Tuesday, August 9, 2022

BÍ MẬT TÒA GIẢI TỘI

 

Bí mật tòa giải tội và nạn lạm dụng tính dục

Trong những năm gần đây, ấn tích tòa giải tội nhiều lần bị tấn công sau những tin tức và phúc trình về những vụ giáo sĩ lạm dụng tính dục trẻ vị thành niên. Người ta nuôi ảo tưởng nhờ sự bãi bỏ bí mật tòa giải tội, thiện ích của các trẻ em sẽ được bảo vệ hơn. Trong khi đó, Giáo quyền quyết liệt bảo vệ tính chất thánh thiêng của ấn tích tòa giải tội. Vụ gần đây nhất là trường hợp tại Pháp, nhưng trước đó những điều tương tự cũng đã xảy ra tại Australia.

Giuse Trần Đức Anh O.P.

Phúc trình Ciase

Hôm 5/10 vừa qua, dư luận Công Giáo tại Pháp và nhiều nơi trên thế giới bị “sốc” lớn vì phúc trình do một Ủy ban độc lập được Hội đồng Giám Mục Pháp ủy nhiệm thực hiện trong 32 tháng: kết quả là trong 70 năm từ năm 1950 đến nay người ta phỏng đoán có 330 ngàn người trẻ bị giáo sĩ và các nhân viên của Giáo Hội lạm dụng tính dục. Và trong số các biện pháp được ông Jean-Marc Sauvé, trưởng nhóm điều tra, đề nghị để giúp ngăn chặn tệ nạn này là cần thay đổi qui luật về bí tích giải tội, để cha giải tội có thể trình báo với nhà chức trách những vụ lạm dụng tính dục trẻ vị thành niên.

Tuyên bố của Đức cha Chủ tịch Hội đồng Giám Mục Pháp

Trước đề nghị này, Đức Cha Éric de Moulins-Beaufort, Tổng Giám Mục giáo phận Rennes, Chủ tịch Hội đồng Giám Mục Pháp, phản ứng và bênh vực bí mật tòa giải tội, đồng thời nói rằng đối với các tín hữu Công Giáo, qui luật giữ bí mật tòa giải tội “cao hơn luật pháp Nhà Nước” đòi các cha giải tội phải trình báo với nhà chức trách những vụ lạm dụng tính dục trẻ vị thành niên biết được trong tòa giải tội. Tức khắc phía chính quyền, Bộ trưởng nội vụ và Bộ trưởng tư pháp, và dư luận đời mạnh mẽ phản đối. Thế là thay vì chú ý đến nội dung của Phúc Trình Ciase, dư luận quan tâm tranh luận về lời tuyên bố của Đức Tổng Giám Mục Eric.

Phản ứng của chính quyền

Sau đó Bộ trưởng nội vụ Pháp, ông Gérard Darmanin, đã triệu Đức Cha Chủ tịch Hội đồng Giám Mục Pháp đến gặp ông chiều thứ Hai 12/10 vừa qua để làm sáng tỏ vấn đề. Ông tuyên bố rằng các Linh Mục phải trình báo cho Nhà Nước những vụ lạm dụng trẻ em, kể cả những vụ nghe được trong tòa giải tội.

Theo hình luật Pháp, những người không trình báo những vụ lạm dụng tính dục trẻ vị thành niên mà họ biết được, sẽ bị phạt từ 3 năm tù và 45 ngàn Euro cho tới 5 năm tù và 75 ngàn Euro.

Phản ứng của Đức Tổng giám mục Eric

Về phần Đức Cha Eric, ngài ra thông cáo xin lỗi về câu nói “vụng về” bảo vệ ấn tích tòa giải tội và nói thêm rằng “Tôi xin lỗi các nạn nhân và tất cả những người có thể đau lòng hoặc bị sốc vì những câu nói của tôi trên đài France Info về việc xưng tội, đã lấn át việc đón nhận nội dung Phúc trình Ciase và sự quan tâm đến các nạn nhân”. Đức cha cũng cam đoan rằng Hội đồng Giám Mục Pháp sẽ làm việc để dung hòa “bản chất của việc xưng tội và sự cần thiết phải bảo vệ trẻ em” dưới ánh sáng mức độ rộng lớn của bạo lực và gây hấn tình dục đối với các trẻ vị thành niên”.

Phản ứng của dư luận

Lời tuyên bố trên đây của Đức Tổng Giám Mục Eric gây kinh ngạc nơi các tín hữu Công Giáo Pháp và từ Mỹ cũng có những người kêu gọi các Giám Mục Pháp hãy bênh vực bí mật của bí tích giải tội.

Vì thế, phát ngôn viên Hội đồng Giám Mục Pháp, bà Karine Dalle phải lên tiếng hôm 13/10 vừa qua để thanh minh rằng các Giám Mục Pháp duy trì bí mật tòa giải tội và không làm thương tổn giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo về ấn tích thánh thiêng của bí tích giải tội.

Bà Karine Dalle nói với 1 ký giả Công Giáo Mỹ rằng không thể thay đổi giáo luật cho nước Pháp, vì đây là luật của Giáo Hội hoàn vũ. Một Linh Mục vi phạm bí mật tòa giải tội sẽ bị vạ tuyệt thông. Đó là điều Đức Tổng Giám Mục Moulins-Beaufort, Chủ tịch Hội đồng Giám Mục Pháp, muốn nói trong tuần trước đây, sau khi công bố phúc trình do Ủy ban của ông Sauvé thực hiện. Đức Tổng Giám Mục nói rằng ấn tín tòa giải tội ở trên luật của cộng hòa Pháp. Đức Tổng Giám Mục nói sự thật, nhưng sự thật này không thể nghe được đối với những người không phải là Công Giáo, và không thể hiểu được tại Pháp giữa cuộc tranh luận về điều gọi là “chủ trương ly khai tôn giáo”.

Trường hợp ở Australia

Tại Australia cũng xảy ra tương tự. Đã có 6 tiểu bang ở Australia thông qua luật bó buộc về vấn đề này, theo đề nghị của Ủy ban hoàng gia tại Australia điều tra về những vụ lạm dụng tính dục trong Giáo Hội Công Giáo, mặc dù giáo quyền Công Giáo nước này đã mạnh mẽ phản đối. Nhiều linh mục tuyên bố sẵn sàng vào tù chứ không vi phạm ấn tín tòa giải tội, vì giáo luật buộc linh mục phải tuyệt đối giữ kín những gì đã nghe được trong tòa giải tội.

Một số người khác cảnh giác rằng chính quyền ban hành luật như thế là điều không những vô ích, nhưng còn làm thiệt hại cho chính nghĩa bảo vệ trẻ em. Lý do vì không ai đi xưng thú tội của mình với linh mục để rồi để bị cha giải tội tố giác với chính quyền. Như vậy, luật đó sẽ khiến những kẻ phạm tội các tội ấy không xưng tội nữa, và thế là cha giải tội mất đi cơ hội khuyên bảo họ từ bỏ con đường tội lỗi ấy.

