tụng ở tòa án đời.
Dù sao, ta có thể nhận thấy rằng khi đọc những mệnh lệnh luân lý trong Tân Ước, ta cần phải biết yếu tố nào lệ thuộc vào một hoàn cảnh cụ thể, yếu tố nào có tính cách hằng cửu, và nhất là cần tìm hiểu nguyên lý phát xuất mệnh lệnh ấy.
Ta có thể lấy một tỉ dụ khác khi nói về việc ăn đồ cúng được thánh Phaolô đề cập tới trong thư thứ nhất gửi Corinto, chương 8. Theo ngài, đồ cúng chả có gì khác với đồ không cúng hết, cho nên cứ việc ăn; thế nhưng, nếu vì việc mình ăn đồ cúng mà làm cho một người anh em bị vấp phạm, thì hãy tránh: ở đây tiêu chuẩn cư xử là đức ái, tránh đừng gây tổn hại cho người anh em mình.
Nói cách khác, người Kitô có khi được ăn đồ cúng có khi cấm ăn đồ cúng: điều ấy không phải do chính đồ cúng xấu hay tốt, nhưng là trong hoàn cảnh nào việc ăn hay không ăn có thể xúc phạm đến đức ái hay không.
3. Vấn nạn thứ ba
Vấn nạn này chủ trương rằng không những thời đại của chúng ta sống thời nay khác với thời đại của Chúa Giêsu và thánh Phaolô, nhưng ngay trong chính Tân Ước, cũng có sự khác biệt giữa Tin Mừng và các thư thánh Phaolô.
Chúa Giêsu chỉ đề ra những đường hướng căn bản, tựa như theo thánh Gioan, thương yêu là tiêu chuẩn cho hết mọi hành vi cũng như cho cả cuộc đời; còn thánh Phaolô thì thích đi vào chi tiết; nói khác đi, Tân Ước không đề ra một nền luân lý nhất định, nhưng có tính cách mềm dẻo linh động, để có thể thích nghi tùy thời thế.
Hơn thế nữa, có người cho rằng Đức Kitô đề ra một lý tưởng cho mình nhắm tới, chứ Ngài không đòi hỏi phải đem ra thực hiện, xét vì nếu áp dụng mệnh lệnh tha thứ, thì còn gì là tổ chức công lý trong xã hội nữa. Từ đó, các tác giả ấy sẽ cố gắng tìm hiểu đâu là lý tưởng, động lực nòng cốt của luân lý Tân Ước, và đâu là những chi tiết lệ thuộc vào điều kiện văn hóa đương thời.
Từ những vấn nạn vừa nói, chúng ta thấy rằng việc nghiên cứu luân lý của Tân Ước không đơn giản. Tân Ước không phải là một bộ luật viết sẵn trên trời rồi được ghi lại trong Sách Thánh; Kinh Thánh thành hình lên trong khung cảnh đời sống con người gắn chặt với không gian và thời gian; thế nhưng, chính trong điều kiện tương đối ấy mà Thiên Chúa muốn lập một giao ước vĩnh viễn với con người.
Những học giả Kinh Thánh cố gắng khám phá ra những tiêu chuẩn có tính cách vĩnh viễn, tách ra khỏi những gì lệ thuộc vào một hoàn cảnh nhất định. Công cuộc khảo cứu này đòi hỏi việc phân tích hình thức văn chương (ví dụ như: lời khuyên, lời truyền, châm ngôn,...), cũng như phân tích những điều kiện lịch sử, những hoàn cảnh nào đã thúc đẩy thánh Phaolô phải đề ra những biện pháp ấy.
Sau khi phân tích văn chương, còn phải phân tích tư tưởng, nghĩa là xét xem giá trị của một mệnh lệnh xét trong toàn bộ sứ điệp Kitô, bởi vì không phải tất cả các mệnh lệnh đều có tầm quan trọng như nhau đối với Tin mừng cứu độ.
Vài kết luận
Từ những khảo cứu của các nhà chú giải Kinh Thánh trong vòng 30 năm qua, Giuseppe Segalla đã tóm tắt những kết luận như sau:
Trong Tân Ước chúng ta có thể phân biệt bốn loại quy tắc luân lý:
- a/. Quy tắc nền tảng;
- b/. Quy tắc mẫu mực tổng quát;
- c/. Quy tắc riêng biệt;
- d/. Quy tắc mục vụ.
1. Những quy tắc nền tảng, gồm giới lệnh mến Chúa yêu người, nền tảng của các giới răn khác; sự hoán cải để vào nước Chúa; tin theo Tin Mừng; theo chân Chúa Giêsu; sống theo Thánh Thần... Những quy tắc này đề ra những giá trị tối thượng chứ không ấn định chi tiết, nhưng cần được diễn tả ra thực hành trong đời sống cụ thể. Chúng có uy lực bắt buộc tuyệt đối.
2. Những quy tắc mẫu mực và tổng quát. Thường thấy trong các dụ ngôn, các lời khuyên khôn ngoan, thường đựơc diễn tả qua lối văn biểu tượng. Tỉ dụ khi Chúa truyền rằng “khi anh bố thí, thì đừng đánh trống thổi kèn”, ắt là Chúa không cấm đánh trống theo nghĩa đen! Ta cũng có thể hiểu như vậy về những lời: “đưa má kia cho người ta vả”“cho ai mượn thì đừng đòi lại”,... Đó là những lối hành văn khuyến dụ không nhằm đến chính hành động cho bằng phẩm chất của hành động, nghĩa là mặc cho hành động một động lực mới (thương yêu), hay là chủ đích mới (ơn cứu độ của con người). Khi nói rằng đưa má kia cho người ta vả, Chúa muốn cho chúng ta khước từ vũ lực, và nếu có thể được, hãy cố gắng cứu độ chính người vũ phu đã hành hung mình. Khi nói rằng đừng đòi lại vật mình đã cho người ta mượn, Chúa muốn cho chúng ta có thái độ luôn sẵn sàng giúp đỡ tha nhân. Những quy tắc này có giá trị tổng quát, và cũng có tính cách bắt buộc.
3. Những quy tác riêng biệt, ấn định một hành động cụ thể (ví dụ như phải nộp thuế, đừng xét đoán, đừng tà dâm), hoặc những danh sách các nhân đức và tật xấu. Những điều này thường được lấy từ các nền luân lý Do Thái và Hy Lạp, và được thích ứng với tinh thần Kitô giáo.
Ta phải ghi nhận một đàng là chính hành động, và đàng kia là giá trị gói ghém trong hành động ấy. Dĩ nhiên, cái giá trị nội tại thì quan trọng hơn việc biểu lộ ra hành động bên ngoài; vì vậy những quy tắc này có tính cách bắt buộc xét theo giá trị mà chúng bảo vệ.
4. Sau cùng, những quy tắc mục vụ, nghĩa là những quy tắc nhằm duy trì trật tự nội bộ trong cộng đoàn; chúng lệ thuộc vào những hoàn cảnh thời đại, và nay đã lỗi thời: ví dụ như việc các bà phải đội khăn lên đầu trong các buổi họp (1Cr 11); việc cắt bì (Cv 15); việc ăn đồ cúng (1Cr 8); việc sử dụng đặc sủng (1Cr 14).
Những quy tắc này chỉ được áp dụng trong thời đại chúng ta trong mức độ chúng mang theo những giá trị làm động lực của chúng. Một tỉ dụ đã nói trên đây là việc ăn đồ cúng: giá trị là việc thực hiện bác ái; hoặc sự giữ nết na trong các buổi họp cầu nguyện (không nhất thiết qua việc trùm khăn lên đầu).
Trong số bốn loại quy tắc, loại cuối cùng mang tính cách tương đối hơn cả, vì nó có tính cách nhất thời (ta có thể ví với nhiều biện pháp kỷ luật hiện hành trong Giáo Hội). Loại thứ ba cũng có thể bao gồm những giá trị lệ thuộc vào quan điểm của một thời đại, tỉ như mối tương quan giữa vợ chồng. Quan niệm cổ truyền tôn ti trật tự muốn rằng vợ phải phục tùng chồng, và chồng tùng phục Đức Kitô. Thế nhưng tuy vẫn phải duy trì sự quy hướng của đức tin và đức ái về Đức Kitô, mối liên hệ vợ chồng có thể được phát biểu với một giá trị khác với quan điểm cổ truyền, nghĩa là tương giao chứ không phải tùng phục.
Để kết luận, việc tìm hiểu luân lý của Tân Ước đòi hỏi nhiều nghiên cứu công phu, nhằm phân biệt những quy tắc có giá trị vĩnh viễn và những quy tắc có giá trị nhất thời. Đây cũng là một vấn đề gai góc của thần học hiện đại: có những quy chuẩn tổng quát cho mọi nơi mọi thời hay không?

Viết theo: Giuseppe Segalla, “Quale validità obbligante hanno le indicazioni etiche del Nuovo Testamento?” in: Scuola Cattolica 115 (1987) pp. 540-569. I.D., Introduzione all'etica del Nuovo Testamento, Queriniana Brescia 1989 (Recensione in Studia Patavina 37, 1990, pp. 601-625).
 
Tác giả bài viếtPhan Tấn, OP.
Nguồn tin: catechesis.net

Thursday, July 28, 2016

CHÚNG TA và GIÁO HỘI
-----------------------------------
Có nhiều người CG không hài lòng với GH, thậm chí còn chê trách, nói xấu và phỉ báng GH, người Mẹ đã sinh ra chúng ta trong Bí tích và Ơn Thánh. Mời Quí vị và các bạn theo dõi bài chia sẻ sau đây.
.....................................

Tuesday, July 19, 2016

MARIA MAĐALÊNA, BÀ LÀ AI?
-------------------------------
Maria Mađalêna có một ảnh hưởng bền bỉ lâu dài, gợi hứng cho nhiều nghệ sĩ, tội nhân lẫn các thánh và cả những môn đệ của Đức Kitô qua nhiều thời đại.  Tiếng tăm này không thể dễ dàng giải thích dựa vào các thông tin về bà trong Kinh Thánh.  Điều Tân Ước nói về bà thật ít ỏi và gây thất vọng, đơn giản chỉ gọi bà là Maria Mađalêna hay Maria thành Magđala, nhưng có một chi tiết nhỏ thật có ý nghĩa và thách đố.  Cả bốn Tin Mừng đều khẳng định bà là môn đệ gương mẫu cho mọi thời đại.

Có điều gì đó bí ẩn và hấp dẫn về người phụ nữ này trong các Tin Mừng.  Một người phụ nữ mà tên riêng không đi kèm với tên một người đàn ông nào khác ngay trong Tân Ước thì đó là điều thật có ý nghĩa.  Khi xếp bà riêng ra thì hoặc bà là một nhân vật ngoại thường hoặc có vấn đề gì ở đây.  Có lẽ chính vì thế mà óc tưởng tượng bình dân đã “điền vào chỗ trống” và gán ghép bà với những phụ nữ khác trong Tân Ước, tạo nên một khối tù mù.  Trước khi xem các Tin Mừng nói gì thì chúng ta hãy xem thử những gì mà các Tin Mừng không hề nói.

Monday, July 11, 2016


NHỮNG ĐÒI HỎI THIẾT YẾU 

ĐỂ TRỞ THÀNH MÔN ĐỆ TRƯỞNG THÀNH 
của Chúa GiêSu

Trong quyển tiểu sử của mình, Morris West cho rằng, ở một độ tuổi nhất định nào đó của cuộc đời, tự điển tâm linh của chúng ta đơn giản chỉ còn ba câu: Cám ơn! Cám ơn! Cám ơn! Ông đúng nếu chúng ta hiểu trọn vẹn thế nào là sống với tấm lòng biết ơn. Biết ơn là đức hạnh cao nhất, là nền tảng cho các thứ hạnh khác, kể cả tình yêu. Và nó còn đồng nghĩa với thánh thiện.

Biết ơn không chỉ là điều xác định sự thánh thiện, mà còn xác định cả sự trưởng thành. Chúng ta trưởng thành khi đạt đến mức độ biết sống biết ơn. Nhưng điều gì sẽ cho chúng ta được như thế? Điều gì cho chúng ta một sự trưởng thành nhân bản sâu sắc hơn? Tôi muốn nêu ra đây mười đòi hỏi chính yếu cả trong sự trưởng thành nhân bản lẫn trưởng thành Kitô giáo:


1. Sẵn sàng đảm nhận hơn nữa những phức tạp đời sống với lòng cảm thông


Trong cuộc sống, có rất ít điều trắng đen hoặc đơn giản là xấu tốt rõ ràng, kể cả trong tâm hồn và động cơ của chúng ta. Sự trưởng thành làm cho chúng ta nhìn nhận, thông hiểu và chấp nhận sự phức tạp này với lòng cảm thông để, như Chúa Giêsu, chúng ta khóc những giọt nước mắt thông hiểu cho những đô hội hỗn loạn và những tâm hồn phức tạp của chính chúng ta.

2. Ghen tương, giận dữ, chua cay, thù ghét phải được biến đổi, không ăn miếng trả miếng. 
Bất kỳ nỗi đau hay áp lực nào không được biến đổi, thì chúng sẽ được chúng ta lan truyền tiếp. Khi đối diện với ghen tương, giận dữ, chua cay, thù ghét, chúng ta phải như người lọc nước, giữ độc tố bên trong, chỉ để cho giòng nước tinh khiết chảy ra ngoài, chứ đừng làm như sợi dây điện, cứ để điện năng xuyên qua mà không lọc.



3. Hãy mềm dẻo chịu đựng hơn là để tâm hồn chai cứng
Chịu đựng và khiêm nhường luôn có trong chúng ta, nhưng cách chúng ta đáp trả, tha thứ hay chua cay, sẽ định rõ mức độ trưởng thành và chân tướng của chúng ta. Đây có lẽ là phép thử cao nhất cho đạo đức của chúng ta: Liệu lòng khiêm tốn của tôi sẽ làm mềm dịu hay chai cứng tâm hồn tôi đây?

4. Tha thứ
Đến cuối cùng, chỉ có một điều kiện để được vào thiên đàng (cũng như để sống trong cộng đồng nhân loại), chính là sự tha thứ. Có lẽ trong nửa sau cuộc đời mình, việc khiến chúng ta phải đấu tranh nhiều nhất chính là hành động tha thứ: Tha thứ cho những ai đã làm chúng ta tổn thương, tha thứ cho bản thân vì những khiếm khuyết, và tha thứ cho Thiên Chúa vì dường như Ngài đã bất công để chúng ta kiệt lực khi đối diện với thế giới này. Trong tất cả, đòi hỏi đạo đức lớn nhất chính là đừng để mình chết đi với một tâm hồn chua cay và bất dung.

5. Sống biết ơn
Là một vị thánh nghĩa là được kích động bởi lòng biết ơn, không hơn không kém. Đừng để ai lừa mình với tư tưởng cho rằng lòng sốt sắng với chân lý, với giáo hội, và ngay cả với Thiên Chúa có thể cao hơn hay ít ra cũng ngang với đòi hỏi không nhân nhượng là chúng ta phải luôn luôn biết sống trong tâm tình biết ơn. Thánh thiện là sống biết ơn. Không có lòng biết ơn, chúng ta sẽ thấy mình đang làm những điều đúng cho những động cơ sai lầm.

6. Chúc phúc hơn là chúc dữ
Chúng ta trưởng thành khi chúng ta khẳng định mình bằng điều mà chúng ta hướng đến hơn là điều mà chúng ta chống lại và đặc biệt sự trưởng thành của chúng ta được đánh dấu khi chúng ta, như Chúa Giêsu, biết tìm đến tha nhân và nhìn họ với cặp mắt chúc lành (“Xin Chúa chúc lành cho bạn!”) hơn là chúc dữ (“Bạn nghĩ bạn là ai vậy”?) Có khả năng khen ngợi hơn là phê phán là dấu hiệu cho thấy mức độ trưởng thành của mỗi người.

7. Sống minh bạch và lương thiện
Chúng ta không bình thường khi khư khư ôm giữ các bí mật bệnh hoạn nhất của mình, nhưng chúng ta sẽ sống lành mạnh khi chúng ta sống lương thiện. Như Martin Luther đã từng nói, chúng ta cần “phạm tội một cách dũng cảm và chân thật.” Sự trưởng thành không có nghĩa là chúng ta trở nên hoàn hảo hay vô tội, nhưng có nghĩa là chúng ta sống chân thật.

8. Cầu nguyện bằng cảm xúc lẫn theo nghi thức
Nguồn năng lượng chúng ta cần để cho mình sống trong lòng biết ơn và tha thứ không nằm ở sức mạnh của ý chí nhưng ở ân sủng và cộng đoàn. Chúng ta được vậy là nhờ cầu nguyện. Chúng ta trưởng thành khi biết mình bất lực và biết nhờ đến sức mạnh Thiên Chúa, cũng như khi biết cầu nguyện với tha thân để cho toàn thế giới cũng sẽ cầu nguyện như vậy.

9. Mở rộng vòng tay hơn bao giờ hết
Chúng ta trưởng thành khi định nghĩa được ai là gia đình mình (Ai là anh chị em tôi?) theo một cách đại kết, liên tôn, không phân biệt tư tưởng, không kỳ thị. Chúng ta chỉ trưởng thành khi biết thương xót như Thiên Chúa giàu lòng thương xót, mặt trời chiếu cho cả người mình thích và không thích. Đến một lúc, chúng ta phải thay thế các áp phích cổ động yêu thương bằng những cái chậu cái khăn để cùng tắm chung một dòng nước.

10. Hãy ở đúng vị thế của mình, và để Thiên Chúa bảo vệ bạn
Xét tận cùng, tất cả chúng ta đều yếu ớt, chỉ nhờ vào may rủi, và vô vọng, không bảo vệ những người chúng ta yêu mến, và cả chính chúng ta nữa. Chúng ta không thể bảo đảm sự sống, an toàn, ơn cứu rỗi, hay sự tha thứ cho chính mình hay cho những người mình yêu thương. Sự trưởng thành dựa trên việc chấp nhận sự thật này hơn là cứ mãi lo lắng về nó. Chúng ta chỉ có thể làm hết sức mình, bất kể quãng đời nào, vị thế nào, giới hạn hay khiếm khuyết của mình, và tin rằng như vậy là đủ, tin rằng nếu chúng ta ngã xuống nơi chiến điểm của mình, trong chân thật, trong khi đang làm nhiệm vụ được giao, thì chính Thiên Chúa sẽ lo cho phần còn lại.

Thiên Chúa là một bậc cha mẹ yêu thương vô vàn, tràn đầy thông hiểu, và hoàn toàn cảm thông. Chúng ta trưởng thành và tự do thoát khỏi những lo lắng sai lầm, khi chúng ta hiểu được và tin tưởng sự thật đó.

-------------------------------

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Thursday, June 9, 2016

SỰ THA THỨ, TUYỆT ĐỈNHCỦA LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA

“Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34)
Chỉ có thánh Lu-ca nhắc đến lời nguyện “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” của Chúa Giê-su. Đó là lời nguyện diễn tả trọn vẹn giáo huấn về lòng thương xót (ἔλεος) (Bản LXX dùng từ ἔλεος để dịch từ Híp-ri חֶסֶד) của Thiên Chúa mà Đức Giê-su đã để lại trong cuộc thương khó của Người và được thánh Lu-ca ghi lại trong Tin Mừng của mình.

Thursday, May 19, 2016

Giải đáp phụng vụ:

Mọi linh mục được ban nghi thức làm phép thuộc các Dòng tu.

Hỏi: Câu hỏi này là về "Các nghi thức làm phép riêng” (Benedictiones Propriae) được tìm thấy trong “Nghi lễ Rôma” (Rituale Romanum). Liệu các nghi thức làm phép này, dành cho linh mục thuộc các Dòng tu, được ban một cách hợp lệ bởi bất cứ linh mục Công Giáo nào không, hay chỉ bởi các linh mục của các Dòng tu đặc biệt ấy? Con hỏi câu này trong ánh sáng của huấn thị "Universae Ecclesiae", đặc biệt là số 28. - A. C., Ý.

Tuesday, May 17, 2016


THẮC MẮC SỐNG ĐẠO

Tại sao Giáo hội của Chúa Kitô là Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền?

Hỏi: xin cha giải thich: Những người chỉ trích Giáo Hội nêu lý do là trong Kinh Thánh không tìm đâu ra những từ ngữ như: duy nhất,thánh thiện, công giáo và tông truyền. Vậy từ đâu Giáo Hội Công Giáo có những đặc tính trên đây? và nếu không gia nhập Giáo Hội Công Giáo thi có được cứu rỗi không?

Trả lời: Các giáo phái ngoài Công Giáo từ xưa đến nay vẫn thường chỉ trích Giáo Hội Công Giáo là thiếu nền tảng Kinh Thánh nên đã phạm nhiều lầm lỗi. Sở dĩ thế vì họ - các nhóm Tin Lành nói chung- chì tin có Kinh Thánh (sola scriptura) nhưng họ cắt nghĩa Kinh Thánh theo cách đọc và hiểu của riêng họ nên mới đả kích Giáo Hội như vậy. Thật ra, Giáo Hội Công Giáo không những có Kinh Thánh mà còn có thêm những nguồn suối chân lý khác như Mặc khải (revelatio) Thánh Truyền (Traditio) và Quyền Giáo Huấn (Magisterium) là những nền tảng mà các giáo hội ngoài Công Giáo không có và cũng không nhìn nhận giá trị. Vì thế, ta không ngạc nhiên khi có sự khác biết lớn lao giữa Công Giáo và các giáo phái về nhiều lãnh vực của đức tin. Liên quan đến bản chất và sứ mệnh của Giáo Hội, thì sau đây là những lý do để trả lời câu hỏi nêu ra:

I. Trong Kinh Tin Kinh của Công Đồng Nicene đọc ngày Chúa Nhật và các ngày lễ trọng, Giáo hội tuyên xưng “có Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền”.

1- Giáo Hội duy nhất:
Giáo Hội là duy nhất vì Chúa Kitô chỉ thiết lập Giáo Hội này một lần trên nền tảng các tông đồ mà Phêrô là Đá Tảng: “Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần Sẽ không thắng nổi.” (Mt 16:18)

Như thế, Giáo Hội là duy nhất vì bắt nguồn từ “Khuôn mẫu tối cao và nguyên lý của mầu nhiệm này nằm trong Ba Ngôi của một Thiên Chúa duy nhất là Cha và Con trong Thánh Thần” (UR 2, SGLGHCG, số 813).

Nói khác đi, Giáo Hội là duy nhất vì Đấng sáng lập là Chúa Kitô cũng là Thiên Chúa duy nhất cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong một Thiên Chúa có chung một bản thể và uy quyền. như nhau. Như thế đặc tính duy nhất của Giáo Hội thể hiện mầu nhiệm duy nhất của một Thiên Chúa có Ba Ngôi Vị

Tính chất độc nhất này của Giáo hội đã được Thánh Công Đồng Vatican II minh xác như sau: “Đó là Giáo Hội độc nhất của Chúa Kitô mà chúng ta tuyên xưng trong Kinh Tin Kính là duy nhất. thánh thiện, công giáo và tông truyền. Sau khi phục sinh, Đấng cứu chuộc chúng ta đã trao phó cho Phêrô chăn dắt Giáo Hội đó. (Ga 21:17). Người phó thác cho Phêrô cũng như cho các Tông Đồ khác truyền bá, cai quản (Mt 28:18 )… Như một xã hội được thiết lập qui củ trên trần gian, Giáo Hội ấy “tồn tại trong Giáo Hội Công Giáo” do Đấng kế vị Phê rô và các Giám Mục hiệp thông với ngài điều khiển…(x. Lumen Gentium, số 8)

2- Giáo Hội Thánh Thiện:
Giáo Hội thánh thiện vì Chúa Kitô, Đấng sáng lập và là Đầu của Giáo Hội được tuyên xưng là

“Đấng Thánh duy nhất” cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, đã yêu thương Giáo Hội như hiền thê của mình... vì thế Giáo Hội là Dân thánh của Thiên Chúa và các thành viên của Giáo Hội được gọi là “các thánh” (SGLGHCG số 823)

Tuy nhiên, do bản chất loài người đã bị băng hoại vì tội nguyên tổ, cho nên các thành viên lớn nhỏ của Giáo Hội chưa hoàn toàn là “các thánh” như tước hiệu được ban cho. Nghĩa là Giáo Hội vẫn bao gồm những người có tội đang cần sám hối để xin Chúa tha thứ và thánh hóa hầu xứng đáng là “Dân thánh của Người”trong Giáo Hội có bản chất thánh thiện vì Chúa Kitô, Đầu của Giáo Hội là Đấng Thánh, trọn lành.

3- Giáo Hội là công giáo (catholic = universal) đặc tính này bắt nguồn từ chính Chúa Kitô, Đấng sáng lập Giáo Hội, qua hai sự kiện cụ thể được ghi lại trong Kinh Thánh Tân Ước như sau:

a- Trước hết, sau khi giáng sinh ở Bethlehem, Chúa đã tỏ mình cho dân ngoại qua ánh sao lạ mời gọi và đẫn đường cho ba chiêm tinh gia cũng quen gọi là Ba Vua, từ phương Đông đến thờ lậy Người. (Mt 2: 1-12) Sự kiện này cho thấy rõ tính phổ quát (universality) của Ơn Cứu Độ mà Chúa mang đến không phải chỉ dành riêng cho một dân tộc nào, - kể cả dân Do Thái, vốn là Dân riêng của Thiên Chúa, - mà dành cho hết mọi dân tộc, thuộc mọi ngôn ngữ và văn hóa..

b- Thứ đến, trước khi về Trời, Chúa Kitô đã truyền cho các môn đệ mệnh lệnh sau đây: “anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Co và Thánh Thần..” (Mt 28:19).