Tòa thánh lên tiếng

Tòa Thánh đã gửi đến Hội đồng Giám Mục Australia một số nhận xét về 12 đề nghị của Ủy ban Hoàng gia để bài trừ nạn giáo sĩ lạm dụng tính dục, trong đó có cả đề nghị bãi bỏ bí mật tòa giải tội. Tòa Thánh tái khẳng định đặc tính bất khả xâm phạm của ấn tín tòa giải tội, nó là điều mà chính bản chất của bí tích đòi hỏi, vì thế nó xuất phát từ chính luật của Thiên Chúa. “Tòa giải tội cống hiến một cơ hội, có lẽ là duy nhất, để những người phạm tội lạm dụng tính dục nhìn nhận tội ấy. Trong lúc ấy có thể cha giải tội khuyên hối nhân hãy thống hối, sửa đổi cuộc sống và tái lập công lý. Nhưng điều này không có nghĩa là cha giải tội tố giác hối nhân với nhà chức trách về tội lạm dụng ấy, vì làm như thế sẽ không hối nhân nào đến tòa giải tội nữa và như thế sẽ mất đi cơ hội thống hối vừa canh tân”.

Đức Hồng Y Chánh tòa ân giải tối cao

Trong bối cảnh những xôn xao ở Pháp, hôm 15/10 vừa qua, trong cuộc phỏng vấn dành cho trang mạng Aci Stampa ở Ý, Đức Hồng Y Mauro Piacenza, Chánh Tòa ân giải tối cao, tái khẳng định bí mật tòa giải tội là bất khả xâm phạm, và ngài phê bình lập trường của những giới chức chính quyền Pháp muốn đồng hóa bí mật tòa giải tội với bí mật của các nghề nghiệp khác như bác sĩ, luật sư, dược sĩ. Bí mật tòa giải tội không phải là một sự bó buộc áp đặt từ bên ngoài, nhưng là một đòi hỏi nội tại của bí tích, và với tư cách ấy, bí mật này cũng không thể hủy bỏ, kể cả từ chính hối nhân như giáo luật số 1550 triệt 2, số 2 qui định. Hối nhân không nói với cha giải tội trong tư cách là người, nhưng với Thiên Chúa. Vì thế chiếm đoạt điều thuộc về Thiên Chúa là một tội phạm thánh”.

Đức Hồng Y cảnh giác rằng điều chắc chắn là không phải bài trừ nạn lạm dụng tính dục bằng cách vi phạm một bí tích. Nạn lạm dụng này ngày nay lan tràn trong mọi lãnh vực xã hội và nó được nuôi dưỡng bàng sự tính dục hóa tột cùng.

Đức Hồng Y Piacenza nhấn mạnh rằng bí tích hòa giải là một hành vi phụng tự, vì thế không thể lẫn lộn nó với một cuộc nói chuyện tư vấn tâm lý. Trong tư cách là một hành vi bí tích, việc xưng và giải tội phải được bảo vệ nhân danh tự do tôn giáo và mọi sự xen mình vào phải bị coi là bất hợp pháp và xâm phạm các quyền của lương tâm.

Giáo luật hiện hành

Về kỷ luật hiện hành của Giáo Hội về vấn đề này, Giáo luật hiện nay, khoản số 983 quy định rằng:

1. Ấn tích giải tội là điều bất khả vi phạm: do đó, tuyệt đối cấm chỉ cha giải tội không được tiết lộ về hối nhân bằng lời nói hay bằng cách nào khác, và vì bất cứ lý do gì.

Trong tinh thần thận trọng, nhắm bảo vệ bí mật tòa giải tội, Giáo luật số 984 dạy thêm rằng:

1. “Tuyệt đối cấm chỉ cha giải tội không được sử dụng những điều biết được trong tòa giải tội để làm hại hối nhân, cho dù không có nguy cơ tiết lộ.”

2. “Những người cầm quyền không bao giờ được dùng vào việc cai trị ở tòa ngoài những điều nghe biết trong tòa giải tội bất cứ vào thời gian nào.”

Giáo luật số 1388 quy định hình phạt cho những người nào vi phạm luật cấm trên đây:

1. “Cha giải tội nào vi phạm trực tiếp ấn bí tích, sẽ mắc vạ tuyệt thông tức khắc dành cho Tòa Thánh quyền giải. Còn ai chỉ vi phạm gián tiếp, sẽ bị phạt tùy theo mức nặng của tội phạm.”

Monday, August 8, 2022

TIỂU SỬ thánh ĐAMINH

 

08.08 THÁNH ĐAMINH

https://hddmvn.net/thanh-da-minh-dominico-guzman/

Ngày nay, các linh mục đều là những nhà giảng thuyết, nhưng cách đây hơn 800 năm, chỉ các bậc giám mục trở lên mới có quyền giảng! Nói như vậy để chúng ta hiểu tại sao dòng Đa Minh được gọi là dòng giảng thuyết, và đặc sủng của dòng Đa Minh quả là một cuộc cách mạng to lớn vào thời đó.

Đa Minh sinh năm 1170 tại Caleruega, thuộc dòng tộc Guzman, nên được gọi là Đa Minh Guzman. Guzman là một dòng tộc vị vọng tại Tây ban nha vào thời trung cổ. Thân phụ ngài là ông Felix, một kiếm sĩ “tuyệt vời và dịu dàng.” Bà cố là Joanna d’Aza, xuất thân từ gia đình cao quý. Bà cố đạo đức và được đức giáo hoàng Leo XII tuyên phong chân phước. Bên cạnh Đa Minh, bà cố còn có một người con nữa cũng là chân phước dòng Đa Minh: Mannes. Thực là gia đình đạo hạnh: một thánh, hai chân phước. Cũng nên biết rằng, người anh lớn của Đa Minh, linh mục triều, suốt đời làm việc trong nhà thương giúp đỡ người nghèo.

Nhiều dấu lạ xẩy ra khi Đa Minh chào đời. Theo thánh Jordan Saxony, vị ký lục về cuộc đời Đa Minh kể lại, thì khi đang mang thai, bà cố mơ thấy mình cho chào đời một con chó ngậm bó đuốc đang cháy sáng và mang lửa đến khắp thế giới. Rồi trong ngày thánh nhân rửa tội, mẹ đỡ đầu trông thấy trên trán chú bé một ngôi sao sáng, chiếu tỏa chung quanh. Do đó tại sao ngày nay khi tạc tượng thánh Đa Minh, người ta cũng tạc luôn tượng con chó đang ngậm đuốc sáng nằm dưới chân, còn trên trán ngài thì có ngôi sao sáng.

Cuộc đời thánh nhân lúc còn nhỏ cũng bình thường như chúng ta. Năm lên bẩy, ngài được gửi đến ở với cậu là linh mục đang coi xứ gần Caleruega. Năm 14 tuổi, chú từ giã gia đình và bố mẹ để lên học tại Palencia, là trường học nổi tiếng nhất tại Tây ban nha lúc bấy giờ. Ngay từ hồi nhỏ, chú đã biết dung hoà việc học hành với đời cầu nguyện và các bổn phận tông đồ. Có những lần chú đã bán các sách học để giúp đỡ người nghèo. Sách vở lúc chưa có nhà in, là những phẩm vật rất quý giá, nhưng người nghèo với chú còn quý giá hơn. Cũng đã hai lần chú muốn bán mình để có tiền chuộc những người bị bắt làm nô lệ. Phải chăng đó là dấu hiệu cho thấy chú sẽ dung hoà đời sống chiêm niệm và hoạt động trong tương lai?