Trước hết, đây là lời Chúa mời gọi mọi người không phân biệt màu da, tiếng nói , chủng tộc nhận biết Chúa và lãnh ơn cứu chuộc của Người ,vì “Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta muốn cho mọi người được cứu độ và nhân biết chân lý.”(1Tm 2: 4).Đây cũng là lệnh truyền của Chúa Giêsu trước hết cho các Tông Đồ và các người kế vị trong Giáo Hội từ thời sơ khai cho đên ngày nay và cho đến ngày mãn thời gian, phải đi khắp nơi để rao giảng Phúc Âm cho muôn dân để mời gọi họ đón nhận Tin Mừng hầu được cứu rỗi như lòng Chúa mong muốn..

Thêm một lần nữa, đây chính là nét phổ quát của Ơn Cứu Độ mời gọi hết mọi dân tộc không phân biệt mầu da, tiếng nói và văn hóa đón nhận để được sống hạnh phúc trường sinh trên Nước Trời.

Chúa đã thiếp lập Giáo Hôi như phương tiện hữu hiệu nhất để chuyên chở Ơn Cứu Độ của Người đến cho những ai có thiện chí muốn đón nhận. Và phép Rửa là cửa ngõ đi vào Giáo Hội này.

Chính vì nét phổ quát này của Ơn Cứu Độ mà Giáo Hội của Chúa được gọi là Công Giáo (Catholicam, Catholic, Catholique = Universal) vì mục đích mời gọi hết mọi người gia nhập để trở thành Dân Thiên Chúa và hầu nhận lãnh Ơn Cứu Chuộc của Chúa Kitô.

Hơn nữa, Giáo Hội là Công Giáo vì có Chúa Kitô hiện diện trong Giáo Hội này: “đâu có Chúa Kitô thì đấy có Giáo Hội Công Giáo” theo lời dạy của Thánh Ignatiô thành Antiokia (Sđd, số 795 (830). Người không những hiện diện mà còn là Đầu của Giáo Hội như Thánh Phaolô đã dạy như sau:

“Người (Chúa Kitô) cũng là Đầu của thân thể; nghĩa là Đầu của Hội Thánh..”(Cl 1:18; Ep 4: 15)

Tóm lại, Giáo Hội là Công Giáo vì được Chúa Kitô thiết lập và sai đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân trên khắp địa cầu cho đến thời viên mãn. Cũng vì đặc tính phổ quát này mà Giáo Hội có bản chất truyền giáo (missionary, evangelical) trong sứ mệnh của mình.

Sau hết , cũng cần nói lại ở đây một lần nữa là từ ngữ “Công Giáo” ở đây hoàn toàn không có nghĩa là “công cộng=public”như có người,vì kém hiểu biết, đã tự chế và dich sai ra Anh ngữ như trên nhằm mục đích đả phá Giáo Hội, vì cho là Công Giáo muốn trở thành Quốc Giáo nên mới tự xưng là “Đạo cộng cộng = Public Religion”, một từ ngữ không hề có trong Tự điển các Tôn Giáo trên thế giới.

4- Giáo Hội Tông Truyền (Apostolic): Giáo Hội là Tông Truyền vì được Chúa Kitô thiếp lập trên nền tảng các Tông Đồ mà Phêrô là “Đá Tảng” (Mt 16:18; Ep 2:20; Cv 21:14). Chúa đã sai các Tông Đồ đi loan báo Tin Mừng Cứu Độ của Người cho mọi dân tộc, tức là cho các ông được tham gia vào Sứ Vụ rao giảng và Cứu độ của Chúa cùng mục đích như Chúa Cha đã sai Người đến trần gian:
“Như Chúa Cha đã sai Thầy
Thì Thầy cũng sai anh em “(Ga 20:21)

Như vậy các Tông Đồ đã nhân lãnh trực tiếp từ Chúa Giêsu sứ mệnh cai quản Giáo Hội để tiếp tục Sứ Vụ rao giảng và cứu độ của Chúa cho đến ngày cánh chung. Các Tông Đồ đã chọn những người kế vị các ngài là các Giám mục được tuyển chọn và truyền chức thánh qua việc đặt tay (1 Tm 4: 14; 5: 22; 2Tm 1:6) để tiếp tục sứ vụ của các ngài trong việc cai quản, dạy dỗ và thánh hóa Dân Chúa trong Giáo Hội, với sự cộng tác và vâng phục của các linh mục và phó tế, là những cộng sự viên đắc lực của các Giám mục. (Lumen Gentium số 20). Các Giám mục cũng vâng phục và hiệp thông trọn vẹn với Đức Thánh Cha là người kế vị Thánh Phêrô, Tông Đồ cả mà Chúa Kitô đã đặt lên để “chăn dắt các chiên con và chiên mẹ của Thầy.” (Ga 21: 15-17). Đức Thánh Cha cũng là Giám mục Rôma và là Thủ Lãnh Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ (Universal Catholic Church). Hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ là các Giáo Hội Công Giáo địa phương (Local Church) hay còn gọi lá các Giáo Phận (Diocese) do một Giám Mục chinh tòa (Ordinary) cai quản.

Đó là tất cả ý nghĩa của đặc tính tông truyền của Giáo Hội Cộng Giáo. Các giáo phái ngoài Công Giáo -trừ Chính Thống Giáo- thiếu đặc tính quan trọng này nên không thể có các bí tích Thánh Thể, Hòa giải, Thêm sức, và Sức dầu hữu hiệu (valid) được vì họ không có Bi Tích truyền Chức Thánh (Holy Orders) mà Chúa Giêsu đã thiết lập trong Bữa Tiêc Ly để nhờ đó các thừa tác viên loài người là linh mục và Giám mục được chia sẻ Chức Linh Mục đời đời của Chúa Kitô, Thầy Cả Thượng Phẩm theo phẩm trật Men-ki-xê-đê” (Dt 5:10). Nhờ được chia sẻ Chức Linh Mục này mà Giáo Hội tiếp tục dâng Hy tế đền tội của Chúa Kitô trên bàn thờ mỗi ngày khi các thừa tác viên có chức linh mục là Giám mục và linh mục.cử hành Thánh Lễ Tạ Ơn (The Eucharist)

II- Về câu hỏi thứ hai: nếu không gia nhập Giáo Hội Công Giáo thì có được cứu rỗi hay không, xin được phân biệt 2 điều quan trọng sau đây:

1-Thứ nhất, đối với nhũng người không vì lỗi của họ mà không biết Chúa Kitô và Giáo Hội Công Giáo là Giáo Hội thật được Chúa thiết lập làm phương tiện hữu hiệu để ban ơn cứu chuộc, thì họ vẩn có thể được cứu độ theo lời dạy sau đây của Giáo Hội:

“Đúng thế, những người không do lỗi của mình mà không biết đến Phúc Âm của Chúa Kitô và Giáo Hội của Ngái, nhưng thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa và nhờ ơn sủng của Người mà hành động để làm trọn thánh ý của Chúa theo như lương tâm của họ mặc khải cho họ và truyền dạy họ, thì họ có thể đạt tới ơn cứu độ muôn đời. “(SGLGHCG số 847, LG 16)

Nói rõ hơn, trước khi Đạo Công Giáo được các thừa sai tây phương đem sang rao giảng ở Việt Nam vào cuối thể kỷ 16, thì tổ tiên chúng ta không có cách nào biết được Chúa Kitô và Phúc Âm của Người. Nhưng đó hoàn toàn không phải là lỗi của cha ông chúng ta vì không có ai rao giảng hay nói cho biết thì làm sao các ngài biết được. Tuy nhiên, nếu các ngài sống theo tiếng nói của lương tâm mình để làm điều lành tránh sự dữ, sự tội thì Chúa vẩn có thể cứu họ dù cho họ không được chịu phép rửa và gia nhập Giáo Hội của Chúa Kiô.

2- Ngược lại, “những người đã biết Chúa, biết Giáo Hội của Chúa là Giáo Hội thật, là phương tện cứu rỗi cần thiết mà vẩn không muốn gia nhập, hoặc đã gia nhập qua Phép Rửa nhưng lại không kiên trì sống đức tin trong Giáo Hội này thì không thể được cứu rỗi.” (Sđd, số 846)

Nói khác đi, những ai đã được rửa tội và sống trong Giáo Hội Công Giáo rồi, nhưng vì một lý do bất mãn nào đó mà rời bỏ Giáo Hội để gia nhập một giáo phái khác, hoặc chối bỏ đức tin Công Giáo để sống như người vô thần, thì “không thể được cứu độ” như Giáo Hội dạy trên đây.

Nhưng cũng cần giải thích thêm là tuy việc gia nhập Giáo Hội qua phép Rửa là cần thiết cho sự cứu rỗi, nhưng gia nhập không thôi chưa đủ, cũng như được rửa tội rồi cũng chưa chắc chung cuộc sẽ được cứu rỗi, trừ các trẻ em nhỏ mới sinh hoặc chưa đủ trí khôn biết lành biết dữ đã chết sau khi được rửa tội. Đối vói những người đã có đủ trí khôn… thì gia nhập Giáo Hôi không giống như có Passport và xin được Visa là chắc chắc chắn được du lịch đến quốc gia nào đòi phải có Visa nhập cảnh. Được rửa tội và gia nhập Giáo Hội mới chỉ là bước đầu cần thiết cho một tiến trình dài để lớn lên trong đức tin và sống đức tin ấy qua nhiều thử thách của đời sống Kitô hữu giữa trần gian.

Muốn được cứu độ, thì trước hết phải có đức tin vì “không có đức tin thì không thể đẹp lòng Thiên Chúa, vì ai đến gần Thiên Chúa thì phải tin là có Thiên Chúa và tin Người là Đấng ban phát phần thưởng cho những ai tìm kiếm Người.” (Dt 11:6)

Nhưng đức tin phải đi kèm với hành động cụ thể nói lên niềm tin ấy, nếu không thì “đó là đức tin chết” như Thánh Gia-cô-bê Tông Đồ dạy. (Gc 2:17.).

Thật vậy, đức tin phải được thể hiện cụ thể bằng đức mến. Nghĩa là tin có Chúa thì phải yêu mến Người, cố gắng sống theo đường lối của Chúa, cụ thể là thực thi mọi giới răn của Người như Chúa Giêsu đã dạy các Tông Đồ xưa:
“Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy
Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy
Cha của Thầy và Thầy sẽ đến ở với người ấy.” (Ga 14:23)

Giữ lời Thầy có nghĩa là thực hành hai giới luật quan trong nhất là mến Chúa và yêu người như Chúa Giêsu đã trả lời cho một kinh sư kia. (Mc 12:28-31)

Thực thi những giới răn của Chúa là chứng minh cách cụ thể đức tin và lòng mến Chúa thực sự của mình. Nếu không sẽ chỉ là người Công giáo có tên (Nominal Catholics) chứ không phải là người tín hữu thực hành (practicing faithfuls). Và nếu chỉ là người tín hữu có tên thì việc gia nhập Giáo Hội và lãnh phép rửa sẽ chẳng giúp ích gì cho phần rỗi của ai, vì thiếu thiện chí cộng tác với ơn thánh để được cứu rỗi. Nói rõ hơn, được rửa tội và gia nhập Giáo Hội rồi, nhưng nếu không thi hành những cam kết (baptismal promises) khi lãnh bí tích này là tin và yêu mến Chúa hết lòng đi kèm với quyết tâm xa lánh mọi tội lỗi và sự dữ thì ơn phép rửa cũng trỏ nên vô ích mà thôi.

Thật vậy, Chúa là tình thương và giầu lòng tha thứ. Công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô có giá trị tuyệt đối. Nhưng nếu ta không cộng tác với thiện chí muốn được cứu rỗi thể hiện qua nỗ lực chê ghét tội lỗi và quyết tâm sống theo đường lối của Chúa như Giáo Hội dạy thì Chúa không thể cứu ai được, căn cứ vào chính lời Chúa Giêsu phán dạy sau đây:

“Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lậy Chúa, lậy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi.” (Mt 7:21)

Đó là tất cả những gì người tín hữu chúng ta cần biết dựa trên giáo lý, tín lý và Kinh Thánh của Giáo Hội để giúp chúng ta thêm yêu mến Giáo Hội và vững tin để sống và thực hành đức tin trong Giáo Hội là con Tàu đưa chúng ta đến bến bờ hạnh phúc, nhờ lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô được ban phát dồi dào cho chúng ta qua sứ vụ của Giáo Hội là Thân Thể nhiệm mầu của Người ở trần gian.

Ước mong những giải thích này thỏa mãn các câu hỏi được đặt ra.
-----------------------------------------
Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

Saturday, May 14, 2016

MATTHIAS 

VỊ TÔNG ĐỒ GIỜ THỨ 11

-------------------------------------------
Ngày Đức Yêsu chịu phép rửa ở Bêtania, Mathias đã có mặt. Không ai chú ý đến ông. Và dưới cặp mắt thế gian, hình như Đức Yêsu cũng không để ý đến ông.


Ông không có cái mạnh dạn của Yoan và Anrê để đi tìm Đức Yêsu mà hỏi chuyện. Ông không được Người tìm đến trao đổi như với Philip. Ông không được ai tiến cử như trường hợp Phêrô và Nathanael...

Nhưng, từ ngày Mathias nghe biết được về Chúa Yêsu, ông đã theo Người một cách âm thầm.

Các tông đồ đi đến đâu thì Mathias đi đến đấy. Không đòi hỏi, không bon chen...

Sunday, April 24, 2016

Thiên Chúa Hiện Hữu

Có khi nào bạn thắc mắc: Thiên Chúa có hiện hữu? Đây là 6 lý do để chúng ta tin Thiên Chúa thực sự hiện hữu.

Đã có lần bạn không thích vì ai đó không thể đưa ra chứng cớ về sự hiện hữu của Thiên Chúa? Đừng nóng vội! Tôi không bắt bạn phải tin mà chỉ thật thà đưa ra vài chứng cớ về sự hiện hữu của Thiên Chúa.

Thursday, April 14, 2016

HIỆP NHẤT BẢN THỂ

Hiệp nhất bản thể (Hypostatic Union) là sự kết hợp của nhân tính và thần tính trong Ngôi Lời – Thiên Chúa Ngôi Hai, Đức Giêsu Kitô.

Hypostasis là từ Hy Lạp, nghĩa đen là “nền tảng”. Các triết gia Hy Lạp dùng thuật ngữ này để diễn tả thực tế khi đối nghịch với bề ngoài. Hiệp nhất bản thể là thuật ngữ thần học định nghĩa mầu nhiệm Nhập Thể. Giáo hội xác định niềm tin vào sự Nhập Thể là nền tảng giáo lý Công giáo: Thần tính và nhân tính của Đức Kitô được kết hợp về bản thể, kết hợp với Con Người Thiên Chúa (Divine Person, De Fide).

Do đó, Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và Con Người thật. Khoảnh khắc này trong lịch sử của con người xảy ra trong khi Truyền Tin, Sứ thần Gabriel giới thiệu Kế Hoạch của Thiên Chúa cho Trinh Nữ Maria. Khi Đức Mẹ nói lời “xin vâng” (fiat) với những từ quyết định: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1:38), qua tác động siêu nhiên của Chúa Thánh Thần, Con Thiên Chúa đã ngự vào cung lòng Trinh Nữ. Như vậy là hoàn tất lời tiên tri của Ngôn sứ Isaia về việc thụ thai mà vẫn đồng trinh và sinh con được gọi là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.

Khi Chúa Giêsu ngự vào cung lòng Trinh Nữ, có vài điều xảy ra ngay lập tức và cùng một lúc: Linh hồn con người của Đức Kitô được Chúa Cha tác thành; linh hồn con người đó được truyền vào và kết hợp với thân thể đã được chuẩn bị đặc biệt cho sự kết hiệp đó bằng tác động siêu nhiên của Chúa Thánh Thần; và nhân tính được nhận lấy nơi Ngôi Hai, Ngôi Lời của Thiên Chúa.

Lưu ý động thái NGAY LẬP TỨCCÙNG MỘT LÚC. Mọi hành động xảy ra đồng thời, không hành động nào trước hoặc sau. Thánh Grêgôriô viết: “Nhân tính của Đức Kitô không có trước rồi sau đó Ngôi Lời mới nhận lấy, nhưng được tạo tác ngay khi được nhận lấy”.

Đức Giêsu Kitô là thiên chúa hoàn hảo và Con Người hoàn hảo. Vì Ngôi Lời là Thiên Chúa hoàn hảo, tiếp theo là nhân tính của chúa giêsu cũng hoàn hảo. Khi bùng nổ tranh luận trong Giáo hội thời sơ khai vì giáo huấn sai lệch của Nestorius (1), Công đồng Êphêsô (năm 431) tuyên bố Đức Trinh Nữ Maria là Theotokos (Người mang Thiên Chúa), chứ không chỉ là Christokos (Người mang Đức Kitô). Tà thuyết này sai lầm vì khái niệm về sự hiệp nhất bản thể và giải thích rằng Đức Mẹ chỉ mang nhân tính của Ngôi Lời trong cung lòng chứ không mang toàn bộ Ngôi Lời có hai bản tính.

Về bản chất, tà thuyết Nestorius cho rằng có hai con người riêng biệt để diễn tả Ngôi Lời. Họ tin sai lầm rằng có một Thiên Chúa là Con Thiên Chúa và một con người khác là Con Người, con của Đức Maria. Với họ, hai con người này chỉ kết hợp về luân lý, và vai trò của Đấng Cứu Độ là phù hợp với Con Người của Đức Kitô!

Sau đó, một người tên là Eutyches lo sợ với niềm tin lệch lạc này của tà thuyết Nestorius và quy định cách hiểu riêng, cho rằng Ngôi Lời chỉ gồm một người nhưng cũng có một bản tính, một bản tính kết hợp cả yếu tố thần linh và phàm nhân. Đó là tà thuyết Monophysitism (2), do chữ monophysis, nghĩa là một người và một bản tính. Như vậy, Ngôi Lời không hoàn toàn là Thiên Chúa và không hoàn toàn Con người, mà là nửa này nửa kia.

Đối với họ, nhân tính của Đức Kitô được thần tính biến đổi hoặc thu hút. Có lầm lẫn? Một số người đi xa hơn và nói rằng sự kết hợp hai bản tính thành một sẽ tạo nên bản tính thứ ba! Các tà thuyết này hoàn toàn bị Giáo hội Công giáo bác bỏ tại Công đồng Chalcedon (năm 451) và dẫn đến việc hình thành Tín điều Chalcedon.

Các tà thuyết lớn này đặt vấn đề về sự kết hợp thần tính và nhân tính trong Ngôi Lời và có nhiều cách diễn tả khác nhau. Tà thuyết Kitô giáo này nổi tiếng trong là tà thuyết Arian (3). Constantine là một người theo tà thuyết Arian, như đa số quân đội La Mã – mặc dù ông ta vẫn ủng hộ Kitô giáo cùng với nỗ lực của người mẹ (Thánh Helena) thu gom và duy trì nhiều thánh tích, kể cả thánh tích Thánh Giá thật – và gia nhập Công giáo trước khi chết. Thánh Athanasiô đã dành nhiều thời gian giảng thuyết chống lại tà thuyết Arian, có lúc có thề hứa trung tín của hơn một nửa thế giới Kitô giáo.

Khi còn tại thế, Chúa Giêsu đã chịu đựng những điều như nhân loại phải chịu. Ngài đã chịu sinh ra trong hoàn cảnh nghèo nàn, nhận sự bảo bọc của Thánh Gia. Ngài lao động, cầu nguyện, ăn uống, sinh hoạt bình thường như chúng ta… và cũng học hỏi Kinh Thánh. Ngài trở thành thợ mộc theo cách hướng dẫn và sự giám hộ của Dưỡng Phụ là Đức Thánh Giuse. Qua động thái bí nhiệm, thần tính của Ngài có thể “bị đè nén” đến nỗi Ngài chỉ biết Chúa Cha đã chọn cách mặc khải cho Ngài trong những hoàn cảnh riêng.

Chúa Giêsu cũng mỏi mệt (Ga 4:6), cũng bật khóc trước mộ Ladarô, rồi mới cho Ladarô sống lại, Ngài cũng nếm trải sự rùng mình vì bị Satan cám dỗ – trước khi Ngài rao giảng công khai – để cho chúng ta thấy cách chiến đấu trong những tình huống tương tự. Đặc biệt là Ngài đã chịu Cuộc Khổ Nạn và đau khổ dữ dội cho đến chết. Chỉ sau khi chịu khổ nạn và chết thì Ngài mới nhân được vinh quang.

Sự hiệp nhất bản thể sẽ kéo dài đời đời. Đó không là điều được “thiết kế” chỉ cho thời đại mà Đức Kitô còn trên thế gian để Ngài gánh tội của chúng ta và làm cho Mình, Máu, Linh hồn, và Thần tính nguôi ngoai nhu cầu về Công lý Thiên Chúa (Divine Justice). Như vậy, Thiên Chúa Giêsu có thể làm mọi thứ, Ngài cũng thể hiện về bản thể – Mình, Máu, Linh hồn và Thần tính – trong mọi của lễ được thánh hóa và trong mọi Nhà Tạm trên khắp thế giới, nơi Ngài luôn chờ đợi chúng ta kết hiệp với Ngài.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ all-about-the-virgin-mary.com).
Mạng lưới cầu nguyện

(1) Nestorius (Nestorian Church): một Giáo hội Kitô giáo xuất hiện sau khi Nestorius bị lên án tại Công đồng chung Êphêsô năm 431. Nhờ nỗ lực của Ibas, Giám mục thành Êphêsô từ năm 435, và Barsumas, Giám mục thành Nisibis từ năm 457, học thuyết Nestorius hay học thuyết cảnh giáo được phát triển thành một thần học đầy đủ và chuyển đến Persia và Tiểu Á, nơi một giáo phái nhỏ nhưng có ảnh hưởng được thành lập. Giáo hội Nestorius vẫn tồn tại ngày nay với tên gọi là Kitô hữu Assyria.

(2) Monophysitism: Nhất tính thuyết, Kitô nhất tính luận. Hệ thống (tư tưởng) có tính lịch sử nổi lên vào thế kỷ thứ năm, chủ trương rằng nơi Chúa Kitô chỉ có một bản tính. Đó là một cách phản ứng lại Cảnh Giáo (Giáo thuyết Nestorius), một chủ thuyết cho rằng Chúa Kitô có hai ngôi vị. Một trong những nhà Nhất Tính Thuyết sơ khởi là Eutyches (378-454), đan viện trưởng một đan viện gần Constantinople. Trong nỗ lực để bảo vệ duy nhất tính của Ngôi Lời Nhập Thể, ông đã chủ trương bác bỏ nhân tính của Chúa Kitô. Những nhà nhất tính thuyết khác đề cập đến một bản tính duy nhất kết hợp cả nhân tính và thần tính. Bị kết án bởi Công Đồng Chalcedon năm 451, nhất tính thuyết vẫn còn thịnh hành ở Đông phương, nhất là những người thuộc nghi lễ Copt và những người thuộc phái Jacobite ở Syria. Nguyên ngữ Hy Lạp, monos: đơn nhất, chỉ một + physis: bản tính.

(3) Arianism: Thuyết của Arius, thế kỷ IV, cho rằng chỉ có Thiên Chúa là bất biến và tự hữu, nhưng Ngôi Con không là Thiên Chúa mà chỉ là phàm nhân. Thuyết này từ chối thiên tính của Chúa Giêsu. Công đồng Nicaea (AD 325) đã kết án Arius và tuyên bố “Ngôi Con đồng bản thể với Đức Chúa Cha”. Thuyết Arian được nhiều người bảo vệ tiếp 50 năm sau, nhưng cuối cùng cũng sụp đổ khi các hoàng đế Kitô giáo của Rome Gratian và Theodosius lên ngôi. Công đồng Constantinople đầu tiên (năm 381) phê chuẩn Tín điều của Công đồng Nicê và cấm thuyết Arian. Tà thuyết này vẫn tiếp tục trong các bộ lạc ở Đức suốt thế kỷ VII, và các niềm tin tương tự được duy trì đến ngày nay bởi tổ chức Nhân chứng của Giavê (Jehovah's Witnesses) và bởi một số người theo thuyết Nhất Vi Luận (Unitarianism), tương tự Tam Vị Nhất Thể, tức là Một Chúa Ba Ngôi.



Xa-tan (Satanas), quỷ (diabolos, daimonion), Ác thần (ponêros) trong Kinh Thánh


Satan (Satanas), le diable (diabolos), le démon (daimonion) et le Mauvais (ponêros) dans la Bible
Nội dung
Dẫn nhập
I. Xa-tan và quỷ (diabolos)
Xa-tan trong Cựu Ước và tài liệu giữa hai Giao Ước
a) Xa-tan trong thế giới con người
b) Xa-tan ở thượng giới
b.1) Nhiệm vụ chính đáng của Xa-tan
b.2) Xa-tan thử thách con người
b.3) Xa-tan đã đưa tội vào thế gian
c) “Xa-tan” tiếng Híp-ri dịch sang Hy Lạp: “quỷ” 2. Xa-tan trong Tân Ước
II. Quỷ (daimonion) và thần ô uế
1. Quỷ trong Cựu Ước và tài liệu giữa hai Giao Ước
2. Quỷ và thần ô uế (l’esprit impur) trong Tân Ước
III. Ác thần (le Mauvais) và tà thần (l’esprit mauvais) trong Tân Ước
1. Ác thần (le Mauvais) và Xa-tan
2. Tà thần (les esprits mauvais) và quỷ (les démons)
3. Những việc xấu xa (les œuvres mauvaises)
Kết luận
-----------------------------------------------

Tuesday, April 5, 2016

Các sự kiện của việc đóng đinh 


Sự kiện đóng đinh, dĩ nhiên, không thích thú gì. Tuy nhiên, hiểu rõ việc đóng đinh sẽ giúp chúng ta hiểu Chúa Giêsu đã phải chịu đựng những gì vào ngày Người qua đời. Bài dưới đây dựa vào nhiều tài liệu y khoa, trong đó, có cuộc nghiên cứu của Bệnh Xá Mayo đăng trên Tạp Chí của Hiệp Hội Y Khoa Hoa Kỳ năm 1989. 