Hết trung học, chú xin đi tu và có lẽ được truyền chức vào năm 1194. Sau đó, cha Đa Minh xin làm kinh sĩ tại nhà thờ chính toà Osma. Kinh sĩ có bổn phận chuyên lo đọc kinh thay cho toàn giáo phận, nhất là thay cho các linh mục hoạt động. Hội kinh sĩ theo tinh thần tu luật của thánh Augustine, sống đời ẩn thân. Với lòng đạo đức và khôn ngoan, cha Đa Minh trở nên rường cột cho hội. Vì vậy, chỉ 2 năm sau, cha được chỉ định làm bề trên hội kinh sĩ. Đây là một vinh dự lớn lao cho 1 linh mục trẻ. Kinh sĩ Đa minh thường mang trên tay sách phúc âm theo thánh Matthêu, các thư của thánh Phaolô và sách các giáo phụ.

CHUẨN BỊ LẬP DÒNG

Vào năm 1213, đức cha địa phận và Đa Minh được ủy thác sứ mạng thu xếp cuộc hôn nhân của hoàng tử xứ Marches và công chúa Đan mạch. Trên đường đi Đan mạch, hai ngài phải băng qua miền nam nước Pháp. Có lẽ cuộc du hành này đã thay đổi cuộc đời Đa Minh. Tại Toulouse, trong một quán trọ, ngài đã nhận ra rằng, người chủ quán trọ là một người bỏ Công giáo theo nhóm Albigensê. Cũng nên biết từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV, nhóm Albigensê đã rất thành công trong việc thuyết phục người khác theo họ. Vào thời đại mà giáo hội miền nam nước Pháp bị tục hóa, khi các giám mục xa cách dân chúng, ăn mặc sang trọng, đi trên xe tứ mã, sống đời xa hoa, thì triết lý của Albigensê, dựa theo tinh thần lạc giáo Manikêu, quả là hấp dẫn với một số người. Gọi họ là Albigensê vì nhóm này khởi nguồn từ một thành phố miền nam Pháp tên là Albi.

Họ chủ trương nơi con người có hai thái cực: tốt do Chúa tạo nên, xấu do Satan chiếm đoạt. Để loại trừ Satan, con người cần diệt dục, không nên lấy vợ, lấy chồng, không ăn thịt, cá và chỉ ăn rau cỏ. Cuộc sống càng đơn sơ, càng trở về với thiên nhiên càng tốt. Trong khi các giám mục địa phương, linh mục Cistercien ăn mặc sang trọng, thì giáo sĩ nhóm Albigensê ăn vận đơn sơ, đi chân không, mặc quần áo đơn giản. Do đó, họ có một bề ngoài gần gũi với đức khó nghèo của Thánh Kinh hơn. Điều quan trọng hơn cả là về tín lý họ chối bỏ 3 ngôi Thiên Chúa. Miền nam Pháp, Ý và Tây ban nha bị ảnh hưởng rất mạnh của nhóm này.

Đa Minh để cả đêm nói truyện với người lạc giáo. Ngài nhận thấy ông chủ quán là người có lòng thành nhưng bị nghe tuyên truyền sai lạc. Đến sáng, sau khi cầu nguyện hồi lâu thì bỗng dưng người chủ quán đổi lòng. Ông xin trở lại Công giáo. Việc trở lại này đã trở thành động lực lớn thúc đẩy Đa Minh lập dòng tu chuyên lo truyền giáo. Truyền thống kể lại rằng chính tại nhà này, Đa Minh đã cầu nguyện bằng phương cách sắp xếp những ý tưởng Thánh Kinh thành một chuỗi giúp cho ngay cả người đơn sơ cũng có thể lãnh hội được. Đây là bước khởi nguồn của tràng hạt Mân Côi sau này.

Chuyến đi của đức giám mục và của Đa Minh thành công tốt đẹp. Hai vị trở về báo Tin Mừng cho nhà vua và chuẩn bị hôn lễ. Nhà vua lại cử đức giám mục và Đa Minh lên đường đón công chúa cho hoàng tử của mình, nhưng lần du hành thứ hai này mang nhiều nét buồn. Hai vị đến hoàng cung đúng lúc nghe tin công chúa mới lìa đời. Sau đó hai vị cùng sang Roma thăm giáo đô. Cũng nên biết, giám mục địa phận Osma, đức cha Diego, là một nhân vật đạo đức và đặc biệt. Ngài đã làm trưởng hội kinh sĩ tiền nhiệm của Đa Minh. Nhận thấy có nhiều người lạc giáo, khi triều kiến đức giáo hoàng, ngài xin từ nhiệm giám mục để có thêm thời giờ chuyên lo truyền giáo. Tấm gương sáng càng khiến Đa Minh hăng hái hơn thi hành ước mộng.

Tuy nhiên, đức giáo hoàng Innocent III không đồng ý. Ngược lại ngài ủy thác hai vị sang miền Languedoc, hợp lực cùng với các tu sĩ Cistercien chống lại nhóm Albigensê. Đức cha Diego, ngay khi nhận nhiệm vụ mới, ra lệnh cho các tu sĩ Cistercien phải sống đời khó nghèo. Kết quả trông thấy thực rõ rệt. Số người xin trở lại Công giáo tăng lên rất nhanh. Riêng Đa Minh thì còn dành nhiều thời giờ để tranh luận với nhóm lạc giáo. Không cãi nổi với nền thần học chắc chắn, sự thông thái và lý luận sâu sắc của Đa Minh, những người lạc giáo đe dọa giết ngài. Không sợ, Đa Minh tiếp tục rao giảng Tin Mừng cách can đảm. Ngài chọn Prouille làm trụ sở chính rồi từ đó đi đến các miền Fanjeaux, Montpellier, Servian, Beziers, và Carcassonne. Chính tại Prouille vào năm 1206 mà thánh nhân đã lập hội dòng nữ Đa Minh đầu tiên. Ngài biết có nhiều phụ nữ nhiệt thành nhưng vì lầm lạc đã theo nhóm Albi. Họ cần được nâng đỡ. Sau khi trở lại, các phụ nữ này đã xây nhà dòng và chuyên giáo dục các trẻ Công giáo. Đây là cơ sở đầu tiên của dòng nhì Đa Minh trên thế giới.

Năm 1208 đáng được coi là năm “bản lề” của Đa Minh. Vào ngày 15 tháng 1, cha Pierre de Castelnau, vị tông toà dòng Cistercien bị ám sát chết. Thánh Simon de Montfort quyết định mở cuộc thánh chiến chống lại nhóm Albigensê. Riêng Đa Minh thì thương xót những người lạc giáo hơn là ghét bỏ họ. Ngài cũng quyết định mở cuộc thánh chiến nhưng không trên mặt trận võ khí mà trên mặt trận truyền giáo. Chính ngài đã gặp thánh Simon và hai người trở thành bạn thân đến mãn đời.

PHỔ BIẾN KINH MÂN CÔI

Trận thánh chiến rất thành công cho quân đội Công giáo. Các sử gia nói rằng nơi những trận chiến này kinh Mân côi được đọc lần đầu tiên, kinh Mân côi trở thành khí giới thiêng liêng bảo vệ đạo. Cuộc đời và sự thánh thiện của thánh nhân nổi bật đến độ ba giáo phận xin ngài làm giám mục: năm 1212, địa phận Bezier; rồi địa phận St. Lizier, cuối cùng vào năm 1215 là địa phận Navarre. Nhưng Đa Minh tuyệt đối xin từ chối những vinh dự trên. Tấm gương của đức giám mục địa phận Osma là Diego vẫn còn in đậm trong tâm trí. Ngài nói nếu bị ép làm giám mục, ngài sẽ trốn đi ngay dù trong đêm tối! Tuy nhiên, không phải lúc nào Đa Minh cũng rao giảng thành công đâu. Vào những năm 1213 và 1214 lịch sử ghi lại ngài truyền giáo tại miền Carcassonne, nhưng rất ít người trở lại và ngược lại bị nhiều chống đối.

DÒNG TU MỚI

Đến năm 1214 ngài trở về Toulouse, Pháp quốc. Tại nơi đây ngài thực hành quyết định thành lập dòng tu chuyên lo giảng thuyết. Nổi tiếng đạo đức và khôn ngoan nên nhiều thanh niên ngưỡng mộ tìm đến với ngài. Sau khi đức cha Toulouse cho phép, Đa Minh tập họp những môn đệ đó thành một cộng đoàn. Đến năm 1215, ngài chính thức theo giáo luật thành lập nhà dòng trong giáo phận Toulouse với mục đích truyền bá đức tin và luân lý chân chính. Cũng trong năm này ông Pierre Seilan, một người giầu có miền Toulouse, đi theo thánh Đa Minh. Pierre dâng tặng cho thánh nhân nhiều sở hữu. Nhờ vậy ngày 25 tháng 4 năm 1215, tu viện đầu tiên của dòng được thành lập.

Thoạt đầu, dòng chỉ mang tính cách là “dòng địa phận”. Đa Minh mong muốn dòng mới sẽ đi truyền bá Tin Mừng khắp thế giới. May mắn thay, vào tháng 11 năm 1215, công đồng chung tại Roma được triệu tập nhằm mục đích “sửa chữa những đồi phong bại tục, dẹp tan lạc giáo và củng cố đức tin chân chính.” Điều khoản giáo luật số X của công đồng còn khiển trách cách mạnh mẽ một số giám mục đã quên lãng bổn phận rao giảng, và khuyến khích việc ủy thác cho một số vị có khả năng rao giảng lời Chúa. Những lời tuyên bố đó đúng với tôn chỉ dòng Đa Minh. Tuy nhiên, nên lưu ý rằng, khi công đồng đề nghị “một số vị có khả năng” không có nghĩa là nói đến các linh mục, hoặc cụ thể hơn, các linh mục dòng Đa Minh, một dòng tu còn non trẻ.

Trong khi chân trời mới mở rộng cho Đa Minh, thì một biến cố khác không vui xẩy ra: Công đồng chung cấm việc lập thêm dòng tu mới! Không nản lòng, Đa Minh triệu tập các anh em, thông báo quyết định của đại công đồng. Các tu sĩ Đa minh, cùng đồng ý là, thay vì dùng tu luật mới, thì sẽ theo tu luật thánh Augustino. Cho đến nay, tu luật thánh Augustinô vẫn là tu luật nền tảng của dòng, và các tu sĩ Đa Minh vẫn phải học tu luật thánh Augustinô trước khi học hiến pháp dòng. Tháng 8 năm 1216, Đa Minh xin phép gặp đức giáo hoàng, và ngày 22 tháng 12 cùng năm, đức giáo hoàng chính thức chuẩn y dòng tu có tên hiệu “Dòng giảng thuyết”.

Cũng nên nhắc nơi đây câu truyện rất thú vị. Một hôm, đức giáo hoàng trong giấc mơ, thấy đền thờ Latêranô bị nghiêng, thì có hai thanh niên bước đến kề vai nâng đỡ. Buổi sáng cùng ngày, ngài có hẹn gặp hai tu sĩ tên là Đa Minh và Phanxicô. Nhớ lại giấc mơ, nhìn lại khuôn mặt, ngài biết ngay rằng đây là dấu hiệu mà Chúa báo trước cho ngài: hai tu sĩ trẻ này sẽ là người nâng đỡ giáo hội. Vào thế kỷ 13, đền thờ Lateranô chính là biểu tượng của giáo hội như đền thờ thánh Phêrô thời nay. Trong thời gian ngắn ở tại Roma, đức giáo hoàng cũng nhờ thánh Đa Minh đi giúp tái lập truyền thống nghiêm ngặt nơi các nhà dòng nữ. Đa Minh đã làm cho đức giáo hoàng rất hài lòng trong việc giúp thăng tiến đời sống tinh thần tại các nhà dòng này.

ĐẶC SỦNG CỦA DÒNG


Đến ngày 15 tháng 8 năm 1217, Đa Minh trở về Prouille thông báo Tin Mừng cho các anh em. Ngay sau đó, Đa Minh đưa ra một quyết định được coi là táo bạo: Ngài sai 17 môn đệ đi truyền giáo toàn miền Âu châu và nhất là giảng thuyết tại các trường đại học. Tuy có một số người phản đối, cho rằng các tu sĩ còn quá non trẻ, nhưng thời gian đã cho thấy quyết định của Đa Minh hoàn toàn đúng. Thứ nhất, ngài tin tưởng các môn đệ của mình; thứ hai Chúa Thánh linh đã không ngừng làm việc nơi 17 tu sĩ Đa Minh đầu tiên, đến nỗi chỉ một năm sau, vào ngày 3 tháng 12 năm 1218, đức giáo hoàng Honorio III viết tông thư giới thiệu dòng cho toàn thể các giám mục, viện phụ, bề trên tu viện, xin các vị nâng đỡ và cùng làm việc chung với anh em trong dòng. Truyền giáo nơi các trường đại học trở thành một đặc sủng của dòng.

Đa Minh muốn các tu sĩ có một trình độ cao về học vấn. Có lẽ hướng đi đó do kết quả thánh nhân thâu thập được khi làm việc tại trường đại học Palencia. Cho đến nay, đây vẫn là một trong những đặc điểm của dòng. Trong thời ban sơ, đa số tu viện đều được thành lập chung quanh trường đại học, vừa để dễ làm việc mục vụ, vừa để dễ cho các anh em đi học. Các trường đại học Paris (Pháp quốc) và Bologna (Tây ban nha) đã là những nơi “thử lửa” đầu tiên của dòng.

Tại Roma, đức giáo hoàng Honoriô, thích thú trước những thành công của anh em thuyết giáo, dành tu viện Santa Sabina cho dòng Đa Minh chịu trách nhiệm. Ngày nay Santa Sabina là nhà Mẹ của toàn dòng. Đến năm 1218, trong văn thư ngày 2 tháng 12, đức giáo hoàng còn ủy thác đền thờ Saint Sixtus dưới quyền cai quản của dòng và dành cho Đa Minh chức nghiêm sư thánh điện, tức là nhà thần học của đức giáo hoàng. Dòng Đa Minh giữ chức vụ này cho đến ngày nay.