Thursday, March 31, 2016

THÁNH TÍCH THÁNH GIÁ

Ngày xưa, thập giá là nhục hình của người Do Thái, và là hình phạt nặng nhất dành cho những tử tội. Nhưng chính thập-giá-khổ-đau đó lại trở thành biểu tượng cứu độ vì được Đức Kitô dùng làm phương cách giải thoát. Saolê đã từng bách hại “tới bến” đối với những ai yêu mến Thánh giá, nhưng nhờ cú ngã ngựa, bị mù mắt thể lý mà lại sáng mắt tâm linh, và rồi ngài ước mong: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô” (Gl 6:14). Gần 2000 năm sau, ĐGM Lambert de la Motte (Hội Thừa sai Pháp) cũng hóa thành “người không giống ai” khi ngài quyết tâm chỉ yêu mến Thánh Giá, bằng chứng là ngài đã lập Dòng Mến Thánh Giá tại Việt Nam – bắt đầu từ Hải Phòng (Bắc Việt). Xưa cũng như nay, bất cứ ai thích Thánh Giá đều bị coi là “ngược đời”. Nhưng Đức Kitô đã khuyến cáo chúng ta phải vác thập giá mà theo Ngài (Mt 16:24). Phải thực sự tin tưởng và can đảm mới có thể bước trên Đường Thập Giá.

Wednesday, March 16, 2016

“Con số Huyền Nhiệm Trong THÁNH KINH

--------------------------------------

“Hãy ăn chay khóc lóc và thống hối than van. Hãy xé lòng chứ đừng xé áo. Hãy trở về với Thiên Chúa là Chúa các ngươi…” (Gioen.2: 12 & 13)
*40 ngày Ăn chay sám hối gột rửa Tâm Hồn,
*40 ngày Cầu nguyện Chờ mong trở về Đất Hứa.

+ Những Đoản Khúc Số 40:
Một.
Mỗi sáng thức dậy, tôi ngồi trước quyển THÁNH KINH.
Qua bao nhiêu năm tháng, bao nhiêu lần tôi đọc đi đọc lại trong Cựu Ước và Tân Ước.
Quyển sách xếp hạng Best Seller suốt qua nhiều thế kỷ.
Sách được dịch sang hàng trăm ngôn ngữ trên địa cầu.
Nhưng tôi đã thấy gì trong đó?
Có phải tôi cố tâm tìm hiểu hay chỉ là một thói quen thường ngày?
Bao nhiêu thế kỷ qua đi – Bao lời tiên tri cảnh báo – Bao Lời Chúa truyền dạy trong công cuộc cứu độ loài người.

MÙA CỨU THƯƠNG

Mùa Chay là Mùa Cứu Thương. Nhưng… tôi rất ghét thầy thuốc ! Tôi không bao giờ cần thầy thuốc ! Tôi không hề muốn gặp thầy thuốc ! Đó là những mệnh đề xác định “chắc nịch”. Tại sao vậy ?

Xin đừng căng thẳng. Hãy cười và nới lỏng cơ bắp để thư giãn ! Nói là “ghét” chứ thực ra không hề có ác tâm mà thù ghét thầy thuốc. Thầy thuốc hành nghề cứu người thì sao mà ghét được. Ý nói “ghét” ở đây chỉ là “không thích” mình phải đi tìm họ hoặc “được” họ đến nhà. Phải “gặp” họ thì chính mình chán lắm, vì sức khỏe của mình sa sút rồi, không chừng Tử Thần “rủ đi” đấy !

Thế nhưng rồi ai cũng đã từng phải cần đến thầy thuốc, mức độ khác nhau, chí ít cũng là… “uống thuốc cảm”. Thể lý đã vậy, huống chi tâm linh. Thật vậy, chắc chắn không ai lại không cần đến Thầy Thuốc Giêsu. Càng nhiều tuổi càng nhiều “bệnh” ( tội ), thế nên càng nhiều lần cần “gặp” Siêu Thầy Thuốc Giêsu, Đại Lương Y Kitô, để được Ngài chữa lành.

Saturday, February 27, 2016

10 Điều Về Bữa Tiệc Ly

Chuyện về Bữa Tiệc Ly luôn thú vị để thảo luận về những chuyện xảy ra trong ngày đó để hiểu thêm về Chúa Giêsu và Kitô giáo. Ngài không chỉ hy sinh mạng sống vì đại sự mà Ngài còn không cho phép sự thù hận hoành hành. Chúng ta hãy nhìn vào những điều đã xảy ra trong thời gian diễn ra Bữa Tiệc Ly để chúng ta có thể biết rõ hơn về lý do ngày hôm đó vẫn ảnh hưởng cuộc sống của chúng ta ngày nay.


1. KỶ NIỆM CUỘC VƯỢT QUA
Bữa Vượt Qua biểu hiện cuộc vượt qua của dân Ít-ra-en thoát ách Ai Cập. Trong sách Xuất Hành, máu chiên của cuộc vượt qua được bôi lên cửa, làm cho tai họa đi qua nhà họ và các con trai đầu lòng của họ thoát chết. Bữa Tiệc Ly là bữa quan trọng vì Chúa Giêsu đã cho các môn đệ biết Ngài sẽ trở thành Chiên Vượt Qua của Thiên Chúa. Máu của Ngài sẽ mở cửa đến với sự tự do. Những người theo Ngài thoát cảnh nô lệ tội lỗi và sự chết để được trường sinh trong Vương Quốc của Thiên Chúa.

2. BÀN TIỆC THÁNH THỂ
Có ba cách nhìn chính về bánh và rượu trong việc rước lễ. Bánh và rượu được dùng trong Bữa Tiệc Ly vẫn liên tục xảy ra trong các cộng đồng Kitô giáo. Bánh và rượu trở thành chính Máu Thịt của Đức Kitô. Ngài hiện diện thực sự qua đức tin của chúng ta dù chúng ta thấy vẫn nguyên hình bánh và rượu, chúng ta cử hành Bí tích Thánh Thể để tưởng nhớ Ngài: “Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22:19).

Monday, February 15, 2016

TÀ GIÁO, BỘI GIÁO, LY GIÁO LÀ NHỮNG TỘI GÌ?
Hỏi: xin cha giải thích thế nào là Tà giáo, Bội giáo và Ly giáo trong Giáo Hội

Wednesday, February 10, 2016

SUY GẪM VỀ SỰ CHẾT

“Đối với tôi, sống là Đức Ki-tô, và chết là một mối lợi”. (Pl 1, 21)

Ngay khi còn sống, con người đã mang trong mình sự chết, vì thế mà con người sẽ phải chết. Chết là một kết thúc của ta trong cuộc sống này, và mọi cái ta sở hữu cũng đều chấm dứt. Thật là một tư tưởng cay đắng cho những ai chỉ biết vui hưởng của cải trần gian, nhưng lại là một viễn tượng đáng khát vọng cho những người sống cơ cực (x. Hc 41, 1). Sự chết nhắc nhở ta về bản chất thật ngắn ngủi, thật mong manh phù du của đời sống con người trên dương thế. Đứng trước định mệnh khắt khe đó, người ta dễ có một nhận định sầu thảm đôi khi sinh ra một thất vọng chán chường (x. Sm 12, 23). Tuy nhiên sự khôn ngoan chân thực thì vượt xa nhận định ấy khi nhận biết thân phận mình nằm trong vòng tay Thiên Chúa. Điều đó giúp ta khám phá ý nghĩa sự sống đích thực qua sự chết. Khi nghĩ đến những người đã chết, chúng ta cũng phải nghĩ tới cái chết của chính bản thân mình. Đó là chuyến đi cuối cùng, một chuyến đi quyết định và quan trọng hơn tất cả, chuyến đi vĩnh viễn không bao giờ trở lại.

Friday, January 29, 2016

Lòng Chúa Thương Xót trong Kinh Thánh

-----------------------------------
Lòng Thương Xót – như Đức Kitô đã bày tỏ trong dụ ngôn Người Cha Nhân Hậu (hoặc dụ ngôn Đứa Con Hoang Đàng) – có dạng nội tại của tình yêu trong Tân ước gọi là “agape”.

PHI LỘ: Bài viết này dựa vào Tông thư “Thiên Chúa Giàu Lòng Thương Xót” [Rich in Mercy (Anh ngữ), Dives in Misericordia (La ngữ)] của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Đây là loại bài “cao cấp” nên rất khó lĩnh hội ngay, vì thế bạn cần đọc chậm và suy nghĩ nhiều theo linh hứng của Chúa Thánh Thần. Đừng đọc cả một lúc, mỗi lần đọc một ít. Chúc bạn được Chúa Thánh Thần linh hứng để hiểu đúng linh đạo này. Xin mời bạn! 
Khi diễn tả Lòng Chúa Thương Xót (LCTX), các sách Cựu ước dùng hai cách diễn tả đặc biệt, mỗi câu đều có sắc thái khác nhau về ngữ nghĩa.

Trước hết, thuật ngữ “hesed” ngụ ý một thái độ sâu sắc của “lòng tốt”. Khi điều này được thiết lập giữa hai cá nhân, họ không chỉ muốn tốt cho nhau mà họ còn tin tưởng nhau bằng sự thầm hứa trong lòng, và trung thành với nhau. Vì “hesed” cũng có nghĩa về ân huệ hoặc yêu thương, điều này xảy ra đúng theo nền tảng của lòng trung thành. Sự thật là sự tận tụy được nói tới không chỉ là đặc tính luân lý mà còn hầu như là đặc tính pháp lý tạo sự khác biệt.

Cựu ước dùng từ “hesed” để nói về Thiên Chúa, điều này luôn xảy ra khi liên kết với giao ước mà Thiên Chúa đã thiết lập với dân Israel. Đối với Thiên Chúa, giao ước này là tặng phẩm và ân huệ dành cho dân Israel. Do đó, Thiên Chúa đã hứa tôn trọng giao ước, “hesed” cũng cần một ý nghĩa hợp pháp phù hợp với giao ước.

Lời hứa theo pháp lý về phần Thiên Chúa bắt buộc dân Israel không được vi phạm giao ước và phải tôn trọng các điều kiện của giao ước. Nhưng ở điểm này, “hesed” không là pháp lý, được mặc khải phương diện sâu xa hơn, cho thấy chính nó là gì ngay từ đầu, nghĩa là tình yêu đã được trao ban, tình yêu mạnh hơn sự phản trắc và ân sủng mạnh hơn tội lỗi.

Lòng tín trung này đối với con-gái-bất-trung-của-dân-tộc: “Ngay cả lũ chó rừng cũng biết chìa vú cho con bú, thế mà con gái dân tôi lại dữ dằn hung bạo như đà điểu chốn hoang địa khô cằn. Thiếu nữ dân tôi gian ác tầy trời vượt xa cả Xô-đôm tội lỗi; thành đó bị đổ nhào trong nháy mắt, chẳng cần ai phải nhúng tay vào” (Ac 4:3, 6). Tóm lại, đối với Chúa, đó là lòng tín trung đối với chính Ngài. Điều này trở thành hiển nhiên thường xuyên ở cả hai dạng “tận tụy” mà chúng ta gặp (ân sủng và tín trung), có thể được coi là trường hợp của phép thế đôi (hendiadys, cách dùng liên từ “và” giữa 2 từ ngữ), ví dụ: Xh 34:6; 2 Sm 2:6; 15:20; Tv 25 [24]:10; 40 [39]:11-12; 85 [84]:11; 138 [137]:2; Mi 7:20).

“Ngươi hãy nói với nhà Israen: Đức Chúa là Chúa Thượng phán thế này: Hỡi nhà Ítraen, không phải vì các ngươi mà Ta hành động, mà vì danh thánh của Ta đã bị các ngươi xúc phạm giữa các dân các ngươi đã đi đến” (Ed 36:22). Do đó mà dân Israel, mặc dù nhiều tội lỗi vì vi phạm giao ước, không thể yêu cầu “hesed” của Thiên Chúa theo pháp lý, nhưng họ có thể và phải tiếp tục hy vọng và tin sẽ được điều đó, vì Thiên Chúa của giao ước thực sự “chịu trách nhiệm về tình yêu của Ngài”.

Thành quả của tình yêu này là ơn tha thứ và phục hồi ân sủng, tái lập giao ước nội tại. Từ ngữ thứ hai theo thuật ngữ Cựu ước xác định Lòng Thương Xót là “rahamim”.

Đây là sự khác biệt của “hesed”. Trong khi “sự tận tụy” làm nổi bật lòng tín trung của “trách nhiệm đối với tình yêu của mình” (theo nghĩa nam tính), “rahamim” theo chính nguyên ngữ đã bao hàm tình yêu của người mẹ (rehem = tử cung).

Từ hệ lụy nguồn gốc và sâu xa – thực sự là sự kết hợp – liên kết người mẹ với đứa con làm nảy sinh mối quan hệ đặc biệt với đứa con, một tình yêu đặc biệt. Với tình yêu này, người ta có thể nói rằng đó là “hoàn toàn cho không”, vô điều kiện, và về phương diện này nó cấu thành sự cần thiết nội tại: Tình trạng cấp bách của con tim.