Vẫn ôm giấc mộng truyền giáo, Đa Minh không muốn vì công việc điều hành mà quên mộng ước. Cuối năm 1218, ngài chỉ định cha Reginal de Orleans làm tổng đại diện, còn mình thì cùng với nhiều anh em đi sang các thành phố khác. Các tu viện đầu tiên của dòng được thành lập tại Bologna, Prouille, Toulouse, Fanjeaux, sau đó tới Lyons, Segovia, Limoges, Barcelona và nhiều thành phố bên Ý… Tháng 2 năm 1219, đan viện nữ Đa minh, tức là dòng nhì được thành lập tại Madrid, Tây ban nha. Cũng trong năm đó, đức giáo hoàng Honoriô đã ban cho ngài tước hiệu “Bề trên tổng quyền” hoặc bề trên cả (Master General), là danh xưng mà các vị thừa kế giữ cho đến nay. Qua năm 1219, nhân đại hội dòng lần đầu ở Bologna, Đa Minh từ chức bề trên tổng quyền để có nhiều thời giờ đi truyền giáo. Đương nhiên, đơn xin bị từ chối. Tuy nhiên, không gì có thể cản trở Đa Minh truyền giáo. Cùng với các anh em dòng, ngài mở nhiều mặt trận: lịch sử ghi lại, qua phép lạ và lời giảng dậy, Ngài đã chinh phục hơn 100,000 người trở lại cùng Chúa.

Theo cha Lacordaire thì tại Lombardy, Đa Minh đã thành lập hội “Đạo Binh Chúa Giêsu” (Militia of Jesus Christ), tức là huynh đoàn Đa Minh hoặc dòng ba Đa Minh bây giờ. Trước những thành công liên tục, vào năm 1221, ngài một lần nữa phải triệu tập công đồng chung toàn dòng lần thứ 2 tại Bologna. Sau đó ngài đi thăm đức hồng y Ugolino, một ân nhân của dòng. Trên đường trở về lại Bologna, Đa Minh bị bệnh, và sau ba tuần chịu đựng cách can đảm, thánh nhân qua đời giữa các anh em. Ngay sau khi qua đời, nhiều người đã đến cầu khấn cùng ngài. Mười ba năm sau, đức giáo hoàng Gregorio, vào ngày 13 tháng 7 năm 1234 tuyên dương ngài lên bậc hiển thánh.

LINH ĐẠO CỦA THÁNH ĐA MINH

“Contemplare, contemplata aliis tradere”. Bên cạnh việc truyền giáo qua giảng thuyết, Đa Minh nổi tiếng vì linh đạo đặc biệt của ngài. Linh đạo này là “hãy chiêm niệm và mang kết quả của sự chiêm niệm đó đến cho tha nhân”. Như chúng ta đã biết, dòng Đa Minh là một hội dòng “pha”, nghĩa là vừa hoạt động, vừa chiêm niệm. Trước đó, các linh mục triều hướng nhiều về hoạt động; còn linh mục dòng khổ tu thì theo tiến trình: “học tập – cầu nguyện – chiêm niệm – (trở về) học tập”. Đa Minh đề ra phương cách mới: “học tập – cầu nguyện – giảng thuyết – chiêm niệm – (trở về) giảng thuyết học tập”.

Linh đạo này về sau được thánh Thomas khai triển và trở nên nổi tiếng với câu châm ngôn “Contemplare, contemplata aliis tradere.” Sống đúng theo câu châm ngôn trên, cuộc đời của thánh Đa Minh được giáo hội ca tụng là ngài chỉ “nói với Chúa, về Chúa và trong Chúa.” Làm sao một người có thể làm được như vậy? Chúng ta có thể làm được không? Được. Tất cả những gì Đa Minh thấy trên đường rao giảng đều là phương tiện ca tụng Chúa, để chiêm niệm và chia sẻ sự chiêm niệm đó cho tha nhân.

Ở trên chúng ta đã biết, sách Phúc Âm ngài thường mang theo là sách của thánh Matthêu. Như Matthêu thuật lại nhiều chi tiết về cuộc đời của Chúa Giêsu, thì Đa Minh cũng thấy mọi biến cố trong cuộc sống, đều là phương cách giúp chiêm niệm và rao giảng Tin Mừng. Lòng nhiệt thành với việc rao giảng Tin Mừng của Đa Minh mạnh đến nỗi trong tông thư tuyên dương hiển thánh cho ngài, đức giáo hoàng Gregory đã tuyên bố rằng không ai ngạc nhiên gì về sự thánh thiện của Đa Minh đáng nêu gương cho mọi người như sự thánh thiện của hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô!

Lạy Cha thánh Đa Minh, xin cầu cho chúng con.

Lm. Đào Quang Chính, OP

 

Sunday, August 7, 2022

BÍ TÍCH THÁNH THỂ LÀ GÌ?

Chúa Giêsu hiện diện trong Bí tích Thánh Thể như thế nào? Khi nào thì bánh và rượu biến đổi thành Mình và Máu Thánh Chúa Kitô?

1. Bí tích Thánh Thể là gì?

Trước cuộc khổ nạn và cái chết của mình, Chúa Giêsu đã cử hành Lễ Vượt Qua với các môn đệ và nói với họ: “Thầy những khát khao mong mỏi ăn lễ Vượt Qua này với anh em trước khi chịu khổ hình. Bởi vì, Thầy nói cho anh em hay, Thầy sẽ không bao giờ ăn lễ Vượt Qua này nữa, cho đến khi lễ này được nên trọn vẹn trong Nước Thiên Chúa. Rồi Ngài cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra, trao cho các ông và nói: "Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy. Và tới tuần rượu cuối bữa ăn, Ngài cũng làm như vậy và nói: "Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em” (Luca 22: 15-20).


Một số trình thuật trong Tin Mừng tập trung vào chân lý trung tâm này của đức tin Kitô giáo, như Mátthêu 26: 17-29; Máccô 14:12-25; Luca 22: 7-20 và Phaolô trong Côrintô 11: 23-26.

Trong Thánh lễ mỗi khi linh mục đọc lời Truyền phép, thì phép lạ Bí tích Thánh Thể được thực hiện; những gì đã từng là bánh và rượu, bây giờ trong vỏ bọc đó, trở thành Mình và Máu của Chúa Kitô.

Như Sách Giáo lý của Giáo hội Công giáo dạy: “Đức Kitô hiện diện dưới hai hình Thánh Thể một cách độc nhất vô nhị và không gì so sánh được. Thật vậy, Chúa Kitô hiện diện cách đích thực, thực sự và bản thể, với trọn thân xác, máu thịt, linh hồn và thiên tính. Đức Kitô, vừa là Thiên Chúa vừa là con người, hiện diện trọn vẹn trong Thánh Thể cách bí tích, nghĩa là dưới hai hình Thánh Thể bánh và rượu.” (số 1371-1374)

Niềm vui trong Thứ Năm Tuần Thánh bắt nguồn từ Thánh Thể: khi người ta hiểu rằng Đấng Sáng Tạo đã yêu mến các thụ tạo của mình cách tràn trể. Chúa Giêsu Kitô, đã lập Bí tích Thánh Thể, như thể tất cả những bằng chứng khác về lòng thương xót của Ngài vẫn chưa đủ, để chúng ta luôn có thể có được Ngài ở gần chúng ta, và Ngài không muốn làm gì mà không có chúng ta, bởi vì - theo mức độ chúng ta có thể hiểu được – Ngài bị thúc đẩy bởi một Tình yêu, một tình yêu không cần gì cả. 

 Chính vì tình yêu và để dạy chúng ta yêu thương mà Chúa Giêsu đã đến thế gian và ở lại giữa chúng ta trong Bí tích Thánh Thể.

2. Quá trình biến đổi bản thể này diễn ra như thế nào? Khi nào thì quá trình biến đổi bản thể xảy ra?

Bằng cách biến đổi bản thể, nghĩa là bằng việc biến bánh và rượu thành Mình và Máu Người, Đức Kitô trở nên hiện diện trong bí tích này. Thánh Ambrôsiô đã nói về sự biến đổi này: “Chúng ta hãy tin chắc rằng đây không phải là vấn đề bản tính tự nhiên, nhưng do lời truyền phép thánh hiến. Quyền năng của lời truyền phép vượt trên sức mạnh của cái tự nhiên và bởi lời truyền phép cái tự nhiên được biến đổi.” (Giáo lý Hội Thánh Công giáo, số 1375).

Đức Kitô hiện diện trong Thánh Thể bắt đầu từ lúc truyền phép và kéo dài chừng nào hình bánh và rượu còn tồn tại. Trong hình bánh cũng như trong hình rượu, Đức Kitô hiện diện trọn vẹn. Và trong bất cứ phần nhỏ bé nào cũng có trọn vẹn Mình và Máu Chúa.Việc bẻ bánh không phân chia Đức Kitô (CĐ Trentô : DS 1641)” (Giáo lý Hội Thánh Công giáo, số 1377).

Những gì chúng ta không thể làm thì Chúa có thể làm. Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa toàn thiện và con người hoàn hảo, không để lại cho chúng ta một biểu tượng, nhưng để lại cho chúng ta một thực tại: Ngài vẫn là chính Ngài. Ngài sẽ về cùng Cha, nhưng Ngài sẽ ở với loài người. Ngài sẽ không để lại cho chúng ta một món quà chỉ khiến chúng ta nhớ lại kỉ niệm về Ngài, như một hình ảnh có xu hướng phai nhạt theo thời gian, giống như bức ảnh nhanh chóng phai màu, ngả sang màu vàng và chẳng còn ý nghĩa gì đối với những ai chưa sống giây phút yêu thương này. Dưới hình bánh và rượu, Ngài hiện diện ở đó, hiện diện thực sự: với Mình, Máu, Linh hồn và Thần tính của mình.

 

3. Chúa Giêsu hiện diện trong Bí tích Thánh Thể như thế nào?

Chúa Giêsu Kitô hiện diện thực sự trong Bí tích Thánh Thể. Bí tích Thánh Thể chứa đựng một cách thực sự, đích thực và bản thể thân xác và máu cũng như linh hồn và thần tính của Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô, và do đó chứa đựng toàn thể Đức Kitô. Sự hiện diện này được gọi là “đích thực”, không có nghĩa là loại trừ những sự hiện diện khác, không có ý nói những sự hiện diện khác là không “có thực”, nhưng sự hiện diện này là “đích thực” ở mức độ cao vời nhất, bởi vì sự hiện diện đó là bản thể, và bởi vì qua đó, Đức Kitô, Thiên Chúa và con người, làm cho chính mình hiện diện trọn vẹn.

Trong Tin Mừng của mình, Thánh Gioan đã dẫn ra những lời khác của Chúa Giêsu: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời… Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời… và tôi ở lại trong người ấy” (Gioan 6, 51.54.56).

Cách thức hiện diện của Chúa Kitô dưới hình Thánh Thể là độc nhất. “Người đặt bí tích Thánh Thể trên mọi bí tích để trở nên "như sự trọn hảo của đời sống thiêng liêng và cùng đích của mọi bí tích” (Giáo lý Hội Thánh Công giáo, số 1374).

Tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi dành cho loài người qua sự hiện diện của Chúa Kitô trong Bí tích Thánh Thể, làm phát sinh mọi ân sủng cho Giáo hội và cho nhân loại. Đây là của lễ mà tiên tri Malakia đã tiên báo: “Từ đông sang tây, Danh Ta thật cao cả giữa chư dân; và ở khắp nơi, người ta dâng lễ hy sinh và lễ vật tinh tuyền kính Danh Ta” (Malakhi 1:11). Đó là hy tế của Chúa Kitô được dâng lên Chúa Cha với sự cộng tác của Chúa Thánh Thần: một sự hiến dâng có giá trị vô hạn, làm cho ơn Cứu độ trong chúng ta trở thành vĩnh cửu, đó là điều mà những hy tế của Luật cũ không thể làm được.

Ngài tự hạ trước mặt mọi thứ, Ngài chấp nhận mọi thứ, Ngài phơi bày bản thân mình trước mọi thứ - trước những hy sinh, những lời báng bổ, những thờ ơ lạnh lùng của rất nhiều người - miễn là Ngài có thể trao ban, dù chỉ cho một người, cái khả năng khám phá ra nhịp đập của một Trái tim đang đập trong lồng ngực đầy vết thương của Ngài.

4. Làm thế nào chúng ta có thể tin chắc rằng chính Thiên Chúa đang ẩn thân trong hình bánh và rượu?

Chúng ta không thể biết sự hiện diện Mình thật và Máu thật của Chúa trong bí tích này bằng giác quan, nhưng chỉ bằng đức tin, tức là dựa trên uy quyền của Thiên Chúa.

Vì Chúa Kitô sắp rời bỏ dân riêng của Ngài trong hình dạng hữu hình của Ngài, nên Ngài muốn ban cho chúng ta sự hiện diện bí tích của Ngài; vì Ngài muốn hiến mình trên thập giá như một dấu chỉ cứu độ, Ngài muốn chúng ta tưởng niệm tình yêu mà Ngài đã dành cho chúng ta "cho đến cùng", như Thánh Gioan đã nói: “Ngài vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Ngài yêu thương họ đến cùng” (Gioan 13.1), đến độ cho đi sự sống của mình.

“Khi sắp ra đi, không còn hiện diện hữu hình với những người thân yêu, Đức Kitô muốn ban cho chúng ta sự hiện diện bí tích của Ngài; khi sắp tự hiến trên thập giá để cứu độ chúng ta, Ngài muốn để lại cho chúng ta dấu chỉ tưởng niệm tình yêu; với tình yêu này, Ngài đã yêu thương ta "đến cùng" (Ga 13,1), đến độ ban cho chúng ta cả sự sống của Ngài. Trong bí tích Thánh Thể, Ngài hiện diện cách mầu nhiệm giữa chúng ta như "Đấng đã yêu mến và thí mạng vì chúng ta" (Gl 2,20), Ngài hiện diện qua những dấu chỉ biểu lộ và thông ban tình yêu này” (Giáo lý Hội Thánh Công giáo, số 1380).

Suy niệm và cầu nguyện.