Như vậy, đó là sự biến đổi “nữ tính” của lòng tín trung nam tính đối với chính nó được diễn tả bằng từ ngữ “hesed”. Đối với nền tảng tâm lý này, “rahamim” phát sinh một loạt cảm xúc, kể cả lòng tốt và dịu dàng, kiên nhẫn và hiểu biết, nghĩa là sẵn sàng tha thứ.

Cựu ước quy cho Thiên Chúa các đặc tính này khi dùng thuật ngữ “rahamim” để nói về Ngài. Chúng ta đọc thấy trong sách Isaia: “Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ” (Is 49:15).

Tình yêu này là lời cảm tạ tín thành đối với sức mạnh mầu nhiệm của tình mẫu tử, được diễn tả trong Cựu ước bằng nhiều cách: Cứu thoát khỏi mọi nguy hiểm, nhất là thoát khỏi kẻ thù; tha thứ tội lỗi – của từng người và của cả toàn dân Israel – cuối cùng là sẵn sàng làm trọn lời hứa và niềm cậy trông, mặc dù nhân loại bất trung, như chúng ta thấy trong sách Hôsê: “Ta sẽ chữa chúng khỏi tội bất trung, sẽ yêu thương chúng hết tình, vì cơn giận của Ta sẽ không còn đeo đuổi chúng” (Hs 14:5).

Theo cách nói của Cựu ước, chúng ta cũng thấy những cách diễn tả khác, ngụ ý nhiều cách đối với ngữ cảnh cơ bản. Nhưng cả hai cách nói trên đều đáng lưu ý đặc biệt, cho thấy rõ phương diện theo thuyết hình người nguyên thủy (original anthropomorphic aspect): Khi diễn tả LCTX, các tác giả Kinh thánh dùng cách nói phù hợp với lương tâm và kinh nghiệm của những người đương thời.

Thuật ngữ Hy Lạp theo bản dịch “Bảy Mươi” (*) không cho thấy như bản cổ ngữ Do Thái: Vì thế nó không đưa ra tất cả sự khác biệt về ngữ nghĩa riêng đối với văn bản gốc. Dù ở mức nào, Tân ước cũng dựa vào sự phong phú và độ sâu ghi dấu cổ.

Theo cách này, chúng ta thừa hưởng từ Cựu ước – theo cách tổng hợp – không chỉ phong phú về cách diễn tả được các sách đó dùng để xác định LCTX, mà còn về “tâm lý” của Thiên Chúa theo thuyết hình người: Hình ảnh về tình yêu khắc khoải của Ngài, khi tiếp xúc với điều ác, nhất là với tội lỗi của cá nhân và dân tộc, được biểu hiện là LTX.

Hình ảnh này được tạo nên không chỉ về ngữ cảnh tổng quát của động từ “hanan” mà còn về ngữ cảnh của từ ngữ “hesed” và “rahamim”. Thuật ngữ “hanan” diễn tả một khái niệm rộng hơn, thực sự có nghĩa là cách biểu hiện của ân sủng, liên quan một bẩm chất kiên định (constant predisposition) là khoan hồng, nhân từ và thương xót.

Thêm vào các yếu tố ngữ nghĩa, khái niệm của Cựu ước về LCTX cũng được tạo nên từ những gì bao hàm trong động từ “hamal”, theo nghĩa đen là “tha chết” (một kẻ thù chiến bại) nhưng cũng “tỏ lòng thương xót và trắc ẩn”, vì thế mà tha thứ và miễn trừ tội lỗi.

Còn có thuật ngữ “hus” diễn tả lòng thương xót và trắc ẩn, nhưng đặc biệt mang ý nghĩa xúc động. Các thuật ngữ này xuất hiện ít hơn trong các văn bản Kinh thánh khi diễn tả LCTX.

Ngoài ra, nên chú ý từ ngữ “emet” đã được nói tới. Nó có nghĩa ban đầu là “sự vững chắc, sự an toàn” (theo Hy ngữ của bản Bảy Mươi là “chân lý”) và khi đó có nghĩa là “lòng thành tín”. Theo cách này, nó có vẻ liên kết với ngữ nghĩa riêng đối với thuật ngữ “hesed”. Ở cả 2 nơi, đó là trường hợp của “hesed”, nghĩa là lòng thành tín mà Thiên Chúa thể hiện tình yêu của Ngài đối với dân, trung thành với điều Ngài hứa là sẽ làm trọn trong tình mẫu tử của Mẹ Thiên Chúa (x. Lc 1:49-54), như Kinh thánh nói: “Chúa sẽ trọn bề nhân nghĩa với tổ tiên và nhớ lại lời xưa giao ước” (Lc 1:72). Đây cũng là trường hợp của LCTX theo nghĩa của từ “hesed”, theo mức của những câu theo sau, những câu mà Dacaria nói về “LTX nhân hậu của Thiên Chúa”, diễn tả rõ ràng nghĩa thứ hai, nghĩa là “rahamim” (bản La ngữ: Viscera Misericordiae), đồng hóa LCTX với tình thương của người mẹ.

CỰU ƯỚC
Cựu ước hiểu LCTX bằng cách dùng nhiều thuật ngữ có ý nghĩa liên quan, khác nhau bằng nội dung riêng, nhưng có thể nói được rằng chúng đều đồng quy từ những hướng khác nhau theo nghĩa cơ bản, diễn tả sự phong phú nổi bật và gần gũi với con người với các phương diện khác nhau.

Cựu ước khuyến khích mọi người chịu đựng nỗi bất hạnh, nhất là nỗi đau khổ do tội lỗi – như dân Israel được Thiên Chúa hứa ban giao ước – để cầu xin LTX của Thiên Chúa, và làm cho những nỗi bất hạnh đó trở thành niềm hy vọng, nhắc nhở về LCTX trong những lúc thất bại và mất niềm tin.

Cựu ước cũng luôn dâng lời tạ ơn về LCTX, thể hiện trong đời sống của toàn dân và mỗi cá nhân. Theo cách này, LCTX tương phản với sự công thẳng của Thiên Chúa theo nghĩa nào đó, và trong nhiều trường hợp được thể hiện không chỉ mạnh hơn mà còn sâu sắc hơn công lý. Cũng vậy, tình yêu tác động tới công lý, và cuối cùng thì công lý phục vụ tình yêu.

Cựu ước còn dạy rằng, dù công lý là một nhân đức đích thực nơi con người, và nơi Thiên Chúa biểu hiện sự hoàn hảo trong suốt, do đó mà tình yêu “lớn hơn” công lý – lớn hơn về ý nghĩa nguyên thủy và cơ bản.

Tính ưu việt và nổi trội của tình yêu có liên quan công lý – đây là dấu ấn của toàn bộ mặc khải – được mặc khải chính xác qua LTX. Điều này có vẻ minh nhiên đối với các tác giả thánh vịnh và các tiên tri mà công lý kết thúc theo nghĩa Ơn cứu độ được hoàn tất bởi chính Thiên Chúa và LCTX [Tv 40 (39):11; 98 (97):2; Is 45:21; Is 51:5 & 8; Is 56:1].

LCTX khác với công lý, nhưng không đối lập, nếu chúng ta nhận theo lịch sử con người – như Cựu ước đã thể hiện chính xác – sự hiện diện của Thiên Chúa, Đấng Tạo hóa đã tự liên kết với thụ tạo của Ngài bằng một tình yêu đặc biệt.

Theo bản chất, tình yêu loại trừ thù hận và ý xấu đối với người mà Ngài đã trao tặng phẩm là chính mình: “Chúa yêu thương mọi loài hiện hữu, không ghê tởm bất cứ loài nào Ngài đã làm ra” (Kn 11:24). Những từ này cho thấy cơ bản thâm sâu của mối quan hệ giữa công lý và LTX nơi Thiên Chúa, trong mối quan hệ của Ngài với con người và thế giới.

Những lời đó cho chúng ta biết rằng chúng ta phải tìm kiếm nguồn gốc của việc trao ban sự sống và các lý do thân thiết đối với mối quan hệ này bằng cách trở lại từ “sự bắt đầu”, trong chính mầu nhiệm sáng tạo. Những lời đó báo trước Giao ước cũ (Cựu ước), sự mặc khải viên mãn của Thiên Chúa, Đấng mệnh danh là “tình yêu” (1 Ga 4:15 & 16).

Nối kết với mầu nhiệm sáng thế là mầu nhiệm của sự chọn lựa, theo cách đặc biệt mà hình thành lịch sử con người có người cha tâm linh là Abraham nhờ đức tin. Do đó, qua dân tộc này mà các hành trình xuyên suốt lịch sử Cựu ước và Tân ước, mầu nhiệm của sự chọn lựa nói đến mỗi người trong đại gia đình nhân loại.

“Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng xót thương” (Gr 31:3). “Núi có dời có đổi, đồi có chuyển có lay, tình nghĩa của Ta đối với ngươi vẫn không thay đổi, giao ước hoà bình của Ta cũng chẳng chuyển lay, Đức Chúa là Đấng thương xót ngươi phán như vậy” (Is 54:10). Sự thật này, đã từng được công bố với dân Israel, liên quan viễn cảnh của toàn lịch sử con người, cả viễn cảnh thời gian và thế mạt (Gn 4:2, 11; Tv 145 (144):9; Hc 18:8-14; Kn 11:23-12:1).

Đức Kitô mặc khải Chúa Cha trong cùng viễn cảnh và theo nền tảng đã được chuẩn bị, như nhiều trang Cựu ước mô tả. Cuối mặc khải này, vào đêm trước khi chịu chết, Chúa Giêsu nói với tông đồ Philipphê lời đáng ghi nhớ này: “Thầy ở với anh em bấy lâu, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14:9).

TÂN ƯỚC

Ngay đầu Tân ước, hai tiếng nói vang lên trong Phúc âm thánh Luca phù hợp việc liên quan LCTX – một sự hài hòa vang dội cả truyền thống Cựu ước. Đức Maria vào nhà ông Dacaria, tán tụng Chúa bằng cả linh hồn vì LXT của Chúa, điều mà “từ đời nọ đến đời kia” được trao ban cho những ai kính yêu Ngài.

Sau đó, khi Đức Mẹ nhớ lại sự tuyển chọn dân Israel, Đức Mẹ đã tuyên xưng LCTX mà Ngài đã chọn Đức Mẹ là người được mọi thời khen là “đầy ơn phúc” (x. Lc 1:49-54). Khi Gioan Tẩy giả chào đời, ông Dacaria ca tụng Thiên Chúa của Israel và tôn vinh Ngài vì đã tỏ LTX như đã hứa với các tổ phụ và vì đã nhớ giao ước thánh của Ngài (x. Lc 1:72). Đây cũng là trường hợp của LCTX theo nghĩa của từ “hesed”, điều mà ông Dacaria nói về “lòng nhân hậu của Thiên Chúa”, được diễn tả rõ theo nghĩa thứ hai, nghĩa là “rahamim” (La ngữ là viscera misericordiae), xác định LCTX như tình mẫu tử.

Trong giáo huấn của chính Chúa Giêsu, hình ảnh này kế thừa từ Cựu ước trở nên đơn giản hơn và sâu xa hơn. Đây có thể là điều hiển nhiên nhất trong dụ ngôn về đứa con hoang đàng (x. Lc 15:14-32). Dù từ ngữ “lòng thương xót” không xuất hiện, nhưng vẫn diễn tả rõ ràng bản chất của LCTX.
Đó là mầu nhiệm của LCTX, một kịch bản thâm thúy thể hiện Tình Cha đối với đứa con hoang đàng và tội lỗi. Người con đó không chỉ được hồi phục quyền làm con mà còn được tiếp tục thừa kế gia sản của người cha dù đã ăn chơi phung phí hết phần gia sản riêng. Ăn năn và trở về, nhận lỗi và xin lỗi, tất cả lại trở về nguyên trạng của người con. Tình Chúa quá bao la và kỳ diệu!

“Khi tiêu xài hết mọi thứ”, người con “bị túng quẫn”, nhất là “nạn đói xảy ra trong vùng đó” đến nỗi người con “thèm ăn cám heo” mà cũng không được ăn, thế là người con phải quyết định về nhà cha: “Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà mình ở đây lại chết đói!” (Lc 15:17). Việc trở về của người con có thể chỉ là vạn bất đắc dĩ, nhưng ít nhiều gì anh cũng nhận thấy mình bất xứng và chỉ dám xin cha coi mình như tôi tớ: “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy” (Lc 15:18-19). Thế nhưng anh không thể tin những gì anh thấy: Người cha ra ôm anh vào lòng, làm tiệc mừng, cho mang đồ mới và giày mới. Dụ ngôn này đã “chạm” đến giao-ước-tình-yêu, “chạm” đến mọi tình trạng mất ân sủng và mọi tội lỗi.