Lạy Thiên Chúa ẩn mình, con thờ lạy Chúa, đang hiện diện thực sự trong những hình dáng này; tâm hồn con thuộc trọn về Chúa, vì khi chiêm ngắm Chúa, mọi sự khác đều là khiếm khuyết. Nơi đây, thị giác, xúc giác, vị giác chỉ đánh lừa chúng con, nhưng chúng con tin chắc những gì chúng ta đã nghe nói; Con tin tất cả những gì Con Thiên Chúa đã nói. Không có gì chân thật hơn Lời Chân Lý này.” [1]

Trên Thập giá chỉ có thần tính ẩn náu, nhưng ở đây nhân tính cũng đang ẩn dấu; Tuy nhiên, con tin vào cả hai và con tuyên xưng điều đó, và con hỏi người trộm ăn năn đã xin điều gì.

Con không nhìn thấy vết thương của Chúa như ThánhTôma, nhưng con tuyên xưng rằng Chúa là Thiên Chúa của con! Xin làm cho con ngày càng tin tưởng vào Chúa, trông cậy Chúa, và yêu mến Chúa.

Ôi, lễ tưởng niệm cuộc tử nạn của Chúa! Bánh hằng sống ban sự sống cho loài người: Xin hãy làm cho thần trí con tìm được sự sống trong Chúa và luôn cảm nhận được vị ngọt ngào của Chúa!

Lạy Chúa Giêsu, đầy lòng nhân hậu, xin rửa sạch con khỏi sự ô uế của con bằng Máu Thánh của Chúa, một giọt máu của Chúa đủ để cứu thế gian khỏi mọi tội lỗi của nó.

Lạy Chúa Giêsu, Đấng mà con đang chiêm ngưỡng, Đấng đã che mặt đi, con cầu xin Chúa thực hiện ước muốn nồng nàn nhất của con: đó là con được hạnh phúc một ngày kia nhìn thấy Chúa mặt đối mặt trong Vinh quang của Chúa. Amen.”

Toàn bộ đức tin của chúng con phát huy tác dụng khi chúng con tin vào Chúa Giêsu, vào sự hiện diện thực sự của Chúa trong hình bánh và rượu.

Lạy Chúa, con tin chắc vào điều đó. Cảm ơn Chúa đã ban cho chúng con niềm tin! Con tin vào Chúa, trong sự kỳ diệu của tình yêu này, đó là sự hiện diện thực sự của Chúa dưới các hình Thánh Thể, sau khi truyền phép, trên bàn thờ và trong các nhà tạm mà Chúa được dành sẵn. Con tin nhiều hơn nếu con nghe thấy Chúa bằng tai của con, nếu con nhìn thấy Chúa bằng mắt của con, nếu con chạm vào Chúa bằng đôi tay của con. [2]

5. Niềm tin vào Mình Thánh Chúa được thể hiện như thế nào?

Trong thánh lễ, chúng ta bày tỏ niềm tin vào sư hiện diện thực sự của Chúa Kitô dưới hình bánh rượu, bằng cách bái gối hay cúi đầu để tỏ lòng tôn thờ Chúa. "Hội Thánh công giáo luôn tôn thờ Thánh Thể, không chỉ trong mà còn ngoài thánh lễ nữa, bằng cách bảo quản cẩn thận bánh rượu đã truyền phép, đặt Mình Thánh cho các tín hữu tôn thờ cách long trọng, rước kiệu Mình Thánh" (MF 56).

Nhà Tạm dùng để bảo quản Thánh Thể cách xứng hợp, hầu có sẵn Thánh Thể cho bệnh nhân và những người vắng mặt không dự lễ. Để đào sâu đức tin vào sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong bí tích Thánh Thể, Hội Thánh coi trọng việc thinh lặng tôn thờ Chúa đang ngự trong Mình Thánh. Vì thế, Nhà Tạm phải đặt nơi xứng đáng nhất trong nhà thờ, phải được thiết kế như thế nào để nhấn mạnh và biểu lộ sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong bí tích cực thánh này.” (Giáo lý Hội Thánh Công giáo, số 1378-1379).

Suy niệm theo Thánh Josémaria.

Thiên Chúa chúng ta đã quyết định ở lại trong Nhà tạm để nuôi dưỡng chúng ta, củng cố chúng ta, thánh hoá chúng ta, để làm cho nhiệm vụ và nỗ lực của chúng ta trở nên hiệu quả.

Tại sao lại vội vàng khi bạn ở với Chúa! (...). Đừng vội vàng. Đừng vặn vẹo cơ thể, đó là sự nhạo báng, phải quỳ gối cách ngoan ngùy đạo hạnh, (...). Hãy quỳ gối xuống cách thong thả, thành kính, nghiêm cẩn. Và trong khi bạn tôn thờ Chúa Giêsu trong Thánh Thể, hãy nói với Ngài trong lòng: Con thờ lạy Chúa, latens deitas – Thiên Chúa ẩn thân. [3]

Làm sao người ta có thể coi thường phép lạ thường xuyên về sự hiện diện thực sự của Chúa Kitô trong Nhà tạm? Ngài vẫn ở đó, để chúng ta thường xuyên lui tới với Ngài, để chúng ta chiêm ngắm Ngài, để chúng ta quyết tâm bước theo Ngài, là bằng chứng bảo đảm về vinh quang trong tương lai.

6. Viếng Mình Thánh Chúa là gì?

Vì Chúa Kitô hiện diện thực sự, chúng ta phải tôn thờ Thánh Thể. "Khi viếng Thánh Thể, chúng ta bày tỏ lòng biết ơn, dấu chỉ tình yêu và bổn phận thờ lạy Đức Kitô, Chúa chúng ta" (MF) ” (Giáo lý Hội Thánh Công giáo,số 1419).

Đừng bỏ việc viếng Thánh Thể.

- Sau lời cầu nguyện thông thường của bạn, hãy phó thác cho Chúa Giêsu đang thực sự hiện diện trong nhà tạm những lo lắng hàng ngày của bạn. Bạn sẽ có được ánh sáng và lòng can đảm cho đời sống Kitô hữu của bạn.

Phêrô Phạm Văn Trung chuyển ngữ,  từ opusdei.org/fr.

[1] Lời cầu nguyện của Thánh Tôma được trích dẫn trong Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo, số 1381.

[2] Thánh Josémaría, Thư 28-III-1973, số 7, được trích từ Thư của Tổng quyền Opus Dei về Năm Thánh Thể, ngày 6 tháng 10 năm 2004.

[3] Thánh Josémaria, các ghi chép được thực hiện tại một hội nghị, tháng 10 năm 1972. Trích thư của Tổng quyền Opus Dei về Năm Thánh Thể, ngày 6 tháng 10 năm 2004.

 

Thursday, October 22, 2020

 Tại sao chúng ta cần phải ngủ?

Theo thống kê, mỗi người chúng ta dành ra khoảng 1/3 cuộc đời để ngủ.Hoàng đế nước Pháp Napoleon, người sáng lập ra ngành y tá Florence Nightingale, hay bà đầm thép của nước Anh Margaret Thatcher dành khoảng 4 giờ mỗi ngày để ngủ. Đối với nhà phát minh thiên tài Thomas Edison thì đây lại là quãng thời gian lãng phí trong đời người.

Dù sao đi nữa, ngủ vẫn là nhu cầu thiết yếu của con người. Vậy ngủ là gì? Tại sao chúng ta lại ngủ và sẽ ra sao nếu chúng ta không ngủ?

Tại sao chúng ta ngủ?

Tại sao chúng ta cần phải ngủ?
Giấc ngủ có thể phục hồi các tế bào bị tổn hại bởi gốc tự do, sản phẩm của quá trình trao đổi chất

Câu hỏi này đã làm đau đầu các nhà khoa học trong suốt nhiều thế kỷ và cho đến nay, chưa có ai đưa ra được câu trả lời thật sự mà chỉ có 4 giả thuyết được đưa ra. Đầu tiên, một số nhà nghiên cứu lập luận rằng ngủ cho phép cơ thể có thời gian để hồi phục các tế bào bị ảnh hưởng bởi những gốc tự do (tạp chất tạo ra trong quá trình trao đổi chất) sau một ngày hoạt động. Người ta nhận thấy rằng trong lúc ngủ, một số gene sẽ được kích hoạt để thực hiện nhiệm vụ phục hồi này. Giả thuyết này còn lý giải nguyên nhân những loài động vật nhỏ (có tỷ lệ trao đổi chất cao) sẽ cần ngủ nhiều hơn. Điển hình như chuột cần ngủ 20 tiếng/ngày trong khi hươu cao cổ hay voi chỉ cần 2-3 tiếng chợp mắt.

Để điều tra thêm, nhóm nghiên cứu đã phân tích bộ dữ liệu như tổng thời gian ngủ, giấc ngủ mắt chuyển động nhanh (REM), khối lượng chất trắng và kích thước não từ hơn 60 nghiên cứu để xác định xem một trong hai giả thuyết có chiếm ưu thế hay không.

Nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng sự thay đổi lớn về mục đích của giấc ngủ xảy ra khi trẻ 2,4 tuổi. Cho đến thời điểm đó, não của trẻ sơ sinh và trẻ mới biết đi sử dụng giấc ngủ REM để tự tổ chức lại. Sau đó, giấc ngủ mắt không chuyển động nhanh trở nên chiếm ưu thế. Các nhà khoa học tin rằng đó là khi công việc chính của não trong khi ngủ là tự làm sạch và sửa chữa.

Tại sao chúng ta cần phải ngủ?
Giấc ngủ phục hồi ATP, nguồn năng lượng cung cấp cho các tế bào

Giả thuyết thứ 2 là giấc ngủ giúp cơ thể bổ sung năng lượng sau 1 ngày dài tiêu thụ. Một loại nhiên liệu là ATP (phân tử mang năng lượng) sẽ được vận chuyển năng lượng tới nơi cần thiết cung cấp cho tế bào hoạt động trong ngày và tạo thành sản phẩm là adenosine. Lượng ATP giảm, adenosine tăng cao sẽ báo hiệu cho cơ thể biết đã đến lúc đi ngủ. Trong một thí nghiệm chứng minh, các nhà khoa học tại Đại học Harvard đã tiêm một loại thuốc ngăn chặn sự hình thành của adonesine cho cá ngựa vằn và kết quả, chúng đã ngủ ít hơn.

Tại sao chúng ta cần phải ngủ?
Trong khi ngủ, não bộ sẽ được dọn dẹp các kết nối thần kinh bị thừa

Giả thuyết thứ 3 cho rằng giấc ngủ là thời gian để dọn vệ sinh cho não bộ. Vào ban ngày, chúng ta sẽ liên tục học hỏi và hấp thụ thông tin một cách liên tục. Quá trình này bắt chúng ta phải liên tục tạo ra các synapse mới giúp các tế bào thần kinh có thể liên kết với nhau và tín hiệu có thể di chuyển thông suốt. Nhưng không gian trong não là có giới hạn, nên thời gian ngủ là lúc các synapse dư thừa được dọn dẹp và tổ chức lại, giúp não sẵn sàng cho một ngày làm việc tiếp theo.

Tại sao chúng ta cần phải ngủ?
Giấc ngủ sẽ chiếu lại các sự kiện trong ngày, phục vụ việc ghi nhớ

Cuối cùng, trong quá trình ngủ, bộ não của bạn có thể sẽ "chiếu lại" các sự kiện trong ngày giúp việc ghi nhớ và học tập được "cất giữ" lâu hơn vào bộ nhớ. Trong thí nghiệm chứng minh, các nhà nghiên cứu đã theo dõi não bộ của 1 con chuột trong lúc nó chạy trong mê cung. Sau đó, khi con chuột ngủ, họ tiếp tục theo dõi hoạt động của não và nhận thấy rằng những ký ức về mê cung đã được con chuột hồi tưởng lại trong giấc ngủ.

Những nghiên cứu khác cũng đã chỉ ra rằng, chúng ta cần phải ngủ để duy trì các khả năng năng nhận thức, giao tiếp, trí nhớ, tư duy sáng tạo và sự linh hoạt. Nói cách khác, ngủ đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển và bảo vệ của não bộ. Bên cạnh đó, ngủ cũng là thời gian cơ thể tự tái tạo và phục hồi. Hormone tăng trưởng cũng được tiết ra trong quá trình ngủ. Đây là loại hormone quan trọng trong quá trình phát triển của trẻ nhỏ, đồng thời nó cũng có tác dụng kích thích tái tạo lại mô ở người trưởng thành.

Điều gì xảy ra nếu bạn không ngủ?

Tại sao chúng ta cần phải ngủ?

Thiếu ngủ có ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng hoạt động của não bộ và cơ thể chúng ta. Nếu thức suốt một đêm, bạn sẽ có các triệu chứng như khó chịu, đầu óc mất linh hoạt, gắt gỏng và hay quên. Chỉ sau 1 đêmkhông ngủ, mức độ tập trung sẽ suy giảm nghiêm trọng so với lúc bình thường. Nếu kéo dài thói quen này, phần não kiểm soát ngôn ngữ, trí nhớ, nhận thức và cảm xúc sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng hoặc thậm chí là mất khả năng này. Trên thực tế, thức suốt 17 tiếng sẽ khiến hoạt động của não sụt giảm tương tự như ảnh hưởng của 0,05% nồng độ cồn trong máu (tương đương 2 ly rượu). Đây là nồng độ cồn giới hạn cấm lái xe tại Anh.

Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra người thiếu ngủ thường gặp khó khăn trong việc đáp ứng các tình huống cần phản xạ nhanh và không thể đưa ra quyết định hợp lý. Cho đến nay, thiểu ngủ đã dẫn tới nhiều tai nạn nghiêm trọng, mang tầm vóc quốc tế như thảm họa hạt nhân Chernobyl, vụ tràn dầu Exxon Valdez chấn động nước Mỹ, tai nạn điện hạt nhân Three Mile Island hay nổ tàu con thoi Challenger.

Thiếu ngủ không chỉ có tác động lớn tới khả năng nhận thức mà còn ảnh hưởng xấu cho sức khỏe thể chất và tinh thần. Rối loạn giấc ngủ chẳng những có thể dẫn đến ngưng thở vào ban đêm mà còn tạo nên sự căng thẳng và tăng huyết áp vào ban ngày. Các nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng mất ngủ cũng làm tăng nguy cơ béo phì do các hóa chất và kích thích tố kiểm soát sự thèm ăn, tăng cân được tạo ra trong thời gian ngủ.

------------------------

Theo https://khoahoc.tv/