Theo nhận thức, người con này lý luận để khả dĩ thấy rằng mình đã hoàn toàn bất xứng, không còn mối quan hệ mật thiết của tình phụ tử. Do đó mà người con quyết định đứng dậy và trở về với cha. Dám trở về là can đảm, vì dù sao cũng đã bẽ mặt và nhục nhã, nhưng không mặc cảm tội lỗi. Người con hoang đàng nhận thấy mình không có quyền đòi hỏi gì nữa, không đáng là con, may lắm cũng chỉ mong được làm người giúp việc trong nhà cha mình thôi. Người con đã nhận thức đầy đủ về tình trạng bất xứng của mình và “đáng đời” thế nào theo công lý. “Quyết định dứt khoát trở về” là động thái rất quan yếu. Lúc đó, con người phải giằng co âm thầm rất mãnh liệt. Đó chính là động thái trưởng thành trong đức tin – tin vào LCTX và tin mình được thứ tha.

Trong dụ ngôn “người con hoang đàng”, thuật ngữ “công bình” không được dùng, và trong nguyên bản cũng không dùng từ “lòng thương xót”. Mối quan hệ giữa công bình và yêu thương được biểu hiện như LCTX, đồng thời được khắc sâu bằng tính chính xác trong nội dung của dụ ngôn.

Rõ ràng hơn là tình yêu được biến đổi thành LCTX khi cần có quy luật chính xác của sự công bình. Người con hoang đàng không còn xứng đáng sau khi ăn chơi sa đọa, trắng tay khi trở về với cha, nhưng được cha tha bổng, và dần dần người con được vun đắp về vật chất và tinh thần, dù có thể không bao giờ được đầy đủ như xưa. Tình phụ tử được khôi phục là nhờ tính cao thượng và tình thương của người cha.

Mối quan hệ như vậy không bao giờ có thể bị thay đổi hoặc bị phá hủy bằng bất cứ động thái nào. Người con hoang đàng biết vậy và biết mình phải làm gì để chuộc lỗi lầm, đó là lúc người ta biết rõ mình để có thể sống khiêm nhường hơn.

Hình ảnh người con hoang đàng giúp chúng ta nhận biết LCTX là gì và như thế nào. Chắc chắn đây là mặc khải về Thiên Chúa Cha, giúp chúng ta tái phát hiện cách nhìn của Cựu ước về LCTX luôn mới, vừa đơn giản vừa sâu xa.

Người cha của đứa con hoang đàng luôn trung thành với cương vị làm cha, trung thành với tình yêu bao la mà ông luôn dành cho con mình. Do đó mà người cha luôn chờ đợi và sẵn sàng tha thứ nếu đứa con biết trở về. Tình yêu ấy là LTX, kỳ lạ đến nỗi không ai khả dĩ hiểu hết. Người cha ấy đã tha thứ thì không còn phân biệt gì so với đứa con vẫn ngoan ngoãn ở với mình. Người con ngoan ngoãn đã so đo nhưng người cha đã phân tích rõ ràng để huynh đệ vẫn hiếu thuận với nhau.

Người cha trung tín với chính mình – một đặc điểm mà Cựu ước dùng thuật ngữ “hesed” – ngay khi diễn tả bằng cách thể hiện tình phụ tử. Thật vậy, chúng ta đọc thấy rằng khi người cha thấy đứa con hoang đàng trở về, ông đã chạnh lòng trắc ẩn, chạnh LTX, chạy ra đón nó, ôm nó trước khi nó ôm mình, rồi hôn nó (Lc 15:20). Chắc chắn ông làm điều này vì yêu thương con sâu sắc lắm, và điều này cũng bày tỏ lòng đại lượng dành cho con, lòng đại lượng đó đã khiến người con lớn phải tức giận. Lời người cha nói với người con lớn giản dị mà thâm sâu: “Chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy” (Lc 15:32).

Trong Phúc âm của thánh sử Luca có dụ ngôn Con Chiên Lạc (x. Lc 15:4-7) và dụ ngôn Đồng Bạc Bị Mất (x. Lc 15:8-9). Mỗi lần đều có mức nhấn mạnh tương tự về niềm vui có trong trường hợp của đứa con hoang đàng (x. Lc 15:11-32). Lòng thành tín của người cha hoàn toàn được tập trung vào tính nhân bản đối với đứa con hư hỏng, về nhân phẩm của đứa con.

Điều này giải thích mọi niềm vui nỗi mừng lúc đứa con trở về nhà. Do đó người ta có thể nói rằng tình thương dành cho đứa con là tình yêu xuất phát từ chính bản chất tình phụ tử, theo cách thức bắt buộc người cha quan tâm đến nhân phẩm của đứa con. Mối quan tâm này là thước đo tình yêu thương của người cha, tình yêu thương mà thánh Phaolô diễn tả: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả. Đức mến không bao giờ mất được. Ơn nói tiên tri ư? Cũng chỉ nhất thời. Nói các tiếng lạ chăng? Có ngày sẽ hết. Ơn hiểu biết ư? Rồi cũng chẳng còn” (1 Cr 13:4-8).

Lòng Thương Xót – như Đức Kitô đã bày tỏ trong dụ ngôn Người Cha Nhân Hậu (hoặc dụ ngôn Đứa Con Hoang Đàng) – có dạng nội tại của tình yêu trong Tân ước gọi là “agape”. Tình yêu thương này có thể đạt tới mọi đứa con hoang đàng, tới mọi nỗi khổ đau của con người, tới cả nỗi khốn khổ luân lý và tội lỗi.

Khi điều này xảy ra, con người là khách thể của LTX mà không hề cảm thấy bị hạ nhục, mà cảm thấy lại được tìm thấy và “được phục hồi giá trị”. Người cha bày tỏ niềm vui mừng đối với đứa con vừa “được tìm thấy” và như “chết sống lại”.

Niềm vui này thể hiện cái tốt nguyên trạng, dù đứa con hoang đàng cũng không thể ngăn cản tình cha thương con. Niềm vui đó còn thể hiện cái tốt lại được tìm thấy, khi đứa con trở về thú nhận tội lỗi. Điều xảy ra giữa mối quan hệ phụ tử trong dụ ngôn của Chúa Giêsu không được đánh giá “từ bên ngoài”. Định kiến của chúng ta về LTX đa số là hậu quả của việc chúng ta đánh giá theo bề ngoài.

Thi thoảng điều này xảy ra bằng cách theo phương pháp đánh giá mà chúng ta thấy trong LTX vượt trên mọi mối quan hệ bất bình đẳng giữa người trao LTX và người nhận LTX. Do đó, chúng ta vội vã “chiết khấu” LTX mà “thu nhỏ” người nhận, cho nên chúng ta xúc phạm nhân phẩm người khác.

Dụ ngôn Đứa Con Hoang Đàng cho thấy thực tế khác hẳn: Mối quan hệ của LTX dựa trên kinh nghiệm chung của cái tốt là con người, kinh nghiệm chung của phẩm chất đúng nơi con người. Kinh nghiệm chung này làm cho đứa con hoang đàng bắt đầu tự nhận thấy mình và hành động của mình bằng sự thật trọn vẹn (đó là khiêm nhường). Mặt khác, vì chính lý do này mà đứa con trở thành cái tốt riêng của người cha: Người cha thấy rõ cái tốt đạt được nhờ mầu nhiệm của chân lý và yêu thương để người cha có vẻ quên mọi tội lỗi mà đứa con đã phạm.

Hoán cải là cách diễn tả cụ thể nhất về tác dụng của tình yêu và sự hiện hữu của LTX trong thế giới loài người. Dụ ngôn Đứa Con Hoang Đàng diễn tả theo cách đơn giản nhưng sâu sắc trong thực tế cải tà quy chánh.

Ý nghĩa riêng và đúng của LTX không chỉ bao gồm trong cách nhìn, mà còn xuyên suốt và đầy lòng trắc ẩn: LTX được diễn tả về phương diện đúng và riêng khi LTX phục hồi để đánh giá, thúc đẩy và thu hút những điều tốt từ mọi dạng của điều xấu hiện hữu trong thế giới và trong con người. Hãy hiểu theo cách này, LTX cấu thành nền tảng của sứ vụ cứu độ và sức mạnh trong sứ vụ của Đức Kitô.

Các tông đồ và các môn đệ của Ngài đã hiểu và thực hành LTX như cách của Ngài. LTX không bao giờ ngừng mặc khải, bằng tâm khảm và trong hành động, như bằng chứng hùng hồn về tình yêu: “Đừng để cho sự ác thắng được mình, nhưng hãy lấy thiện mà thắng ác” (x. Rm 12:21). Khuôn mặt đích thực của LTX phải được mặc khải theo cách mới. Mặc dù có nhiều định kiến, LTX vẫn thực sự rất cần thiết trong thời đại chúng ta.

LCTX được mặc khải trên Thánh giá và trong sự Phục sinh

Sứ vụ của Đức Kitô và hoạt động của Ngài giữa nhân loại kết thúc bằng cái chết trên Thập giá và sự Phục sinh. Chúng ta phải thẩm thấu sự kiện cuối cùng này, nhất là theo ngôn ngữ của Công đồng Vatican II xác định là Mầu nhiệm Vượt qua (Mysterium Paschale) – nếu chúng ta muốn diễn tả sâu sắc sự thật về LTX, như được mặc khải trong lịch sử cứu độ.

Ở mức cân nhắc này, chúng ta phải tiếp cận Tông thư Redemptor Hominis (Gioan Phaolô II, 1978). Thật vậy, thực tế của ơn cứu độ, theo chiều kích con người, đã mặc khải những điều chưa từng nghe biết – về sự cao cả của con người, như Bài Exsultet (công bố trong đêm Vọng Phục Sinh) mô tả: “Tội hồng phúc đã ban cho chúng ta Đấng cứu chuộc rất cao sang”, ngay lúc chiều kích cứu độ của Thiên Chúa làm cho chúng ta có thể hồi sinh theo cách kinh nghiệm nhất và lịch sử nhất, để tiết lộ chiều sâu của tình yêu không không chùn bước trước sự hy sinh khác thường của Chúa Con, để thỏa mãn lòng trung thành của Chúa Cha đối với loài người, tạo dựng chúng ta theo hình ảnh Ngài và chọn chúng ta từ khởi nguyên, nơi Chúa Con, đối với ân sủng và vinh quang.

Các sự kiện của ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, thậm chí trước đó, trong lời cầu nguyện tại Ghết-si-ma-ni, giới thiệu sự thay đổi nền tảng của toàn bộ sự mặc khải về tình yêu và LTX trong sứ vụ của Đức Kitô. Ngài “thi ân giáng phúc, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế” (Cv 10:38), đồng thời “chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền” (Mt 9:35), chính Ngài thực hiện LTX và kêu gọi LTX, khi Ngài bị bắt, bị đối xử tệ, bị kết án, bị đánh đòn, đội vòng gai, bị đóng đinh vào Thập giá và chết trong đau đớn vô cùng (x. Mc 15:37; Ga 19:30).

Lúc đó Ngài xứng đáng nhận LTX từ những người mà Ngài đã làm tốt cho họ, nhưng Ngài đã không nhận được. Ngay cả những người thân tín nhất cũng không thể bảo vệ Ngài khỏi kẻ ác. Ở giai đoạn cuối cùng của sứ vụ, các lời tiên tri, nhất là của tiên tri Isaia nói về Người Tôi Tớ Đau Khổ, hoàn toàn ứng nghiệm nơi Đức Kitô: “Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành” (Is 53:5).

Đức Kitô, là người chịu đau khổ trong Vườn Cây Dầu và trên đồi Can-vê, đã thưa với Chúa Cha rằng Ngài đã thể hiện tình yêu của Chúa Cha cho mọi người. Nhưng Ngài cũng không được thoát khỏi đau khổ và cái chết trên Thập giá: “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người” (2 Cr 5:21).

Thánh Phaolô viết về chiều kích thực tế của ơn cứu độ. Chính ơn cứu độ này là mặc khải tính thánh thiêng của Thiên Chúa, Đấng hoàn thiện, đầy đủ công lý và yêu thương, vì công lý dựa trên yêu thương.

Trong cuộc khổ nạn và cái chết của Đức Kitô, Chúa Cha không tha chính Con mình, nhưng “vì chúng ta mà tự nhận thân phận như tội nhân”, công lý được diễn tả, Đức Kitô chịu đau khổ và chấp nhận Thập giá vì tội lỗi nhân loại. Điều này cấu thành “sự dồi dào” của công lý, vì tội lỗi của loài người “được đền bù” nhờ sự hy sinh của Thiên-Chúa-Làm-Người.

Công lý này là “tiêu chuẩn của Thiên Chúa”, hoàn toàn nhiệm xuất từ tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con, và sinh hoa kết trái trong tình yêu. Vì thế, công lý của Chúa mặc khải trên Thánh giá của Đức Kitô là “chiều kích cùa Thiên Chúa” vì nhiệm xuất từ tình yêu và được hoàn tất trong tình yêu, sinh ra hoa trái ơn cứu độ. Ơn cứu độ liên quan sự mặc khải về LTX viên mãn.
Chiều kích ơn cứu độ được đặt trong hiệu quả không chỉ bằng cách đem lại công lý để chịu đựng tội lỗi, mà còn phục hồi tình yêu nơi con người, vì chính con người đã từng viên mãn sự sống và sự thánh thiện đến từ Thiên Chúa. Theo cách này, ơn cứu độ liên quan sự mặc khải về LTX một cách viên mãn.
Mầu nhiệm Vượt qua là tột đỉnh của sự mặc khải này và hiệu của cùa LTX, có thể biện hộ cho con người, phục hồi công lý theo nghĩa của mệnh lệnh cứu độ mà Thiên Chúa đã muốn từ khi tạo dựng nhân loại. Cuộc khổ nạn của Đức Kitô nói theo cách đặc biệt đối với con người, không chỉ với người có niềm tin.

Những người không có niềm tin cũng có thể khám phá nơi Ngài về mối liên kết với số phận con người, cũng như sự hài hòa trọn vẹn của sự dấn thân vô vị lợi vì con người, vì chân lý và vì yêu thương. Nhưng chiều kích của Mầu nhiệm Vượt qua còn thâm thúy hơn. Thập giá trên đồi Can-vê, nơi mà Đức Kitô đã đối thoại lần cuối với Chúa Cha, nổi bật lên từ chính trái tim yêu thương của con người, vốn được tạo thành giống hình ảnh Thiên Chúa, đã được làm thành tặng phẩm theo kế hoạch đời đời của Thiên Chúa.

Như Đức Kitô đã mặc khải, Thiên Chúa không chỉ thân thiện với thế giới với tư cách Tạo hóa và nguồn hiện hữu, mà Ngài còn là Cha: Ngài liên kết với con người, và Ngài mời gọi họ hiện hữu trong thế giới vô hình, bằng mối liên kết thân mật hơn. Đó là tình yêu không chỉ tạo điều tốt mà còn cho tham dự vào chính sự sống của Thiên Chúa: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Vì Ngài yêu thương và muốn trao ban chính Ngài. Và Ngài cũng mời gọi chúng ta chia sẻ chân lý và tình yêu nơi Thiên Chúa.

Tín điều Công đồng Nicê-Constantinopolitan xác nhận: “Ánh sáng bởi Ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật”. Thập giá là bằng chứng tuyệt vời về giao ước của Thiên Chúa đối với nhân loại – mỗi con người đều là giao ước này. Thập giá là giao ước mới đã được thiết lập trên đồi Can-vê, không hạn chế với một người nào.

Thập giá của Đức Kitô nói gì với chúng ta? Thập giá lại cho chúng ta một sứ điệp quan trọng: “Đức Kitô phục sinh”.

Những người thấy ngôi mộ trống trở thành nhân chứng về Đức Kitô phục sinh. Nhưng ngay trong vinh quang Thiên Chúa, Thập giá vẫn còn. Thập giá đó vẫn nói và không ngừng nói về Thiên Chúa Cha, Đấng tuyệt đối trung tín với tình yêu đời đời của Ngài đối với con người: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3:16).

LTX là tình yêu tuyệt đối. Tin vào tình yêu này là tin vào LCTX. Tin vào Chúa Con bị đóng đinh là “thấy Chúa Cha” (x. Ga 14:9), nghĩa là tin tình yêu đó hiện hữu trong thế giới và tình yêu này mạnh hơn mọi điều ác nơi mọi người, nơi nhân loại, hoặc cả thế gian. LCTX là chiều kích tuyệt đối của tình yêu.

Tình yêu mạnh hơn tử thần và mạnh hơn tội lỗi

Thập giá của Đức Kitô trên đồi Can-vê cũng là nhân chứng đối với sức mạnh của sự ác chống lại Con Thiên Chúa, chống lại một người con trong những người con của nhân loại, con người đó có bản chất vô tội, chống lại những người sinh ra trong thế gian chưa bị hoen ố vì sự bất tuân phục của Adam và ảnh hưởng Tội nguyên tổ. Và ở đây, chính nơi Đức Kitô, công lý được thực hiện đối với tội lỗi bằng giá máu hy sinh của Ngài, bằng cách “vâng lời cho đến chết trên Thập giá” (Pl 2:8).

“Ngài chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Ngài thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Ngài” (2 Cr 5:21). Công lý cũng được đem tới để liên quan cái chết, mà từ đầu lịch sử nhân loại đã bị nối kết với tội lỗi. SỰ chết đã được công lý thực hiện bằng giá của cái chết của Con Người không hề có tội và chiến thắng bằng cái chết: “Tử thần đã bị chôn vùi. Đây giờ chiến thắng! Hỡi tử thần, đâu là chiến thắng của ngươi? Hỡi tử thần, đâu là nọc độc của ngươi? Tử thần có độc là vì tội lỗi, mà tội lỗi có mạnh cũng tại có Lề Luật. Nhưng tạ ơn Thiên Chúa, vì Ngài đã cho chúng ta chiến thắng nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (x. 1 Cr 15:54-57).

Chúa Con, Đấng đồng bản thể với Chúa Cha, đã hoàn lại công lý cho Thiên Chúa bằng chính Thập giá, đồng thời mặc khải LTX, đó là tình yêu trái ngược với những gì cấu thành nguồn gốc điều ác trong lịch sử nhân loại: chống lại tội lỗi và sự chết.

Thập giá là sự hạ mình sâu thẳm nhất của Thiên Chúa đối với loài người và những số phận bất hạnh của loài người – nhất là những lúc khó khăn và đau khổ. Thập giá như là “cách tiếp xúc” của tình yêu vĩnh hằng đối với những vết thương của loài người; đó là sự hoàn tất trọn vẹn của chương trình cứu độ nhân loại mà Đức Kitô đã bày tỏ tại Đền Thờ ở Nadarét (x. Lc 4:18-21) và đã được ngôn sứ Gioan Tẩy giả lặp lại (x. Lc 7:20-23).

Theo cách nói của tiên tri Isaia (x. Is 35:5; 61:1-3), chương trình này cốt ở việc mặc khải về LCTX đối với người nghèo, người đau khổ, tội nhân, người mù, người bị đàn áp và bị bóc lột. Trong Mầu nhiệm Vượt qua, các giới hạn của “sự dữ đa chiều” mà nhân loại “ăn chia” đã bị vượt qua: Thật vậy, Thập giá của Đức Kitô làm chúng ta hiểu căn nguyên sâu xa của sự dữ, đã bị gắn sâu trong tội lỗi và sự chết; vì thế Thập giá trở nên dấu hiệu tận thế (eschatological sign).

Chỉ trong sự hoàn tất cuối cùng và sự canh tân cuối cùng của thế giới mà tình yêu sẽ chiến thắng, trong những người Chúa chọn, hoa trái chín muồi của vương quốc sự sống và vinh quang bất tử. Việc thiết lập sự hoàn tất cuối cùng này có nơi Thập giá của Đức Kitô và trong cái chết của Ngài.
“Chúa Giêsu đã sống lại vào ngày thứ ba” (x. 1 Cr 15:4), điều đó cấu thành dấu hiệu cuối cùng của sứ vụ cứu độ, dấu hiệu hoàn tất toàn bộ mặc khải về LCTX trong thế-gian-bị-cái ác-chế-ngự. Đồng thời cấu thành dấu hiệu tiên báo “trời mới và đất mới” (Kh 21:1), lúc “Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết, cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21:4).

Trong sự hoàn tất cuối cùng, LCTX sẽ được mặc khải là tình yêu, trong khi trên thế gian, trong lịch sử nhân loại, cùng với lịch sử của tội lỗi và sự chết, tình yêu phải được mặc khải là LCTX và cũng phải được hiên thực hóa là LCTX. Chương trình cứu độ của Đức Kitô, chương trình của LTX, trở thành chương trình của Dân Ngài, chương trình của Giáo hội.

Ngay tại trung tâm của chương trình đó luôn có Thập giá, vì chính nơi Thập giá mà sự mặc khải LCTX đạt tới đỉnh cao. Khi “những cái cũ bị tẩy sạch” (x. Kh 21:4), Thập giá vẫn còn được dẫn chứng những từ ngữ trong sách Khải huyền của Thánh Gioan: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta” (Kh 3:20).

Theo cách đặc biệt, Thiên Chúa cũng mặc khải LTX khi Ngài mời gọi nhân loại “thương xót” Con Một Ngài là Đấng-bị-đóng-đinh. Đức-Kitô-bị-đóng-đinh chính là Ngôi-Lời-không-qua-đi: “Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu” (Mt 24:35), và Ngài là người “đứng trước cửa và gõ vào cửa lòng của mỗi người” (x. Kh 3:20), không hạn chế tự do nhưng tìm cách rút ra từ chính lòng yêu chuộng tự do, đó không chỉ là hành động đoàn kết với Con-Người-chịu-đau-khổ (Đức Kitô), mà còn là dạng LTX được mỗi người trong chúng ta thể hiện với Con của Chúa Cha hằng hữu.

Trong toàn bộ chương trình cứu độ của Đức Kitô, trong toàn bộ mặc khải về LTX qua Thập giá, phẩm giá con người có thể được tôn trọng hơn và được đề cao hơn, vì đạt được LTX. Đức Kitô đã xác định: “Các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25:40).

Trong Bài Giảng Trên Núi, Chúa Giêsu nói đến một trong Bát Phúc (Tám mối phúc thật): “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5:7). Điều đó cấu thành một bản tổng hợp của toàn bộ Tân ước, toàn bộ “sự trao đổi tuyệt vời” (admirable commercium) bao gồm trong đó. Sự trao đổi này là luật của kế hoạch cứu độ, luật này vừa đơn giản, vừa mạnh mẽ, vừa dễ dàng.

Thể hiện ngay từ đầu những gì mà “trái tim con người” có thể thương xót, những từ ngữ này không từ Bài Giảng Trên Núi mặc khải viễn cảnh mầu nhiệm thẳm sâu của Thiên Chúa: Tính đồng nhất bí ẩn của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, trong đó tình yêu bao gồm công lý, đặt trong LTX, mặc khải sự hoàn hảo của công lý.

Mầu nhiệm Vượt qua là Đức Kitô ở đỉnh cao của sự mặc khải về mầu nhiệm bí ẩn của Thiên Chúa. Đó là những lời được nói đã hoàn toàn nên trọn: “Ai thấy Thầy là thấy Cha” (Ga 14:9). Thật vậy, Đức Kitô là Đấng mà Chúa Cha “cũng không tha” (Rm 8:32) vì nhân loại, Đấng phải chịu khổ hình Thập giá đã không được nhân loại thương xót, Đấng đã mặc khải tình yêu viên mãn trong sự phục sinh của Ngài mà Chúa Cha đã dành cho Ngài, nơi Ngài, và cho nhân loại: “Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống” (Mc 12:27).

Trong sự phục sinh, Đức Kitô đã mặc khải Thiên Chúa của LTX, vì Ngài đã chấp nhận Thập giá là đường tới phục sinh. Vì thế, khi chúng ta nhớ tới Thập giá, cuộc Khổ nạn và Sự chết của Đức Kitô, đức tin và đức cậy của chúng ta tập trung vào Đấng Phục Sinh: “Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em!”. Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa” (Ga 20:19-20). Rồi Ngài nói với họ: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha, anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20:22-23).

Ở đây Chúa Con có kinh nghiệm về LTX đã được thể hiện với Ngài, nghĩa là tình yêu của Chúa Cha mạnh hơn Tử thần. Đức Kitô cũng vậy, vào lúc cuối của sứ vụ cứu độ, Ngài đã mặc khải chính Ngài là Nguồn Thương Xót vô tận, về chính tình yêu ấy, trong viễn cảnh lịch sử cứu độ nơi Giáo hội, được xác nhận là lớn hơn mọi tội lỗi của nhân loại.

Đức Kitô Vượt Qua là hiện thân cuối cùng của LTX, dấu hiệu sống động trong lịch sử nhân loại cho đến tận thế. Trong tinh thần đó, phụng vụ mùa Phục sinh đặt trên môi miệng chúng ta những lời của Thánh vịnh: “Tình thương Chúa, đời đời con ca tụng, qua muôn ngàn thế hệ miệng con rao giảng lòng thành tín của Ngài” [Tv 89 (88):2].

Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Ngài! Jezu, ufam tobie! Jesus, I trust in You!

TRẦM THIÊN THU
(Chuyển ngữ từ TheDivineMercy.org)

______________________________________

(*) Septuagint, quen gọi là Bản Bảy Mươi. Bản Kinh thánh phổ thông (Vulgate) chủ yếu là công của thánh Giêrônimô, và được ĐGH Damasus I ủy nhiệm năm 382. Lúc đó, bản này là tiêu chuẩn trong Giáo hội, nhưng đến thế kỷ XVI có vài trăm bản được in, với nhiều thay đổi. Công đồng Trentô tuyên bố rằng Bản Kinh thánh phổ thôn là xác thực khi đọc công khai, tranh luận, giảng thuyết và bình luận, và truyền lệnh xem xét kỹ lưỡng. Nghĩa là bản phổ thông này là bản Kinh thánh chính thức của Giáo hội. Bản này cũng được Công đồng Vatican I và Vatican II sử dụng.